Người dạy văn là nghệ sĩ trên bục giảng

Thứ Hai, 05/01/2026 10:00

Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo, “một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy”. Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có những thay đổi lớn ở cả tầm vĩ mô (sự ra đời của Luật Giáo dục 2019, thay đổi sách giáo khoa, sắp xếp cơ cấu lại các trường học trên phạm vi cả nước) lẫn vi mô (sự đầu tư cho cơ sở vật chất, đổi mới phương thức thi cử...) Những thay đổi này đã đưa diện mạo giáo dục Việt Nam sang một trang mới. Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã có cuộc trò chuyện với PGS.TS Bùi Thanh Truyền - Trưởng khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh về một số vấn đề xoay quanh giáo dục và việc đào tạo sinh viên sư phạm ngữ văn.

PGS.TS Bùi Thanh Truyền

- Trong những năm gần đây, nghề giáo nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước. Nhiều chính sách được ban hành kịp thời giúp nâng cao vị thế, hỗ trợ cải thiện đời sống cho các thầy cô giáo. Luật Nhà giáo 2025 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026) đã quy định lương giáo viên cao nhất trong hệ thống hành chính sự nghiệp; các sinh viên sư phạm được hỗ trợ sinh hoạt phí hằng tháng... Là một giảng viên nhiều năm làm công tác giảng dạy sinh viên ngành sư phạm, ông đánh giá thế nào về những thay đổi này, thưa PGS.TS Bùi Thanh Truyền?

+ Những thay đổi mang tầm chiến lược của Đảng, Nhà nước đối với ngành giáo dục trong thời gian qua theo tôi là rất lạc quan, tích cực, góp phần khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, xác tín truyền thống “lương sư hưng quốc”. Đây là một tín hiệu vui của ngành giáo dục và toàn thể thầy cô giáo, các sinh viên sư phạm cả nước. Sau bao nhiêu năm, cuối cùng ngành giáo dục cũng đã được “định vị” đúng với vị thế, vai trò của mình. Điểm chuẩn duy trì ở mức rất cao trong nhiều năm liên tục trở lại đây cho thấy tình trạng “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” đã trở thành quá vãng. Việc hỗ trợ sinh hoạt phí (dù ở mức độ cơ bản) đối với các sinh viên sư phạm là một việc làm đầy ý nghĩa trong thời buổi vật giá leo thang như hiện nay. Với những học sinh con nhà nghèo học giỏi, sự hỗ trợ này là cánh cửa để các em lập thân, lập nghiệp, cống hiến cho ngành giáo dục nói riêng, đất nước nói chung. Bên cạnh nỗ lực nâng cao vị thế xã hội và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ nhà giáo, chủ trương này thể hiện rõ tính nhân văn, thiết thực: trao cơ hội để người trẻ đạt được ước mơ, lí tưởng của mình.

- Mặc dù có những thay đổi tích cực như thế, nhưng nói một cách công bằng thì nghề giáo là một trong những nghề “nguy hiểm” nhất ở nước ta. Các thầy cô hằng ngày phải đối diện với vô số áp lực, định kiến (thậm chí là cả sự xúc phạm, bạo lực) từ xã hội, phụ huynh, học sinh... trong công tác giảng dạy, thi cử. Thực tế này khiến nhiều giáo viên chán nghề, bỏ nghề, dẫn đến tình trạng thiếu hụt giáo viên đến mức trầm trọng những năm qua như đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ông có thể chia sẻ về điều này?

