Hành trình của lòng biết ơn

Thứ Bảy, 01/08/2026 00:57

. NHƯ BÌNH
 

Đêm. Tất cả đang chìm vào giấc ngủ mệt mỏi, bỗng đâu, liên tục những cột sóng dựng đứng trùm ụp lên con tàu, nước biển ào vào từ cửa sổ, lênh láng trên giường ngủ. Bạch Dương bị bắn từ giường xuống sàn ngơ ngác. Tôi và Lê Hương bật dậy hoảng loạn. Tôi run lên cầm cập, nhìn thấy nước biển ồng ộc chảy từ cửa sổ vào phòng thì cầm chắc tàu đã bị lật và đang chìm. Tôi điếng người, mụ mị thất thần vì sợ hãi, cứ thế chắp tay run rẩy khấn cầu: “Xin thần biển hãy thương tình cứu tất cả chúng con, con còn 3 đứa con nhỏ ở nhà, xin đừng để chúng con phải chết”.

Cuộc chia li chói ngời sắc xanh

Đoàn công tác chúng tôi ra quần đảo Trường Sa vào thời khắc giao mùa. Chút dùng dằng của Ất Tỵ tính theo âm lịch chưa qua, mà năm mới 2026 thì đã tới. Đêm trước rời cảng, Vùng 4 Hải quân tổ chức liên hoan văn nghệ tiễn đoàn công tác. Những bài hát Nơi đảo xa, Tổ quốc gọi tên mình, Gần lắm Trường Sa, Tổ quốc nhìn từ biển… như vọng về từ kí ức, xốn xang tâm hồn chúng tôi với thật nhiều cảm xúc.

Chị Hoàng Yến (vợ của Thượng uý Dương Thế Phòng) và con gái
trên cầu cảng Cam Ranh trong giây phút tiễn chồng. Ảnh: Võ Việt

Tám giờ sáng ngày 6/1/2026, lễ tiễn quân và đoàn công tác diễn ra tại quân cảng Cam Ranh. Bốn con tàu cùng xuất phát rẽ sóng bốn hướng, đưa những người lính lên đường nhận nhiệm vụ, mang theo cả không khí tết và sự nồng hậu ân tình của đất liền gửi gắm tới quân, dân trên đặc khu Trường Sa. Tôi được chứng kiến một lễ tiễn quân trang nghiêm, đầy xúc động. Chợt nhớ đến những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Mỹ. Đó là cuộc chia li chói ngời sắc đỏ/ Tươi như cánh nhạn lai hồng… Hôm ấy, tôi nhớ mãi gương mặt cặp vợ chồng trẻ, Thượng uý Dương Thế Phòng và Nguyễn Thị Hoàng Yến. Phòng sinh năm 1998, quê Tiên Lãng, Hải Phòng. Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp chuyên ngành chỉ huy tham mưu, Phòng nhận công tác tại Lữ đoàn 101 Vùng 4 Hải quân. Chia tay Phòng là người vợ trẻ sinh năm 2000 và con gái đầu lòng Dương Quỳnh Anh mới chỉ 2 tuổi. Yêu nhau từ thời sinh viên, năm 2023 họ kết hôn khi cả hai vừa mới cầm tấm bằng tốt nghiệp đại học. Năm 2024, Phòng lên đường ra đảo Song Tử Tây làm nhiệm vụ thì vừa kịp biết vợ đã mang thai con đầu lòng. Mong muốn được gần chồng, tháng 9/2025, Yến quyết định xin nghỉ công việc ở ngoài Bắc, bế con vào Mỹ Ca, Khánh Hoà tìm nhà thuê trọ. Vợ chồng trẻ đoàn tụ nhau được 3 tháng, Phòng lại tiếp tục đi làm nhiệm vụ sĩ quan kiểm soát ở Trường Sa. Lần thứ hai ra đảo công tác, Thượng uý Dương Thế Phòng hình như đã quen với giây phút chia li. Phòng chia sẻ cùng tôi: “Em nhớ vợ con lắm. Nhưng đã lựa chọn đời lính, em không cho phép mình từ chối bất kì nhiệm vụ nào. Em rất thích câu hát: Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta/ Mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quôc hôm nay. Các anh, các chú, các thủ trưởng đã từng có những năm tháng thanh xuân gắn liền với biển đảo, đã cống hiến gần như cả tuổi trẻ cho sự bình yên của Tổ quốc thì tại sao chúng em lại không thể làm được điều đó lúc này”.

Con gái bé bỏng của Phòng cầm lá cờ đỏ sao vàng trên tay đi tiễn bố. Không thấy giọt nước mắt chồng vợ nào rơi trong phút bên nhau. Nhưng khi đoàn công tác đã lên tàu, phía quân cảng làm lễ chào tàu và nghi thức nhổ neo ra khơi đã xong. Con tàu HQ-571 rúc lên những hồi còi dài tiễn biệt. Lẫn trong biển lính trẻ tràn ra boong tàu vẫy chào người thân, vô tình đứng cạnh Thượng uý Dương Thế Phòng, tôi mới thấy mắt Phòng rưng rưng. Phía dưới cầu cảng, Yến, vợ của Phòng bế con đứng lặng im, chỉ có lá cờ nhỏ xíu trên tay em bé hai tuổi vẫy chào bố như một đốm lửa đỏ lay động nơi cầu tàu. Rồi đây đứa trẻ sẽ có những chuỗi ngày dài xa bố. Em lớn lên thiếu hụt hơi ấm, sự quan tâm chăm sóc và bàn tay mạnh mẽ của bố dắt đến trường, đưa đi chơi hay gần con lúc con ấm lạnh…. Những đứa trẻ có bố là sĩ quan quân đội, đặc biệt là người lính Hải quân công tác nơi đảo xa là như vậy đó. Và trên quân cảng hôm nay, không chỉ có một lá cờ nhỏ xíu xa dần, mờ dần đó, còn có nhiều những cặp vợ chồng trẻ như Phòng và Yến. Trong chói ngời sắc xanh của bầu trời Nha Trang, tôi thấy nước mắt họ lấp lánh rơi trong giờ phút tiễn đưa.

