Viết về người lính hôm nay

Thứ Sáu, 31/07/2026 00:18

TRẦN THỊ TÚ NGỌC
 

Thời sinh viên, tôi học chuyên ngành sư phạm tại thành phố Vinh của tỉnh Nghệ An. Đối diện với trường đại học có một bảo tàng quân đội, cách đó một quãng nữa là doanh trại của Quân khu 4. Chiều chiều đi ngang qua đó lên quảng trường hóng mát, chúng tôi thường thấy những người lính mặc quân phục đứng nghiêm bên vọng gác. Ấn tượng đầu tiên về các chiến sĩ là tác phong nghiêm túc và vô cùng chuẩn mực.

Một lần nọ, trên đường từ trung tâm gia sư trở về trong cơn mưa dữ dội, tôi bắt gặp đoàn xe quân sự đang di chuyển trong đêm. Những chiếc xe tải phủ bạt nối đuôi nhau chạy qua con phố vắng, ánh đèn vàng hắt dài trên mặt đường. Phía sau thùng xe để mở, tôi thoáng thấy những người lính ngồi san sát trên băng ghế dọc hai bên. Người dân ven đường nói với nhau rằng do mưa to nên nước sông vùng hạ lưu lên nhanh đột ngột, bộ đội được điều đi gia cố đê sông Lam. Đoàn xe nhanh chóng khuất dần về phía ngoại ô, để lại phía sau tiếng động cơ trầm đục giữa đêm khuya yên tĩnh. Những ngày sau đó, tôi theo dõi bản tin thời tiết với tâm trạng đầy lo âu, nhưng rồi lại cảm thấy vững lòng bởi biết rằng ở đâu đó ngoài kia luôn có người lính làm điểm tựa.

Tốt nghiệp đại học, tôi về công tác ở một trường học trên địa bàn vùng đặc biệt khó khăn. Cũng trong năm đó xảy ra đợt lũ rất kinh hoàng, gần như toàn bộ mấy xã ven sông Ngàn Sâu tỉnh Hà Tĩnh chìm trong nước. Quân đội lập tức điều lực lượng về hỗ trợ. Tôi gặp lại những người lính Quân khu 4 giữa biển nước mênh mông. Trong màn mưa xối xả, họ đã không quản hiểm nguy xông pha vào vùng bị cô lập đưa người dân đến nơi tránh trú an toàn. Khi nước rút, họ ở lại dọn bùn, lau chùi bàn ghế trường học, sửa chữa những mái nhà bị hư hỏng. Cứ tận tụy, lặng lẽ như thế đến khi cuộc sống nhân dân tạm ổn mới trở về đơn vị.

Qua những ngày vật lộn với thiên tai ấy, tình cảm của tôi dành cho người lính ngày càng sâu sắc hơn. Nhiều lần trước trang giấy trắng, tôi muốn viết một điều gì đó về những người lính hôm nay nhưng trăn trở mãi lại dừng bút vì cảm thấy chưa chạm tới điều muốn nói. Cuộc sống và công việc của tôi gắn với môi trường dân sự, quanh mình là lớp học, bảng đen phấn trắng và những câu chuyện đời thường của nghề dạy học. Cũng như nhiều người khác, tất cả những gì tôi biết về người lính vẫn là ấn tượng rất chung về anh Bộ đội Cụ Hồ, về một vẻ đẹp mang tính biểu tượng. Đằng sau màu áo xanh ấy, mỗi người lính vẫn là một cá nhân với những niềm vui, nỗi buồn và những cảnh ngộ riêng, điều mà người đứng ngoài như tôi khó có thể hiểu hết.

Cơ hội đến khi tôi được tham dự trại viết của Tạp chí Văn nghệ Quân đội về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng và người lính. Trong khuôn khổ trại viết, Quân khu 9 đã tạo điều kiện cho các nhà văn thâm nhập thực tế về các đơn vị ở đồng bằng sông Cửu Long. Đối với tôi đây là một vùng đất mới, việc trực tiếp xuống doanh trại quân đội cũng là một trải nghiệm hoàn toàn mới. Đơn vị đầu tiên mà tôi được tiếp xúc là Trung đoàn Bộ binh 20, thuộc Sư đoàn 330, đóng quân trên địa bàn Hà Tiên và Giang Thành của tỉnh Kiên Giang (cũ), nay là tỉnh An Giang.

Thật khó miêu tả hết cảm xúc của tôi khi bước qua cánh cổng doanh trại trung đoàn. Con đường bê tông dẫn vào đơn vị chạy thẳng giữa hai hàng cây giáng hương và sao đen tán lá xanh sẫm. Không khí trong doanh trại mang một vẻ rất đặc trưng của quân đội, yên tĩnh, ngăn nắp, kỉ luật. Cán bộ chiến sĩ đơn vị đón chúng tôi bằng tình cảm nồng hậu và chân thành. Tôi có cảm giác như mình vừa bước vào một thế giới hoàn toàn khác, ngỡ ngàng xúc động hòa vào cuộc sống của những người lính phương Nam.

