Văn hóa - Nghệ thuật: Nguồn lực mềm chiến lược bồi đắp bản lĩnh người chiến sĩ thời đại mới

Chủ Nhật, 07/06/2026 00:54

. LÊ VĂN BẮC
 

Trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn hiện diện như một mạch nguồn tinh thần bền bỉ, hun đúc khí phách, ý chí và bản lĩnh của con người Việt Nam trước mọi thử thách lịch sử. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, văn hóa phản ánh, kiến tạo hiện thực, góp phần hình thành sức mạnh tinh thần làm nên những thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Bước vào thời đại mới, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, đặc biệt là sự gia tăng của các hình thái chiến tranh và thách thức an ninh phi truyền thống, sức mạnh của lực lượng vũ trang không còn thuần túy dựa vào chỉ số kĩ thuật hay ưu thế hỏa lực, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nhân tố chính trị - tinh thần. Trong bối cảnh đó, văn hóa, nghệ thuật (VHNT) được xác lập như một nguồn lực mềm mang tính chiến lược, như một “động lực nội sinh” đặc biệt, bồi đắp bản lĩnh, niềm tin và sức bền tinh thần cho người chiến sĩ, bảo đảm cho quân đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong lí luận quân sự kinh điển, sức mạnh của một quân đội thường được tính toán dựa trên tiềm lực vật chất, trang bị hỏa lực và quân số. Tuy nhiên, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự thay đổi của môi trường địa chính trị toàn cầu vào giữa thập niên thứ ba của thế kỉ XXI, khái niệm sức mạnh quân sự đã được mở rộng đáng kể. Học thuyết quân sự hiện đại nhấn mạnh đến khái niệm “Sức mạnh thông minh” (Smart Power) – sự kết hợp biện chứng giữa sức mạnh cứng (vũ khí, công nghệ) và sức mạnh mềm (văn hóa, tư tưởng, tinh thần).

Một tiết mục trong chương trình “Những câu thơ viết nên hình đất nước” do Tạp chí Văn nghệ Quân đội chủ trì tổ chức tối 14.8.2025 tại Hà Nội. Ảnh: Báo QĐND

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, việc xác lập văn hóa là một nguồn lực mềm chiến lược không chỉ là sự tiếp cận các xu thế mới của thế giới mà quan trọng hơn, đó là sự kế thừa và phát triển tư duy quân sự đặc sắc của dân tộc: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Trong thời đại mới, bản lĩnh người chiến sĩ không chỉ được tôi luyện qua thao trường, bãi tập mà còn phải được bồi đắp bằng nền tảng VHNT sâu sắc. VHNT lúc này đóng vai trò là “hệ điều hành tinh thần”, quyết định hiệu quả sử dụng sức mạnh vật chất và khả năng đứng vững của quân đội trước các thách thức an ninh phi truyền thống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng tư tưởng cho việc nhìn nhận văn hóa như một lực lượng tinh thần đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng. Quan niệm “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” không chỉ thể hiện nhận thức sâu sắc về vai trò định hướng của văn hóa đối với xã hội, mà còn hàm chứa tư duy chiến lược về xây dựng con người – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.

Trong giai đoạn hiện nay, khi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong điều kiện hòa bình nhưng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, khi chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin và các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, yêu cầu xây dựng bản lĩnh người chiến sĩ không chỉ dừng lại ở lí tưởng và đạo đức truyền thống, mà còn gắn chặt với năng lực thích ứng, sức chịu đựng và khả năng tự bảo vệ mình trước những tác động tinh vi về tư tưởng, tâm lí và văn hóa. Chính trong bối cảnh đó, văn hóa, nghệ thuật được đặt vào vị thế của một nguồn lực mềm mang tính chiến lược, trực tiếp tham gia củng cố sức mạnh tinh thần và sức đề kháng tư tưởng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Xét dưới góc độ lí luận khoa học quân sự, VHNT trong môi trường quân ngũ không tồn tại như một lĩnh vực giải trí biệt lập, mà là một thành tố hữu cơ, một “vũ khí đặc biệt” trong cấu trúc sức mạnh tổng hợp.

VHNT là phương thức lan tỏa và bảo tồn tính chính danh. Một quân đội mạnh phải là một quân đội có lý tưởng và tính chính nghĩa cao cả. VHNT chính là công cụ sắc bén để truyền tải các giá trị cốt lõi của Đảng, của dân tộc vào đời sống tinh thần quân đội. Thông qua các tác phẩm nghệ thuật, lí tưởng cách mạng không còn là những khái niệm trừu tượng mà trở nên sống động, gần gũi, tạo nên sự hấp dẫn và sức thuyết phục mạnh mẽ đối với quân nhân.