Những mạch ngầm nối đất liền với Trường Sa

Con tàu HQ-571 xé sóng như mũi tên xanh giữa biển khơi. Chúng tôi tập quen với những cơn say sóng và được sống chậm với thiên nhiên. Không điện thoại, không internet, xung quanh chỉ còn là biển trời, gió, sóng và bốn bề mênh mông một màu xanh thăm thẳm.

Tiếng loa của sĩ quan điều hành vang lên, ai vào việc nấy. Bộ phận phục vụ bếp ăn trên tàu tất bật vào việc ngay để kịp có đủ hàng trăm suất ăn cho bộ đội và đoàn công tác. Tàu vừa đi được vài hải lí thì từ người lính trẻ lần đầu tiên ra đảo đến sĩ quan điều hành, bộ đội tàu lâu năm, thậm chí các thuyền viên đều “ngã sóng đứ đừ”. Thuyền trưởng Nguyễn Như Duy, chàng trai trẻ sinh ra nơi Bình Thuận nắng gió, tốt nghiệp Học viện Hải quân đã chục năm, từng có 4 năm thâm niên làm thuyền trưởng tàu hàng, lần đầu tiên nhận nhiệm vụ tàu HQ-571 chở đoàn công tác vượt sóng đưa tết đến Trường Sa rất xúc động. Làm nhiệm vụ thuyền trưởng, tàu là đơn vị, tàu cũng là nhà, phần lớn thời gian trong cuộc đời gắn bó với những chuyến hải trình dằng dặc, không thể nói là không tự hào đối với một thuyền trưởng Hải quân thuộc đặc khu Trường Sa, nhưng cũng có những thiệt thòi trong cuộc sống riêng không thể nào đo đếm nổi…

Những ngày tàu đi trên biển, chính là những ngày chúng tôi được tiếp cận rõ nhất, sâu sắc nhất cuộc sống của những người lính Hải quân lấy biển là nhà, tàu là đơn vị. Say sóng là món đặc sản. Sĩ quan hậu cần liên tục lên loa phát thanh kêu gọi những ai “khoẻ sóng” thì cố gắng dậy xuống khoang bếp nấu cháo đưa đến tận từng giường cho những người say sóng nặng. Căn phòng nhỏ trên tàu của ba chị em phóng viên chúng tôi: Như Bình Báo Công an nhân dân, Lê Hương VTV8 và Bạch Dương VTV3 chìm trong tiếng ầm ầm của sóng biển. Sóng có lúc cao tới 8m, biển động dữ dội, nước biển xanh thẫm như màu mực cửu long, sâu hun hút. Và dù đã nghiên cứu bài học tránh chấn thương khi lần đầu đi Trường Sa của Đại tá Lương Xuân Giáp, Phó Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 Hải quân phổ biến trước hôm xuống tàu, song cả ba chị em tôi mềm nhũn như bún, không ít lần bắn từ tường bên nọ sang tường bên kia, đầu u, tay bị dập đau tái mặt. Có những đêm đang đi trên biển, gặp sóng dữ chồm lên trùm qua tàu, nước biển ộc vào khoang cửa sổ chảy tràn vào giường ngủ, cả ba chị em choàng tỉnh kinh hãi. Sau này khi sóng đã yên biển lặng rồi, phóng viên Lê Hương và Bạch Dương kể lại cho mọi người trong đoàn nghe cùng cười phá lên câu chuyện tôi sợ tàu đắm, sợ chết nên đã hoảng hốt chắp tay giữa đêm khẩn cầu xin thần biển cứu giúp xin cho tàu đi về bình an.

Chỉ đến khi ngồi trên khoang lái tìm hiểu về tàu HQ-571, nghe Thuyền trưởng Nguyễn Như Duy giải thích về sự hiện đại và chuyên biệt trong thiết kế của tàu, tôi mới bật cười cho những lo lắng ngô nghê của mình. Điều đáng tự hào nhất, tàu HQ-571 là sản phẩm thuần Việt, đánh dấu bước tiến quan trọng, vượt bậc trong kĩ thuật đóng tàu quân sự của nước ta. Con tàu được thiết kế theo công nghệ hiện đại. Những thiết bị nặng nhất như động cơ, máy phát điện và bồn nhiên liệu được đặt dưới đáy tàu. Nhờ đó ngay cả khi tàu có bị nghiêng trước sóng lớn hay gió mạnh, trọng lực vẫn kéo tàu về trạng thái cân bằng khó có thể bị lật. Tàu được ví như một chú lật đật khổng lồ, vui tươi và dũng mãnh giữa biển khơi.