Khi tham quan nhà truyền thống, nghe tôi cất tiếng nói với chất giọng miền Trung, một cán bộ trung đoàn bước lại gần niềm nở hỏi tôi quê ở đâu. Tôi trả lời rằng mình đến từ Hương Khê, Hà Tĩnh. Nghe vậy, anh khẽ sững lại một chút rồi mỉm cười như vừa nhận ra một sự kết nối thật tình cờ. Bởi vì vào ngày 20 tháng 4 năm 1965, trong những ngày cuộc kháng chiến chống Mĩ bước vào giai đoạn vô cùng ác liệt, Trung đoàn Bộ binh 20 đã được thành lập ngay trên mảnh đất Hương Khê.

Hương Khê chính là nơi chứng kiến giai đoạn đầu vừa huấn huyện vừa chiến đấu của Trung đoàn Bộ binh 20. Trong bối cảnh giặc tăng cường đánh phá miền Bắc sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, cán bộ chiến sĩ đơn vị đã phối hợp với quân dân Hà Tĩnh và Quảng Bình (cũ) chốt giữ những khu vực trọng điểm trên tuyến giao thông chiến lược. Đại đội súng máy cao xạ 12,7mm của đơn vị khi ấy đã lập chiến công bắn rơi ba máy bay phản lực của không quân Mĩ tại cầu La Khê và cầu Roòn, góp phần bảo vệ tuyến vận tải từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ Hương Khê, những người lính trung đoàn đã dấn thân vào chiến trường khói lửa, tham gia chiến đấu trên các mặt trận từ Tây Nguyên tới Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ rồi Tây Nam Bộ. Khi đất nước đã thống nhất, đơn vị tiếp tục đứng chân nơi vùng biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, giữ gìn sự bình yên của vùng đất cuối trời Tổ quốc.

Khoảng cách từ Hương Khê đến Hà Tiên là gần một nghìn bảy trăm cây số. Đó là quãng đường suốt hơn nửa thế kỉ Trung đoàn Bộ binh 20 đã đi qua trong lịch sử của mình. Đó cũng chính là quãng đường mà tôi vừa vượt qua để có mặt ở đây, bắt đầu hành trình viết về người lính. Sự trùng hợp ấy khiến tôi bỗng cảm thấy như có một sợi dây vô hình đang nối hai miền đất lại với nhau. Với cá nhân tôi, trong sự gặp gỡ tình cờ này, tôi hiểu rằng câu chuyện về người lính mà mình muốn viết từ lâu nay không còn là điều gì xa vời nữa.

Những ngày sau đó, chúng tôi được tạo điều kiện theo chân các tiểu đội trong hầu hết sinh hoạt thường ngày của người lính. Buổi sáng ra thao trường cùng anh em chiến sĩ, đứng trên bãi tập nghe tiếng hô vang giữa nắng cháy của mùa khô, đồng hành với những bước chạy bền bỉ trên con đường sỏi đá, quan sát những động tác vượt vật cản lặp đi lặp lại đến khi thuần thục. Buổi xế chiều, khi nhịp huấn luyện tạm lắng, chúng tôi ngồi trò chuyện với các chiến sĩ trong khoảng sân nhỏ trước dãy nhà ở. Câu chuyện mở ra từ kí ức về những miền quê bên sông Tiền sông Hậu, về ngày đầu nhập ngũ còn bỡ ngỡ, về nỗi nhớ nhà trong đêm trực gác, về những dự định rất bình thường sau khi hoàn thành nghĩa vụ. Buổi tối, chúng tôi tham gia phòng sinh hoạt chung, cùng các chiến sĩ thể hiện màn đờn ca tài tử, cải lương đầy ngẫu hứng. Không khí ấm áp và gần gũi đến mức tôi nhiều lần quên rằng mình chỉ là một người khách ghé qua trong một chuyến thực tế ngắn ngày.

Điều thú vị là nhờ thời gian ở trong doanh trại, tôi đã có một kho tàng ngôn ngữ mà trước đó, nếu chỉ ngồi bên bàn viết có lẽ khó lòng chạm tới. Đó là những phương ngữ miền Nam lần đầu tiên tôi được nghe, những thuật ngữ quân sự lần đầu tiên tôi được biết. Với các nhà văn trong quân đội, những buổi giới thiệu về lịch sử đơn vị hay tìm hiểu cách đánh của bộ đội có lẽ là điều rất quen thuộc. Nhưng với một người viết chưa từng sống đời quân ngũ như tôi, đó lại là một trải nghiệm hiếm có. Lần đầu tiên tôi được nghe giải thích cặn kẽ thế nào là đánh vận động, thế nào là đánh công kiên, hay việc mở đột phá khẩu trên một tuyến phòng ngự được tổ chức ra sao, các loại vũ khí hiệp đồng tác chiến như thế nào cho hiệu quả...