Bên cạnh đó, VHNT là nguồn lực nội sinh tạo ra ưu thế tinh thần. Lịch sử các cuộc chiến tranh cho thấy, khi hai lực lượng có tương quan về vũ khí ngang nhau, thì yếu tố quyết định thắng bại chính là tinh thần chiến đấu. VHNT tạo ra một “trường lực” tinh thần bền bỉ, giúp người chiến sĩ duy trì niềm tin và ý chí quyết chiến. Đây chính là nguồn lực mà đối phương khó có thể đo lường hay tiêu diệt bằng vũ khí thông thường.

Tuy nhiên, vị thế chiến lược này chỉ có thể được hiện thực hóa khi chúng ta hiểu rõ VHNT đã “can thiệp” vào tâm lí quân nhân như thế nào. Nói cách khác, việc nghiên cứu các cơ chế tác động sâu của VHNT đối với bản lĩnh người chiến sĩ là mắt xích quan trọng để tối ưu hóa nguồn lực này. Bởi lẽ, bản lĩnh người chiến sĩ là một thực thể tổng hợp bao gồm nhận thức chính trị, chuẩn mực đạo đức và sức bền tâm lí. VHNT tác động vào cấu trúc này thông qua các cơ chế khoa học đặc thù .

Đó là cơ chế thẩm thấu và nội tâm hóa giá trị. Sự khác biệt căn bản của VHNT so với các hình thức giáo dục chính trị khác là khả năng tác động qua con đường tình cảm để đi đến lí trí. Một bài hát hay, một bộ phim xúc động về đề tài lực lượng vũ trang có khả năng khơi gợi lòng tự hào dân tộc mạnh mẽ hơn nhiều bài giảng lí thuyết đơn thuần. Quá trình này giúp chuyển hóa các chuẩn mực của tổ chức thành niềm tin nội tâm của cá nhân. Khi người chiến sĩ đã nội tâm hóa các giá trị VHNT cách mạng, họ sẽ có khả năng tự định hướng hành động, giữ vững lòng trung thành ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất mà không cần sự giám sát thường xuyên.

Bên cạnh đó, cần nói đến cơ chế điều tiết tâm lí và bồi đắp “Sức chiến đấu”. Tâm lí học quân sự chỉ ra rằng, môi trường quân ngũ với tính kỷ luật thép và áp lực sẵn sàng chiến đấu thường xuyên dễ gây ra sự căng thẳng thần kinh. Ở đây, VHNT cung cấp cơ chế giải tỏa (catharsis), giúp quân nhân cân bằng lại trạng thái tâm lí. Việc tham gia các hoạt động văn hóa giúp giải phóng năng lượng tiêu cực, tạo ra trạng thái lạc quan. Đồng thời, đời sống văn hóa phong phú nuôi dưỡng một thế giới nội tâm sâu sắc, giúp người chiến sĩ có khả năng tự phục hồi (resilience) sau những sang chấn hoặc áp lực cường độ cao trên thao trường.

Tiếp theo là cơ chế tạo lập “lá chắn tư tưởng” và kháng thể văn hóa. Trong bối cảnh chiến tranh thông tin (Information Warfare), bộ não của người quân nhân chính là trận địa mà kẻ thù muốn chiếm lĩnh đầu tiên. VHNT trang bị phông văn hóa và năng lực thẩm mĩ, giúp quân nhân nhận diện được cái xấu, cái phi lí dưới những hình thức ngụy trang tinh vi. Đây là cơ chế bảo vệ từ xa, giúp trận địa tư tưởng của quân đội luôn vững chắc trước các luồng thông tin xuyên tạc, giả mạo.

Mặc dù các cơ chế trên mang tính lí luận bền vững, nhưng thực tiễn đang phải chịu áp lực rất lớn từ môi trường bên ngoài, đang phải đối mặt với một môi trường an ninh phi truyền thống phức tạp, những biến động, thách thức của kỉ nguyên số, sự phát triển vũ bão của các nền tảng xã hội, lối sống thực dụng, phản chuẩn đang tấn công trực diện vào hệ giá trị “Bộ đội Cụ Hồ”. Mặt khác, thế hệ chiến sĩ trẻ hiện nay, số đông có thói quen tiếp nhận thông tin nhanh nhưng thiếu tính chọn lọc trên mạng xã hội, cùng với sự tiếp nhận thụ động các sản phẩm giải trí lệch chuẩn có thể dẫn đến sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng quân nhân. Trước những thách thức đó, nếu VHNT quân đội vẫn giữ cách làm cũ, xơ cứng, sẽ dẫn đến “độ trễ” về nhận thức và sự đứt gãy trong việc kế thừa các giá trị truyền thống.