+ Như trên tôi đã chia sẻ, hiện nay, khâu “đầu vào” chúng ta đã có những chuyển biến tích cực, nhưng “đầu ra” - tức cuộc sống dài lâu của thầy cô giáo - thì chưa, thậm chí còn thả nổi. Tình trạng “đầu voi đuôi chuột” là điều dễ nhận thấy. Thách thức, áp lực, rủi ro trong công việc, cả về thể chất lẫn tinh thần, những bất an, thương tổn đến từ nhiều phía (xã hội, phụ huynh và cả học sinh), đồng lương thua kém so với mặt bằng chung… dẫn đến gam màu ảm đạm trong giáo dục hiện nay, ở tất cả các cấp học. Hình ảnh, vị thế của giáo viên, sự trang nghiêm của học đường, do đó, cũng bệ rạc, giảm giá. Với người thầy, một khi danh dự và niềm tin nghề nghiệp bị tổn thương, suy giảm thì khó đòi hỏi ở họ sự thủy chung, tận hiến với nghề. Điều kiện để tái sản xuất sức lao động, cơ hội thăng tiến, động lực phát triển... của nghề cao quý này chưa thật tốt bằng những ngành nghề khác. Tình trạng giáo viên bỏ nghề hoặc chuyển nghề không chỉ là hệ quả cá nhân mà là vấn đề xã hội cần nhìn nhận nghiêm túc bằng những chính sách, giải pháp kịp thời, sát hợp. Rất may là hiện nay Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận ra những vấn đề trên và có những chủ trương, giải pháp. Hi vọng trong tương lai, những thực trạng đáng buồn trên sẽ chấm dứt. Các thầy cô yên tâm cống hiến với nghề và giáo dục vẫn nhận được sự quan tâm của toàn xã hội nhưng không còn là vấn đề “nóng” nữa.

PGS.TS Bùi Thanh Truyền tham dự hội thảo khoa học quốc tế về đề tài chiến tranh cách mạng và hình tượng bộ đội cụ Hồ do Tạp chí văn nghệ Quân đội phối hợp với Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức

- Vâng, đã trót theo nghiệp “gõ đầu trẻ” thì người giáo viên phải chấp nhận “sinh nghề tử nghiệp”, vượt qua được những khó khăn đó. Xin được trở lại câu chuyện với công việc chuyên môn của ông. Là người làm công tác giảng dạy, đào tạo sinh viên sư phạm ngữ văn nhiều năm, theo ông một người giáo viên nói chung, giáo viên dạy ngữ văn phổ thông nói riêng cần hình thành những phẩm chất, năng lực gì trong thời đại ngày nay?

+ Ngoài những phẩm chất, năng lực chung (trách nhiệm, trung thực, yêu nghề, nhân ái, sẵn sàng đổi mới; giảng dạy, giao tiếp, truyền cảm hứng, thích ứng, hội nhập…) và năng lực chuyên biệt (ngôn ngữ, văn học), người học văn để trở thành giáo viên phổ thông, giảng viên cao đẳng, đại học cần có sự trăn trở, nhạy cảm trước hiện thực cuộc sống, con người. Trái tim không rung cảm chân thật trước bao niềm vui, nỗi buồn của nhân tâm thế sự thì khó tạo được ấn tượng, cảm hứng trong dạy và học văn. Những năm gần đây, nhiều học sinh giỏi quốc gia, học sinh đoạt giải cao cấp tỉnh, thành phố, thủ khoa kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông… đã chọn vào sư phạm ngữ văn khiến điểm chuẩn tăng vọt. Thực tế này là tín hiệu đáng mừng bởi thầy cô đã truyền được cảm hứng, niềm tin cho học sinh để các em biết nuôi dưỡng, chăm chút cho sự giàu có tinh thần của bản thân và thế hệ tiếp theo.

- Để đạt được những phẩm chất, năng lực như ông vừa chia sẻ thì việc đào tạo giáo viên ngữ văn ở bậc đại học hiện nay cần phải có những thay đổi về chiến lược, chương trình đào tạo? Mặt khác, hiện nay chương trình ngữ văn phổ thông đã có nhiều thay đổi so với trước kia: việc dạy chuyển từ kiểm tra kiến thức sang hình thành kĩ năng; việc dạy theo tiến trình văn học sử được thay bằng đặc trưng thể loại; việc kiểm tra, đánh giá không dựa vào ngữ liệu trong sách giáo khoa... Những thay đổi này tác động như thế nào đến việc đào tạo sinh viên ngành sư phạm ngữ văn, thưa PGS.TS Bùi Thanh Truyền?