Tại khoang lái tàu, Trung tá Nguyễn Ngọc Viễn, Hải đội trưởng Hải đội 411, Lữ đoàn 955, Vùng 4 Hải quân chia sẻ, đơn vị anh đang quản lí đội tàu vận tải chuyên đi đặc khu Trường Sa. Đây chính là đơn vị “xương sống” trong việc duy trì sợi dây liên lạc, vận tải và tiếp tế giữa đất liền với đảo. Đặc biệt tàu được ví như mạch máu nối liền Trường Sa với đất liền, nối quân và dân. Khi có ngư dân gặp nạn, các tàu của Hải đội 411 đóng vai trò là những trạm cứu hộ di động tinh nhuệ nhờ trang bị thông tin liên lạc vệ tinh và hệ thống y tế đầy đủ để cứu người.

Trong câu chuyện của anh Viễn, càng tự hào hơn khi Hải quân Việt Nam hiện đang trong giai đoạn lịch sử quan trọng, tiến thẳng lên hiện đại với mục tiêu xây dựng quân chủng “tinh, gọn, mạnh”. Đầu năm 2026, Hải quân Việt Nam vừa vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ 3, minh chứng cho sự trưởng thành vượt bậc về cả khí tài lẫn con người. Anh tự hào: “Hải quân không chỉ mạnh trên biển mà còn có hệ thống “lá chắn” bảo vệ từ bờ biển. Khí tài của Hải quân Việt Nam không chỉ hướng tới số lượng mà tập trung vào hiệu quả tác chiến hiệp đồng. Sự kết hợp giữa “tàu ngầm - tàu mặt nước - không quân - tên lửa bờ” tạo nên một thế trận phòng thủ liên hoàn, đủ sức bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới”. Có thể nói, nếu các tàu hộ vệ tên lửa là “thanh kiếm” thì những con tàu của Hải đội 411 chính là “mạch máu” nuôi dưỡng sức chiến đấu cho toàn bộ đặc khu Trường Sa. Sự ra đời của những chiếc tàu hiện đại này giúp vơi bớt những hiểm nguy, gian khổ trong hành trình đến đảo, giúp cho Trường Sa gần với đất liền hơn.

Thời tiết những ngày trên biển mùa sóng dữ ảm đạm đến gần như không nhìn thấy ánh nắng mặt trời. Nước biển một màu xanh đen đặc. Một trong những bộ phận vất vả nhất trên hải trình phải kể đến đội hậu cần. Khi chúng tôi đang ngủ ngon giấc thì họ đã lặng lẽ trở dậy hối hả làm việc để kịp cho cả tàu ăn sáng lúc 6h, ăn trưa lúc 1h và ăn tối lúc 18h. Họ thức giấc lúc 3-4h sáng cân chia đong đếm lựa chọn thực phẩm và bắt đầu công cuộc chế biến. Say sóng mệt lả, chậu nôn đặt bên cạnh, vẫn phải làm việc. Có bận đang xào chảo thức ăn trên bếp, sóng dập, chảo thức ăn bay xuống sàn nhà, hay mâm cơm đặt lên bàn, sóng xô đổ ụp là chuyện bình thường.

Thượng uý Phan Đình Quyết, người em đồng hương với tôi có gương mặt lành như đất kể: “Em sinh năm 1996, ở Can Lộc, Hà Tĩnh nhập ngũ đã 10 năm, trong đó có 4 năm học tại Học viện Hậu cần. Ra trường về biên chế của Hải quân Vùng 4”. Quyết có thâm niên phục vụ hậu cần trên tàu đi Trường Sa 10 lần. Em cũng từng công tác 2 năm trên đảo Song Tử Tây, nếm trải đủ những cực nhọc của một người lính đảo. Em đảm đương công tác hậu cần lo cơm nước, các suất ăn trên tàu, một công việc vất vả, đòi hỏi sự chu toàn tỉ mỉ và giàu yêu thương. Tàu chạy, sóng đánh, để nấu được cơm, giữ cho mâm cơm không bị sóng lật đổ nhào, say sóng đến mấy em vẫn cố cùng đồng đội chế biến thêm cháo, xôi, mì, khoai lang... cho những trường hợp mệt nặng hơn còn có thể ăn được chút ít để phục hồi sức khoẻ. Nếu không có tình yêu, lòng nhiệt huyết với công việc và cả sự trắc ẩn yêu thương, em không đủ đam mê với công việc “bếp núc” này. Đội hậu cần của em 11 người, thì có hai đồng đội hoàn cảnh khó khăn là Đoàn Minh Hoà, và Sằm Minh Kiệt cùng ở Tiểu đoàn 3, con thơ, vợ chưa có việc làm, nhà đi thuê, chỉ có một suất lương chắt chiu nuôi cả gia đình. Khó khăn, vất vả nhưng họ luôn làm việc với tinh thần cống hiến cao nhất. Lo bữa ăn đủ dinh dưỡng, giấc ngủ ngon để đồng đội hoàn thành tốt nhiệm vụ là hạnh phúc của tổ hậu cần.

Những người giữ đảo

Những ngày ra đảo, tôi đặc biệt ấn tượng với Thượng tá Nguyễn Duy Bá, Chủ nhiệm chính trị Lữ đoàn 146. Giữa mênh mông biển sâu, trên con tàu HQ-571 vẫn đang phải neo giữa khơi, chờ thời tiết thuận lợi để vào đảo Song Tử Tây, anh kể cho chúng tôi nghe những hồi ức tuổi thanh xuân gắn bó với nghiệp quân ngũ và bốn đảo của đặc khu Trường Sa: Tiên Nữ, Sinh Tồn, Phan Vinh và Trường Sa.