Từ những nhận diện về thách thức nêu trên, trước yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải chuyển hóa các ưu thế của VHNT thành hành động thực tiễn. Việc xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ mang tính chiến lược chính là câu trả lời cho bài toán giữ vững bản lĩnh người chiến sĩ trong tình hình mới.

Một là, nâng cao nhận thức, thống nhất tư duy về vị trí chiến lược của VHNT. Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định VHNT không đơn thuần là hình thức giải trí hay phong trào bề nổi, mà là một thành tố hữu cơ cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc phòng. Nhận thức này phải được thấm nhuần từ cấp ủy, chỉ huy đến từng chiến sĩ; xác định VHNT chính là “vũ khí đặc biệt” trực tiếp nhào nặn bản lĩnh chính trị, sức bền tinh thần và nhân cách nghề nghiệp của người quân nhân. Chỉ khi văn hóa được đặt đúng vị trí trong tư duy lãnh đạo, các giải pháp mới có cơ sở triển khai hiệu quả và bền vững.

Hai là, xây dựng và lan tỏa hệ giá trị phẩm chất người chiến sĩ thời đại mới. Đây là giải pháp nền tảng, tạo chuẩn mực định hướng cho nhận thức và hành vi quân nhân. Hệ giá trị này phải là sự kết tinh giữa truyền thống dân tộc, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” với những yêu cầu mới của thời đại. Tại đây, VHNT đóng vai trò “cầu nối” giúp chuyển hóa các chuẩn mực lí luận khô khan thành những hình tượng nghệ thuật sinh động, giàu cảm xúc. Thông qua các tác phẩm có chất lượng, hình tượng người chiến sĩ được khắc họa chân thực, nhân văn, giúp lý tưởng cách mạng thẩm thấu tự nhiên vào đời sống tâm hồn bộ đội.

Ba là, kiến tạo môi trường văn hóa lành mạnh, chính quy tại đơn vị. Môi trường văn hóa là “luyện kim sàng” để VHNT bồi đắp bản lĩnh chiến sĩ. Cần xây dựng không gian sống thống nhất giữa kỉ luật nghiêm minh và đời sống tinh thần phong phú. Việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phải đi vào thực chất, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ, gắn kết tình đồng chí, đồng đội và rèn luyện lối sống mẫu mực. Một môi trường văn hóa tích cực chính là “màng lọc” tự nhiên giúp quân nhân cân bằng tâm lí, tăng cường sức đề kháng trước những tác động tiêu cực từ mặt trái xã hội và không gian mạng.

Bốn là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động VHNT thích ứng với kỉ nguyên số. Trong bối cảnh môi trường số tác động mạnh mẽ đến tư duy quân nhân, VHNT cần chủ động đổi mới để chiếm lĩnh trận địa tư tưởng. Không chỉ nâng cao tính hấp dẫn, các sản phẩm VHNT phải thích ứng với thị hiếu và phương thức tiếp nhận của thế hệ chiến sĩ trẻ (Gen Z). Việc phát triển các nền tảng văn hóa số, nghệ thuật đa phương tiện vừa là cách tiếp cận hiệu quả, vừa tạo ra “sức đề kháng văn hóa” giúp quân nhân tự miễn dịch trước các thông tin độc hại, lệch chuẩn trong môi trường thông tin đa chiều.

Năm là, coi đầu tư cho VHNT là đầu tư cho sự phát triển bền vững của Quân đội. Đây là giải pháp có tính thượng tầng, khẳng định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho nguồn lực con người. Cần có cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa có bản lĩnh vững vàng, trình độ chuyên môn sâu và am hiểu đời sống quân sự. Đồng thời, cần tạo điều kiện tối ưu cho các hoạt động sáng tạo, phổ biến VHNT gắn liền với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Văn hóa phải thực sự đồng hành cùng nhịp đập của thao trường, trở thành điểm tựa vững chắc cho sức mạnh chiến đấu của toàn quân.

L.V.B

Tài liệu tham khảo:

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021 (Đặc biệt là nội dung về xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam và sức mạnh mềm văn hóa).

2. Nghị quyết số 847-NQ/QƯTƯ ngày 28/12/2021 về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

3. Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971.

4. Joseph S. Nye: Sức mạnh mềm: Các phương thức để thành công trong chính trị thế giới, Nxb. Tri thức (Bản dịch tiếng Việt).

5. Nguyễn Huy Hiệu: Văn hóa quân sự Việt Nam - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2013.

6. Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng: Xây dựng quân đội về chính trị trong tình hình mới - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020.

7. Tạ Ngọc Tấn: Truyền thông đại chúng và an ninh tư tưởng văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)