+ Chủ trương và thực tiễn đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, trong đó có môn ngữ văn, tái khẳng định chức năng, vị thế “máy cái” của các trường sư phạm: đồng hành, dẫn dắt, hỗ trợ trường phổ thông, không phải bên lề, bám đuôi thực tiễn sinh động ở phổ thông như trước. Chương trình, nội dung, phương pháp… dạy học ở đại học đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại, linh hoạt: cập nhật tác giả, tác phẩm, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu mới mẻ, hiệu quả của thế giới và Việt Nam, tăng cường thực hành và trải nghiệm nghề. Việc ứng dụng AI trong dạy học, nghiên cứu văn học, kiểm tra, đánh giá… đã được chú trọng. Theo đó, giảng viên đã chuyển từ “đào tạo người dạy chữ” sang “đào tạo người dẫn dắt sự học”, cùng với cung cấp tri thức là trao truyền cảm hứng cho sinh viên.

PGS.TS Bùi Thanh Truyền tham dự hội thảo về chương trình ngữ văn 2018

- Hiện nhiều sinh viên ngữ văn đi học lấy chứng chỉ sư phạm (trong vòng 6 đến 12 tháng) để nuôi ước mơ đứng lớp giảng dạy. Những giáo viên thuộc dạng này có điểm gì khác biệt so với giáo viên tốt nghiệp sư phạm ngữ văn chính quy thưa ông?

+ Chỉ tiêu vào các ngành đào tạo giáo viên không được dồi dào như các ngành khác ngoài sư phạm, nhất là đối với các tỉnh đào tạo giáo viên theo ngân sách địa phương (Nghị định 116/2020/NĐ-CP; Nghị định số 60/2025/NĐ-CP). Nhiều ngành, kể cả những ngành rất “hot”, chỉ tuyển từ 20 - 40 chỉ tiêu mỗi năm (năm 2025 ngành sư phạm ngữ văn của Đại học Thủ đô có 30 chỉ tiêu tuyển sinh, ngành sư phạm ngữ văn của Đại học Hồng Đức có 20 chỉ tiêu tuyển sinh...) Cánh cửa hẹp đó khiến nhiều thí sinh phải đi đường vòng: chấp nhận học những ngành gần (như văn học, văn học ứng dụng, ngôn ngữ học, vật lí học, hóa học, toán học, sinh học, tin học, địa lí…) rồi qua hình thức học bổ túc các chứng chỉ sư phạm (từ 6 - 12 tháng) và cả học lên cao học nữa, để được đi dạy. Trong tình trạng thiếu giáo viên hiện nay, giải pháp “chữa cháy” đó phù hợp. Thực tế đã chứng minh nhiều giáo viên đi theo đường vòng ấy đã hoàn thành “xuất sắc nhiệm vụ” giảng dạy, được nhà trường, phụ huynh và học sinh tin tưởng, yêu mến. Nhiều giáo viên đoạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp thành phố, được giao bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cấp trường, cấp tỉnh, được mời tham gia ra đề thi... Nhưng tương lai, giáo viên nói chung, trong đó có giáo viên ngữ văn, cần được đào tạo quy củ, bài bản, đáp ứng tốt các mốc chuẩn. Chưa kể tri thức, phương pháp dạy học, môi trường trải nghiệm nghề, riêng tâm thế, mục đích từ lúc bước chân vào ngưỡng cửa đại học của sinh viên đã rất quan trọng để quyết định kết quả học tập, quyết định con đường tương lai của họ. “Chọn đúng người - Học đúng nghề - Làm đúng việc” là nhân tố quan trọng trong đào tạo giáo viên, giúp ngành giáo dục hoàn thành sứ mạng của mình.