Năm 2010, ngày đặt chân lên đảo Tiên Nữ, hòn đảo xa xôi nhất nơi cực Đông của Tổ quốc, anh sững sờ trước vẻ đẹp hoang sơ và kì lạ của đảo. Tiên Nữ lúc này đắm mình trong những rạn san hô hình vành khuyên như chiếc áo choàng của nàng tiên. Trên lớp san hô lộ thiên là ngôi nhà chưa đầy một trăm mét vuông được xây ba tầng. Mỗi đêm về, nằm trong căn phòng nhỏ, bốn bề tà luy, tường bê tông cao chắn sóng, căn nhà rung rinh chao đảo khiến cho anh không thể nào chợp mắt. Nhớ vợ, nhớ con, nhớ gia đình, tròn ba tháng Nguyễn Duy Bá mất ngủ triền miên. Hằng ngày anh và đồng đội miệt mài bám đảo huấn luyện quân sự, canh gác tuần tra, thực hiện chủ quyền trên biển và sẵn sàng chiến đấu… Công việc thể lực rất nặng, tinh thần lúc nào cũng căng như dây đàn, đêm lại mất ngủ khiến cho anh và một số đồng đội mới ra đảo phờ phạc. Chưa kể điều kiện sinh hoạt thời đó quá khó khăn, thiếu nước ngọt, nguồn nước chủ yếu trông vào trời. Mỗi tuần chiến sĩ thay nhau được tắm một lần với điều kiện trước khi tắm vận dụng nhiệm vụ đi đánh cá để cải thiện bữa ăn cho đồng đội. Có những tuần, biển động, sóng to, muối từ da, đóng kết nơi quần áo rơi xuống từng mảng xót buốt.

Để khắc phục cơn mất ngủ, anh đem theo chiếc áo của con trai vừa mới sinh phủ lên mặt. Ngửi mùi hơi sữa của con, anh dịu bớt căng thẳng. Sau ba tháng ở đảo Tiên Nữ, Nguyễn Duy Bá đã luyện được giấc ngủ bình thường. Từ đấy, vợ anh mỗi năm một lần, trong những món quà gửi chồng ở đảo xa không thể thiếu chiếc áo của con. Và cứ thế, con trai anh ở đất liền dần lớn khôn thì nơi đảo xa anh cũng trưởng thành hơn trong công việc.

Mỗi đảo là 12 tháng liên tục anh xa gia đình, xa vợ con. Điều trân trọng hơn khi gia đình anh là gia đình có hai thế hệ quân nhân. Bố vợ anh, Thượng tá Trịnh Lương Vượng, từng là Chỉ huy trưởng ở đảo Trường Sa năm 2001 và đảo Song Tử Tây từ năm 2005-2009. Gia đình quân nhân đặc biệt của anh còn có em vợ cũng là một sĩ quan Hải quân kì cựu có những đóng góp lớn cho đảo. Trong những ngày cuối năm sum họp, gia đình quân nhân có ba cha con từng công tác ở Trường Sa xoay quanh những kỉ niệm, những câu chuyện biển đảo. Đó cũng là niềm xúc động, tự hào cho các con cháu trên bước đường trưởng thành.

Trên chuyến tàu HQ-571 chở đoàn công tác ra Đặc khu Trường Sa có nhiều những gương mặt khắc sâu vào tâm khảm tôi. Đó là hai chiến sĩ trẻ Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Hải Khoa. Hùng đang là sinh viên năm thứ hai khoa Cơ khí Chế tạo máy của Đại học Sư phạm Phú Thọ. Khoa đang là sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ ô tô Vũng Tàu. Cả hai xếp bút nghiên, gác lại phía sau giấc mơ kĩ sư để đi nghĩa vụ quân sự. Cả Hùng và Khoa đều xung phong ra đảo Trường Sa với mong muốn được cống hiến sức trẻ và thanh xuân cho Tổ quốc và cũng là lòng biết ơn thế hệ cha ông đã ngã xuống vì sự bình yên của đất nước. Khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự 2 năm, các em sẽ về tiếp nối giấc mơ trên giảng đường đại học.