Dĩ nhiên, trong thời đại công nghệ, những khái niệm ấy hoàn toàn có thể tra cứu dễ dàng trên mạng. Nhưng kiến thức trên màn hình không thể nào so sánh được với cảm giác đứng trước một sa bàn chiến dịch, nhìn những kí hiệu trận địa, đường tiến công, rồi nghe cán bộ trung đoàn chậm rãi lần theo từng mũi tiến quân mà kể lại diễn biến của trận đánh. Khi ấy, lịch sử hiện ra như một câu chuyện sống động, người nghe đi theo từng bước chuyển của chiến dịch, cảm xúc cũng thay đổi theo. Tâm trạng của tôi từ chỗ hồi hộp, lo lắng khi thế trận còn giằng co, đến căng thẳng ở những thời khắc quyết định, cuối cùng là sự vỡ òa trước nghệ thuật quân sự linh hoạt và sáng tạo của bộ đội ta.

Chính từ sự tận tình, cởi mở và tin cậy của anh em chiến sĩ dành cho các nhà văn, nhiều điều tưởng như rất bình thường của đời lính bỗng trở thành chi tiết giàu sức gợi cho trang viết của tôi. Tôi hiểu rằng phía sau tư liệu có được từ chuyến đi này còn là một điều quý giá hơn, đó là sự đồng cảm giữa những người cầm bút và những người lính đang ngày ngày lặng lẽ canh giữ sự bình yên của Tổ quốc. Để rồi sau này, khi viết truyện ngắn Ngụ ngôn tháng Tư hay Gió mỗi mùa vẫn thức mà bối cảnh là cuộc sống và chiến đấu của những người lính phương Nam, tôi như được sống lại trong không khí ấm áp của những người lính trung đoàn, chữ nghĩa cứ thế hiện lên trên trang viết tự nhiên như dòng chảy.

Sau lần chạm ngõ đầu tiên với quân đội từ Trung đoàn Bộ binh 20, tôi có may mắn được đến với nhiều đơn vị khác trên khắp mọi miền đất nước. Đó là các đồn biên phòng trên tuyến biên giới đất liền và ven biển, các lữ đoàn vận tải đường thủy và đường bộ, các đơn vị công binh, phòng không, không quân… Thực tế cuộc sống, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu muôn màu muôn vẻ ấy đã mở ra trước mắt tôi một thế giới đời lính sinh động và phong phú hơn rất nhiều so với những hình dung ban đầu. Ở mỗi nơi tôi đặt chân đến, người lính lại hiện lên với những dáng vẻ khác nhau. Tôi nhớ màu da sạm nắng của những chiến sĩ Lữ đoàn Vận tải 659 trên sông Cửu Long, nhớ ánh mắt tập trung cao độ hướng lên bầu trời của người lính Lữ đoàn Phòng không 241 trong buổi huấn luyện chống mục tiêu bay thấp, nhớ tiếng sáo của người chiến sĩ radar cất lên nơi trạm Đèo Ngang đầy sóng gió. Trang viết của tôi về người lính hôm nay cứ thế đầy đặn thêm theo từng bước đường rong ruổi.

Năm 2022, tôi xuất bản tập truyện ngắn Lặng yên sau cơn mưa với 12 truyện ngắn như là những góc nhìn khác nhau về người lính trong thời bình. Tiếng rền của đá viết về các đơn vị công binh đang ngày đêm rà phá bom mìn sót lại sau chiến tranh biên giới phía Bắc. Trên thảo nguyên xa thẳm khắc họa hình tượng của các chiến sĩ trong lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam hoạt động tại Nam Sudan. Mưa qua những cánh rừng Bùa yêu là những câu chuyện về người lính biên phòng. Ngụ ngôn tháng Tư có nhân vật chính là một nhà báo trong quân đội… Nguyên mẫu của người lính trong các tác phẩm đó chính là các cán bộ, chiến sĩ mà tôi từng gặp gỡ hoặc từng được nghe kể về câu chuyện của họ trong những chuyến đi thực tế tại các đơn vị. Với tôi, người lính hôm nay vẫn vẹn nguyên phẩm chất kiên cường, anh dũng vốn đã trở thành truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng bên cạnh tầm vóc đẹp đẽ, vững vàng ấy, họ còn là những con người rất đỗi đời thường, với những trăn trở riêng, những tình yêu xa cách, những nỗi đau, những giọt nước mắt. Tôi vô cùng biết ơn những ngày tháng gắn bó với các chiến sĩ đã giúp bản thân phần nào thấu hiểu tâm tư của người lính, để rồi có thể viết về họ bằng tất cả sự chân thành.

Tập truyện ngắn Lặng yên sau cơn mưa của tôi đã vinh dự được trao giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm của Bộ Quốc phòng giai đoạn 2020 - 2025. Với riêng tôi, phần thưởng quý giá nhất là qua những trang viết ấy, tôi đã có cơ hội được bày tỏ lòng tri ân của mình đối với những người lính mà tôi từng gặp gỡ, từng lắng nghe và từng được họ tin cậy chia sẻ. Chính họ giúp tôi hiểu rằng phía sau màu áo lính là biết bao câu chuyện lặng thầm, mỗi câu chuyện ấy đều xứng đáng được gìn giữ bằng tất cả sự trân trọng của người viết và người đọc.

T.T.T.N

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)