- Qua tiếp xúc với một số sinh viên ngữ văn và sư phạm ngữ văn hiện nay, tôi nhận thấy do ảnh hưởng của thời đại nghe nhìn, nhiều bạn sinh viên rất lười đọc sách (cả tác phẩm lẫn sách chuyên ngành). Có bạn sinh viên thậm chí còn mạnh dạn tuyên bố rằng mình đã xem giới thiệu phim chuyển thể từ một tác phẩm văn học nổi tiếng là đủ rồi (không cần xem cả bộ phim lẫn không cần đọc tác phẩm). Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến công tác giảng dạy học sinh sau này. Theo ông, đâu là giải pháp để chữa trị tận gốc căn bệnh nguy hiểm này?

+ Một yêu cầu tối quan trọng của người học văn, dạy văn là: đọc, đọc nữa, đọc mãi. Đáng buồn là hiện nay một số sinh viên, giáo viên, vì nhiều lí do (công việc, báo mạng, văn hóa nghe nhìn…) đã xem nhẹ điều này, dẫn đến mai một, lười đọc sách. Cơ hội làm giàu, làm mới bản thân, mới hóa nội dung, phương pháp dạy và học đã bị xem nhẹ, bị bỏ qua. Hệ quả là, không ít người mãi giữ lối học, cách dạy mòn cũ kiểu hớt ngọn, mất gốc. Điều này dễ gây ra những hệ lụy nghiêm trọng. Một giáo viên ngữ văn tương lai mà lười đọc, không chịu đọc thì làm sao có thể truyền cảm hứng đọc, tình yêu văn chương, biết lựa chọn những tác phẩm bổ ích cho học sinh, biết lựa chọn các dữ liệu phù hợp để giảng dạy và ra đề thi... Hệ quả là học sinh đã lười, chán, sợ học môn văn thì sẽ càng lười, chán, sợ hơn, sẽ học cầm chừng, đối phó, học kiểu để đi thi cho xong chứ không thấu cảm được những giá trị đích thực mà văn chương mang lại. Một liều “thuốc đắng” để khắc chế căn bệnh lười - ngại - sợ đọc này là phải hiện thực hóa chủ trương, yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá dạy văn, học văn ở phổ thông, đại học: thượng tôn sự linh hoạt, tự do sáng tạo của người học, không bắt buộc học sinh, sinh viên phải rập khuôn theo các văn bản trong sách giáo khoa, không “nhai lại” kiến thức của thầy cô. Chủ trương “Mỗi tuần một cuốn sách” có thể là hơi khó trong thời buổi lên ngôi của văn hóa nghe nhìn, nhưng với người học văn, dạy văn cần xem là thử thách để vượt qua, để hoàn thiện, phát triển chính bản thân.

- Vâng việc đọc của sinh viên ngữ văn ngày nay quả là một nan đề. Tình trạng này đã có từ lâu và càng ngày càng trầm trọng. Tôi nhớ hồi học đại học, để khắc phục tình trạng này, các thầy cô khoa Văn học - Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội thường xuyên bắt thi vấn đáp để hỏi kĩ về tác phẩm vì nếu thi viết thì sinh viên chỉ cần đọc tóm tắt, khái lược cũng có thể “bịa” được. Xin được trở lại với cuộc trò chuyện của chúng ta, trong thời đại công nghệ số, kỉ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI) như hiện nay, việc các giáo viên nói chung, giáo viên ngữ văn nói riêng (đặc biệt là các giáo viên trẻ) thường sử dụng AI trong việc soạn giáo án, giảng dạy là một xu thế không thể đảo ngược. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào, thưa PGS.TS Bùi Thanh Truyền?