Không chỉ có những người lính Hải quân, đâu đó trên chuyến tàu, chúng tôi gặp rất nhiều người trẻ thuộc khối dân sự từng đi làm nhiệm vụ ở Trường Sa. Nhưng có một gương mặt khiến cho hành trình ra đảo của tôi chùng xuống bởi những xúc động. Em là Phan Nhật Thành sinh năm 1992, vừa về phép thăm vợ, nay ra lại Trường Sa công tác. Tôi ngạc nhiên cứ ngỡ em đi lần đầu, Thành cười hiền: “Em ở Trường Sa gần 6 năm rồi đó chị”. Thì ra Thành không phải là bộ đội, em là quan trắc viên Trạm khí tượng hải văn Trường Sa, thuộc lĩnh vực nha khí tượng. Trò chuyện với em, tôi mới biết Thành sinh ở An Khê, Gia Lai. Bố của Thành là quan trắc viên Phan Văn Khuyên, Trạm Khí tượng thuỷ văn An Khê, Đài Khí tượng thuỷ văn Trung Bộ. Năm Thành 15 tuổi, mẹ mất, cuộc sống của ba bố con vất vả vô cùng. Ban ngày bố đi làm quan trắc viên, đêm đến tranh thủ đi phụ hồ để lo các con ăn học. Nhìn bố một đời cực nhọc, gieo neo vất vả, ba anh em Thành chỉ còn con đường duy nhất là cố gắng học. Khi Thành đậu vào chuyên ngành Thuỷ văn, trường Đại học Tài Nguyên và Môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh, em xin đi làm thêm phụ bố có tiền ăn học. Xe đạp không có, Thành đi làm bằng xe buýt. Có hôm, vé xe buýt chỉ hai nghìn đồng mà trong túi em còn đúng một nghìn. Vừa đi học, vừa đi làm bảo vệ, những kì thi ôm sách đến tận công trình ôn bài, mệt thì ngả lưng ngay trên những tấm bảng hiệu mấy anh em trong tổ xé ra trải lót xuống đất. Thành thiếu ngủ nhưng em không dám bỏ sót buổi học nào, có những hôm tan ca, chỉ kịp nhảy xe buýt đến trường. Vất vả, cực nhọc, nhưng với Thành, đó là một kí ức thương khó lúc nào cũng xa xót nhớ. Tốt nghiệp về Cam Ranh công tác, Thành đi trên con đường của bố năm xưa với những công việc cũ. Em càng hiểu và thấm thía hơn công việc quan trắc viên với một tình yêu biển đảo, Tổ quốc, sự gian nan vất vả của những người ngư dân đang ngày đêm bám biển. Vợ em, Võ Thị Thanh Hằng, cũng là một quan trắc viên Trạm Khí tượng thuỷ văn Buôn Hồ, Đắk Lắk. Thành kể, sau ngày cưới, vợ chồng ở với nhau được 3 ngày trong căn phòng tập thể Trạm Khí tượng thuỷ văn Buôn Hồ thì em khoác ba lô ra Trường Sa. Nhiệm vụ của Trạm Khí tượng hải văn Trường Sa là “quan trắc, điều tra, khảo sát khí tượng thuỷ văn môi trường, dự báo - cảnh báo khí tượng thuỷ văn” ở khu vực phía Nam đặc khu Trường Sa. Nói là thế nhưng với Thành và các anh em ở trạm, cứ cách vài tiếng, phải kiểm tra các thiết bị đo sóng, gió, mưa, nắng, độ ẩm… và ghi chép đầy đủ, chính xác, kịp thời để gửi về đất liền cho trung tâm tổng hợp, đánh giá và phát hành bản tin thời tiết ở đặc khu Trường Sa. Những ngày mưa bão, Thành và các quan trắc viên ở 2 Trạm Khí tượng hải văn Trường Sa (phía Nam Đặc khu quần đảo) và Song Tử Tây (phía Bắc Đặc khu) phải đo đạc từng giờ, liên tục gửi số liệu về đất liền để có dự báo thời tiết chính xác nhất.

Thoáng vậy mà đã 6 năm Thành biền biệt ở Trường Sa. Mỗi năm Thành được nghỉ phép một đến hai tháng về thăm “đồng nghiệp vợ” trong căn phòng tập thể ở Buôn Hồ (Đắk Lắk) và “đồng nghiệp bố” ở An Khê (Gia Lai). Thành cười hiền. Vợ chồng em chưa có nhà riêng, em lại biền biệt vợ suốt nên vẫn chưa đậu con. Đợt phép tới, có lẽ tụi em phải “hành trình tìm con” chị ạ. Không biết chỉ có một đến hai tháng ở đất liền, em có kịp không.

Nơi tôi sống là nơi đầu sóng
Nơi tôi sống là nơi đầu sóng
Nơi tôi đứng là nơi đầu gió
Giữa mênh mông trùng khơi biển cả
Chỉ có cánh chim hải âu làm bạn cùng tôi.

(Nguyễn Hồng Sơn)

Đảo Song Tử Tây là nơi đầu tiên đoàn công tác đặt chân lên sau một tuần neo ngoài khơi chờ sóng lặng. Vùng biển quanh đảo nằm gần trục giao của nhiều dòng chảy. Khi dòng chảy gặp sóng lớn sẽ tạo nên những cột sóng dựng đứng rất nguy hiểm và khó lái tàu. Luồng vào âu tàu không sâu nhưng gấp khúc, khiến tàu dễ mất lái và va vào kè đá hoặc san hô gây lật chìm tàu. Đã không ít lần, tai nạn xảy ra trước cửa âu tàu Song Tử Tây. Chỉ mấy phút đi xuồng máy để cập âu tàu mà chúng tôi được trải nghiệm những căng thẳng, lo lắng. Thật may mắn, người lính lái xuồng hôm ấy, Trung tá Lê Văn Sao, là người nhiều kinh nghiệm, hiểu sóng, thuộc dòng chảy, thuộc biển, và rất can trường mạnh mẽ. Anh nhịp nhàng lựa từng đoạn sóng để xuồng đè, cắt góc 45 độ, điều chỉnh tay ga... Ngồi trên xuồng, thấy mình như lướt trên sóng lớn, bọt sóng trùm qua đầu muốn nuốt chửng con xuồng bé xíu mà lòng tôi đầy lo sợ.

Đảo Song Tử Tây đón chúng tôi với nỗi xúc động vỡ oà. Chúng tôi ngỡ ngàng đứng trước sân cỏ rộng lớn nhất thuộc đặc khu Trường Sa, ngắm lũ chim biển bay rợp cánh, về đậu chi chít trên thảm xanh như những nắm mây nhỏ trắng muốt rơi xuống từ bầu trời. Và chao ôi là màu xanh ngắt của trái bàng vuông chúm chím như những chiếc bánh chưng xanh mẹ khéo gói, treo trên cây chờ đêm giao thừa. Đẹp và rung động nhất khi chờ ngắm hoa bàng vuông nở trong đêm sâu, hoa như chiếc đèn lồng nhỏ màu tím, kết bằng những sợi tơ trời. Chỉ những ai thuỷ chung, kiên nhẫn, biết chờ đợi thì hoa mới tặng khoảnh khắc bừng rộ ấy. Ở đảo, cây là bạn hiền, cây cũng chính là đồng đội lặng lẽ đồng hành, động viên lính đảo làm tròn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Những ngày này chưa hết mùa đông, khắp cả mấy hòn đảo xinh đẹp lá tra trổ màu vàng xanh, vàng mơ, vàng ruộm, rồi đỏ ối, đỏ ngấu, đỏ chín… Mỗi một cây tra là một bảng hoà sắc sinh động nên thơ. Mỗi đợt gió biển ùa vào, những vòm tra lại xao động, rụng những cơn mưa lá đỏ hình trái tim, như thể vũ trụ nhiệm màu thả xuống cho hòn đảo xinh đẹp những trái tim vẫn vẹn nguyên một sắc màu và tình yêu bất tử. Đoàn công tác chúng tôi nuối tiếc nhặt những chiếc lá tra cất vào hành trang một lần ra đảo. Vẫn biết khi trở về cái sắc màu rực rỡ kì lạ ấy rồi sẽ biến mất, và cả những trái bàng vuông kia nữa, về đất liền sẽ héo đi nhưng hình như tất cả chúng tôi không ai có thể cầm lòng trước khoảnh khắc giao mùa của những trái tim lá rơi trên đảo.

Chúng tôi đã có hai ngày thăm, làm việc với quân và dân trên đảo Song Tử Tây cùng Đảo trưởng Đặng Ngọc Khánh và Chính trị viên Nguyễn Văn Khương, Trưởng công chức đảo Cao Văn Giáp, những con người tâm huyết và dành tình yêu sâu sắc với biển đảo. Các anh bám trụ trên đảo nhiều năm qua để giữ gìn, phát huy những thành tựu của cha anh đi trước đã dày công kiến tạo, xây dựng nên hòn đảo xinh đẹp trù phú, hiện đại.

Tại Song Tử Tây, tôi được gặp gỡ và chia sẻ với Thiếu tá bác sĩ Nghiêm Trung Hưng - Bệnh xá trưởng. Hưng là con trai của Thiếu tướng Nghiêm Viết Hải, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1. “Đồng nghiệp vợ” của Hưng đang công tác tại Bệnh viện Quân y 103. Gác lại giấc mơ thạc sĩ, Hưng tình nguyện viết đơn ra công tác ở đảo. Em tâm sự: Dù ở giữa trùng khơi, nhưng em lại được sống trong môi trường “vô trùng”, với những ngày tháng tinh khiết hiếm có trong cuộc đời. Được làm công tác chuyên môn, khám chữa, điều trị, cứu giúp ngư dân khi tai nạn, đau ốm, trao cho họ sự sống giữa biển cả với em là một niềm xúc động tự hào. Trạm xá Song Tử Tây ngày càng được trang bị các thiết bị y tế hiện đại, đặc biệt là hệ thống khám hội chẩn trực tiếp với đất liền qua hệ thống televisen để đưa ra những chẩn đoán chính xác, giúp mở hướng điều trị chuẩn cho những bệnh nhân tai biến, tai nạn trên biển. Chính giữa môi trường sóng gió này, Hưng được trải nghiệm, tiếp xúc với hàng trăm mặt bệnh mới mà khi học em chưa từng trải qua, ngay cả ở Bệnh viện Quân y 103 nơi em công tác trước đó. Trải nghiệm công tác chuyên môn nơi đỉnh trời, nơi đầu sóng, Hưng mới thấu hiểu rằng kiến thức chưa bao giờ đủ, nhất là với một quân nhân bác sĩ. Trong câu chuyện với đồng nghiệp vợ ở đất liền, các em kể cho nhau, bồi đắp thêm những kinh nghiệm xử lí, kiến thức thu thập ở trường đời. Đó là cách mà dù xa nhau, vợ chồng Hưng được sống, trọn vẹn những phút giây chia sẻ hạnh phúc nhất với nghề nghiệp cứu người của mình.