+ Sử dụng AI hỗ trợ trong dạy học đang là giải pháp quan trọng, hiệu quả hiện nay. Giáo viên ngữ văn với vai trò trang bị tri thức, kĩ năng về ngôn ngữ, văn học cho người học càng không thể đứng ngoài cuộc. Nó góp phần giảm thiểu thời gian, công sức, sinh động hóa phương pháp dạy học. Tuy nhiên, trước nguồn thông tin vô tận, đổi mới từng ngày của dân tộc và nhân loại, không ít trường hợp AI cũng bất khả, đành ứng phó bằng cách cho ra những báo cáo, số liệu “ma”, khách hàng hỏi thì AI (biết tuốt) trả lời, dẫn đến tình trạng “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Nếu giáo viên không có kiến văn đủ rộng, không nghiêm cẩn kiểm chứng thông tin thì dễ bị “ăn quả lừa”. AI cũng chỉ được xem là trợ lí sư phạm thông minh cho giáo viên. Không có công cụ hỗ trợ nào là vạn năng, có thể thay thế vai trò của người thầy. Dạy văn là “dĩ tâm truyền tâm”. Giáo viên phải nghĩ, phải nói bằng lời của mình để truyền cảm xúc, gieo tình yêu, hình thành nhân cách học sinh. Nghĩ mượn, nói mượn thì khổ lắm, chán lắm.

- Trong thực tế, nhiều sinh viên sư phạm ngữ văn khi mới ra trường rất xông xáo, nhiệt tình trong giảng dạy cũng như các hoạt động khác của nhà trường. Tuy nhiên theo thời gian, thậm chí chỉ đôi ba năm (nhất là khi lập gia đình), họ sẽ trở nên “bằng lòng với những gì mình có”, ít khi chịu cập nhật kiến thức chuyên môn mới, đổi mới phương pháp dạy học mà cứ “giáo án cũ mà dạy, kinh nghiệm cũ đem ra áp dụng” dẫn đến thụt lùi cả về chuyên môn lẫn kĩ năng (thực tế nhiều giáo viên đứng tuổi rất lúng túng khi dạy theo chương trình ngữ văn mới). Ông có suy nghĩ gì về thực trạng này?

+ Đây là thực trạng chung mà, đâu chỉ với giáo viên ngữ văn. Thực trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân anh đã nói ở trên. Tính cách người Việt mình ít khi dám dấn thân, đổi mới. Hơn nữa giáo viên phổ thông đa số là giáo viên nữ, phải gánh nhiều trách nhiệm gia đình nên khi đã “yên ổn” rồi nhiệt huyết nghề nghiệp cũng giảm. Mặt khác, ngữ văn là môn học rất nhạy cảm do liên quan đến những yếu tố chính trị, xã hội, lịch sử... nên rất dễ bị hiểu nhầm, quy chụp, đánh giá... Là người nhạy cảm, thầy cô giáo dạy văn dễ bị tác động bởi những ảnh hưởng trái chiều, bất như ý của ngoại cảnh, từ đó họ dễ chấp nhận giải pháp tiêu cực là đắp tai ngoảnh mặt, khu trú trong vùng tự tạo mòn cũ và đơn điệu để “an toàn”. Thêm nữa, môn ngữ văn bị chi phối nhiều bởi cảm xúc, đam mê, nên càng cao tuổi thì “lửa” sẽ không còn nóng như trước cũng là điều dễ hiểu và đáng được thông cảm. “Thầy già, con hát trẻ” chưa hẳn lúc nào cũng đúng đối với những người trót nặng nợ với môn học này. Muốn duy trì tình yêu, sự gắn bó với nghề, ngoài việc không ngừng tự học và tự hoàn thiện, thầy cô giáo phải có nghệ thuật quản lí cảm xúc, biết làm mới chính mình để gọi về cảm hứng, để sinh động hóa, trẻ trung hóa nội dung, cách dạy. Nghệ sĩ bục giảng rất đúng với người dạy văn. Để cho học trò nhớ, học trò mê, học trò nối bước mình, đôi khi chỉ một cử chỉ, một trạng thái bay bổng… đã có thể truyền cảm hứng, niềm tin cho người học. Nghĩa là không chỉ “dạy chữ - dạy người”, giáo viên ngữ văn cần phải biết “truyền tâm ấn” nữa: lấy chính mình để tác động, để chinh phục, dẫn dắt học sinh.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

ĐOÀN MINH TÂM thực hiện

VNQD
Thống kê