Ở Song Tử Tây, Sinh Tồn và Trường Sa, mỗi hòn đảo lần đầu tiên chúng tôi được đặt chân lên đều mang lại những nỗi niềm xúc động dâng trào. Những ngôi chùa, những cột mốc chủ quyền, những ngọn hải đăng như đôi mắt sáng rực trên mỗi hòn đảo giữa đại dương mênh mông kể cho tôi nghe không biết bao nhiêu câu chuyện kì diệu về những cống hiến thầm lặng, hi sinh của những người lính đảo. Những gương mặt như Trung tá Nguyễn Huy Tưởng, Trung tá Hoàng Văn Cường, Thượng tá Phạm Sĩ Thoại, Trung tá Phan Thái Bảo... những người chỉ huy đã gắn bó nhiều năm công tác trên đảo Sinh Tồn. Họ hiểu từng tấc đất, bóng cây trên đảo, thuộc từng con sóng, nhịp đập của biển, từng ánh sáng lung linh của ngọn hải đăng. Họ có mặt ở đây, tiếp tục công việc của tiền nhân là canh giữ biên cương hải đảo của Tổ quốc, tiếp nối cuộc đời binh nghiệp của cha ông mình để dựng xây đảo. Trung tá Phan Thái Bảo, Chính trị viên phó đảo Sinh Tồn là con trai của Đại tá Phan Thái Bích, nguyên Chính ủy Lữ đoàn 685 Vùng 4 Hải quân, nguyên là Chính trị viên đảo Trường Sa năm 2004 -2005. Anh xúc động khi có mặt trên hòn đảo ngày xưa cha anh đã tận hiến. Sự tiếp nối thế hệ dù ở một khoảng cách khá xa nhưng vẫn đủ giữ cho ngọn lửa tình yêu tiếp tục cháy sáng. Hay như Trung tá Trần Huy Phụng, Chính trị viên đảo Trường Sa với 4, 5 năm làm nhiệm vụ ở đảo; Trung tá Vũ Đức Quỳnh, chỉ huy đảo Trường Sa từng có 7 năm dày dạn kinh nghiệm công tác trên các đảo với biết bao kí ức không thể nào quên. Ở đảo chìm Tốc Tan C trong ngày đầu đặt chân, thứ anh nhớ nhất, có lẽ là chiếc giường nhỏ bốn bề nằm nghe sóng vỗ. Phải mất một thời gian dài anh mới quen với tiếng sóng để có thể chợp mắt được… rồi trường hợp chiến sĩ trẻ Trần Thông Thương ở khẩu đội pháo đảo Trường Sa. Thương mồ côi cả ba lẫn mẹ, từ nhỏ đã phải đi làm thuê. Nhập ngũ ra đảo, Quỳnh là người dìu dắt động viên Thương, bổ túc văn hoá và những kĩ năng sống mà tuổi thơ Thương không có. Thương phấn đấu tốt, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên đảo và ao ước được ở lại phục vụ tại đảo. Ngày ra quân, Thương rơi nước mắt vì không muốn về nhà, không muốn xa đồng đội, thủ trưởng. Câu nói của Thương khiến cho Trung tá Vũ Đức Quỳnh nhớ mãi: “Thủ trưởng ơi, ngày còn đi làm thuê, em đi chăn bò cho người ta cả ngày chỉ mong được ăn bát mì tôm thật no. Bây giờ ra quân, cầm số tiền trợ cấp này, em xin khắc ghi lời dặn của thủ trưởng, sẽ về học nghề để nuôi được bản thân và sống một cuộc sống tử tế”. Chỉ một năm sau, Quỳnh nhận được điện thoại của Thương mừng rỡ báo tin, em đã học nghề sửa chữa điện gia dụng và đã thuê được một cửa hàng nhỏ sửa chữa điện ở Ninh Thuận.

Trong số những người thầy giáo gieo chữ ở đảo, tôi đặc biệt chú ý đến thầy Lê Xuân Hành 56 tuổi dạy học ở đảo Trường Sa; thầy Phan Quang Tuấn 58 tuổi từng 3 năm dạy học trên đảo Sinh Tồn và thầy giáo trẻ sinh năm 1989 Ca Văn Truyền ra Song Tử Tây dạy học được 3 năm. Viết đơn xung phong ra đảo gieo chữ, các thầy đã lường trước được vất vả gian khó, thế nhưng với thầy giáo trẻ Ca Văn Truyền, khi đặt chân lên đảo, thầy khá sốc khi không thể hình dung nổi lớp học ghép đơn sơ dưới những tán bàng vuông. Ở đó những đứa trẻ như những chồi bàng vuông mới nhú dưới vòm trời rộng. Thế giới của các con chỉ có sóng, gió biển và những cây xanh trên đảo. Có thể so với các bé ở đất liền, các con ở đảo khờ khạo hơn gấp nhiều lần, nhưng điều đáng yêu là tâm hồn trong sáng, thân thiện, quý người. Các con coi thầy giáo vừa là bạn vừa là cha, ngoài giờ học thì đeo bám thầy, nũng nịu, đòi chơi với thầy như một người bạn lớn. Những cảm xúc gắn kết thiêng liêng từ những học trò bé nhỏ như sợi dây tình cảm thiết tha mà bền chặt buộc trái tim các thầy ở lại nơi hòn đảo đơn sơ để dạy học cho các con mà không nỡ rời đi.

Ở đảo, hai chữ “bình thường” thật vô cùng quý giá. Để sống được trọn vẹn một đời sống bình thường là điều mà tất cả quân và dân trên đảo đều khát khao. Thế nên, gieo màu xanh sự sống trên đảo là nhiệm vụ cũng là niềm hạnh phúc. Mỗi phân đội đều có vườn rau, chuồng nuôi gà, nuôi lợn, chó, ngỗng. Lính đảo cưng rau và quý cây xanh như quý người thương. Đến giờ đi gác, những chú chó, bạn ngỗng lẽo đẽo theo cùng như những người lính đặc biệt trung thành bám gót chiến sĩ. Những người dân sinh sống ở đây vốn làm nghề chài lưới, vì lí do an ninh, an toàn nên không được phép đi đánh cá. Tôi đã lặng người đi khi nghe những người đàn ông sinh ra và lớn lên ở biển, cả đời gắn bó với biển như anh Nguyễn Minh Tâm, trên đảo Trường Sa, Sáu Ánh, Thúc Hưng, trên đảo Sinh Tồn, Song Tử Tây chia sẻ: “sống gần biển mà thèm biển nhớ biển vô cùng. Có hôm tụi tui ra thềm san hô, sục chân xuống vã nước biển vào mặt, nếm vị mặn của biển để đỡ nhớ”. Thế mới thấy mỗi một thành viên có mặt trên đảo dù là quân hay dân thì họ đều mang một trách nhiệm lớn, một sự hi sinh thầm lặng vì bình yên của Tổ quốc.

Buổi sáng tinh sương, khi những tia nắng lách qua những tán bàng vuông xanh mướt, tán cây tra đỏ ối đủ sắc màu, tôi nhìn thấy thầy Tuấn, thầy Hành, mái tóc bạc phơ phất, đứng trên sân trường múa cùng các em học sinh những điệu múa Tập tầm vông, Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ chuẩn bị chương trình giao lưu văn nghệ trên đảo chào mừng Đại hội Đảng lần thứ XIV. Ở đảo không có cô giáo. Hình ảnh thầy giáo già tóc bạc phơ tập múa trên sân cho các em học sinh ở đảo khiến trái tim tôi rung động.

Trong nắng sớm rực rỡ, tôi tới tham quan công trình đặc biệt của Đoàn thanh niên chào mừng Đại hội Đảng. Các chiến sĩ trẻ chăm chú làm việc bên tác phẩm đặc biệt kịp hoàn thành trước giờ khai mạc Đại hội. Bức tranh bản đồ Tổ quốc sau khi sáp nhập vừa được hoàn thành từ chất liệu tổng hợp. Trên đó là những mảnh gốm, vỏ sò, dạt vào từ đáy biển khơi đã được các chiến sĩ ở đảo Trường Sa kì công lắp ghép sinh động. Thượng uý Nguyễn Thanh Bình, Phân đội trưởng đảo Trường Sa chia sẻ: “Ý tưởng bức tranh bản đồ Tổ quốc xuất phát từ quan điểm đổi mới đất nước của Đảng và Nhà nước. Bức tranh vừa cập nhật địa giới hành chính mới, vừa gửi trọn khát vọng, niềm tin và tình yêu Tổ quốc về đất liền, bày tỏ hi vọng mãnh liệt vào Đại hội XIV của Đảng sẽ mở ra một thời kì mới phát triển rực rỡ vượt bậc của đất nước”.

Nhà báo Nguyễn Đức Thọ, công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tôi đến cột mốc chủ quyền, nơi bố anh, nguyên cán bộ kì cựu của Quân chủng Hải quân và Cục tác chiến Bộ Quốc phòng đã chụp bức ảnh lịch sử vào ngày 7/5/1988 trong dịp ông cùng đoàn công tác do Đại tướng Lê Đức Anh - Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Trường Sa. Anh rưng rưng: Mấy ngày đặt chân lên đảo, anh đã mang bức ảnh của bố đi dò vị trí để tìm lại khoảnh khắc lịch sử năm xưa và đã đứng đúng nơi 38 năm trước bố anh và đoàn công tác đã cùng Đại tướng chụp lại bức ảnh lịch sử. Với cảm xúc dâng trào mạnh mẽ, anh đọc chính xác từng lời thề của Đại tướng Lê Đức Anh đã vang lên ở đây cho tôi nghe: “Chúng ta xin thề trước hương hồn của tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được Quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta”. Đôi mắt hoe đỏ, mái tóc người con trai giờ đã đổ bạc trắng xoá như sóng biển, nhà báo Nguyễn Đức Thọ kể thêm: “Là một trong những người lính đầu tiên ra nhà giàn, bố tôi không muốn câu chuyện của mình lên báo. Với ông đó là một vùng kí ức thiêng liêng đẹp đẽ mà ông muốn trân trọng cất giấu trong trái tim”.

Từ sáng sớm, nơi sân khấu chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đêm qua lung linh sáng đèn, quân và dân trên các đảo bắt đầu tưng bừng cho ngày hội lớn. Những sắc áo dài cờ sao đỏ thắm, những bộ quân phục chỉnh tề ngồi ngay ngắn theo dõi phiên khai mạc. Tiếng hát Quốc ca vang lên trên màn hình lớn tường thuật trực tiếp. Nắng sớm thật bình yên… Bỗng trên đảo Song Tử Tây rung lên những hồi kẻng báo động. Chiến sĩ trên đảo hối hả khoác súng trên vai nhanh chóng trở về vị trí trực chiến. Toàn đảo ngay lập tức trở thành một trận địa. Các công sự, các ụ pháo sẵn sàng hướng nòng súng phía biển khơi, dõi theo những hoạt động trên biển, trên vùng trời giáp địa phận lãnh hải của đảo. Những lúc này, chứng kiến và chia sẻ các hoạt động quân sự tinh nhuệ trên đảo, chúng tôi mới thấm thía hơn ai hết nỗi lo Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên/ Cơn bão chưa nguôi trong tâm hồn biết bao người…

N.B

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)