Trong trùng sóng Trường Sa

Thứ Sáu, 29/05/2026 14:25

. TÔ THANH TÙNG
 

Gió Đông Bắc về đúng hẹn.

Từ ngoài khơi, những đợt sóng đầu mùa dồn dập xô vào bờ mang theo vị mặn của đại dương. Tuy sóng cấp bốn, cấp năm, nhưng theo kế hoạch đã định, con tàu vẫn lặng lẽ rời cảng hướng về Trường Sa. Biển động không làm chùn bước những người lính đặc công của Lữ đoàn Đặc công nước 5, bởi với họ, ra khơi lúc sóng gió cũng là một phần của nhiệm vụ…

Bắp cải treo gió

Trên hải trình hướng về Trường Sa, công tác bảo đảm hậu cần đời sống và sự thích nghi khéo léo với tự nhiên diễn ra từng ngày, âm thầm tạo nên những thói quen quý, làm sao để cán bộ, chiến sĩ vẫn giữ được sức khỏe suốt chuyến đi. Trong số đó, câu chuyện “bắp cải treo gió”, một mẹo bếp núc nhỏ, lại là điều khiến bất cứ ai đi biển trên tàu của bộ đội đặc công rồi cũng nhớ rất lâu.

Trung tá QNCN Hoàng Văn An, với niềm vui của người thủy thủ kiêm anh nuôi, chậm rãi kể với tôi rằng bởi tàu không có thiết bị làm mát, rau xanh chỉ bảo quản được ba đến bốn ngày. Những thứ trường kì hơn là bí đỏ, bí xanh, khoai tây. Ý tưởng treo bắp cải trong hầm tàu từng được thử, nhưng không gian kín, hơi nóng và ẩm tích tụ khiến rau nhanh chóng nhũn và hỏng. Từ nhu cầu giữ bắp cải lâu hơn, để bộ đội có thêm bữa xanh giữa chuyến hải trình dài, anh em phụ trách hậu cần trên tàu đã nghĩ ra cách treo bắp cải dưới dàn bạt phía mũi tàu và cách làm ấy thực sự hiệu quả.

Ở đây, bắp cải được treo ngược, cuống quay xuống, nơi có gió biển lùa qua nhưng tránh ánh nắng chiếu vào trực tiếp. Gió biển, hơi sương, vị mặn của muối trong không khí làm lớp lá ngoài se lại, tạo thành lớp bảo vệ tự nhiên, trong khi phần ruột bên trong vẫn giữ độ tươi giòn. Việc treo cuống xuống giúp nhựa chảy theo chiều thuận, không đọng lại gây úng thân. Rau không bọc giấy báo, để tránh hấp hơi.

Nghe anh An kể, rồi nhìn tấm bạt màu nâu chì nơi mũi tàu, tôi hình dung ra hàng hàng bắp cải tròn căng xếp đều, dây buộc giữ chặt, trật tự nhưng mềm mại, lơ lửng như những chiếc đèn lồng xanh và cũng giống một vườn treo Babylon đảo ngược. Trong khắc nghiệt của sóng gió, màu xanh của bắp cải treo gió gợi vị ngọt và cảm giác thân thuộc gia đình. Rồi từ những bắp cải tươi xanh ấy, câu chuyện trên tàu xoay ra hỏi thăm nhau về ruộng đồng quê nhà, các loại rau ăn dịp cuối năm, ai cũng thèm chút rau thơm mỗi bữa như mùi, húng lủi, răm, diếp cá, tía tô, ngò gai… Còn với tôi, là hương mùi già mẹ đun để cả nhà tắm vào chiều ba mươi tết từ ngày xửa ngày xưa…

Có tiếng reo rộn lên từ mạn tàu: Dính cá ngừ rồi! Tôi liền bỏ dở câu chuyện, đi theo anh nuôi xem chế biến cá. Lúc này chú cá chừng 10kg đã được kéo lên, nhanh chóng làm sạch, đặt thẳng vào nồi hấp lớn. Dưới đáy là vài cây sả, vài củ gừng tươi, hành củ khô đập dập cùng hạt tiêu. Khi nước sôi lăn tăn, hơi nóng bốc lên quấn quanh thân cá, nhè nhẹ làm dậy vị mặn mòi của biển. Bắp cải treo gió được gỡ xuống, cắt thành lát nhỏ, xanh nhạt, còn giữ độ giòn, kẹp cùng cá hấp đựng trong lá nem, chấm với nước mắm pha đủ vị chua cay mặn ngọt.

Anh An vui chuyện kể thêm, bắp cải vốn là loại rau dễ chế biến, luộc hay xào đều ngon nhưng khi đã treo gió nhiều ngày, hợp nhất vẫn là đem muối dưa. Lớp lá ngoài héo khô được gỡ bỏ, chỉ giữ lại phần lá bên trong còn tươi, chắc và dẻo, rồi cắt thành từng lát vừa ăn. Nước đun sôi để nguội pha đủ mặn, cải xếp gọn vào hũ lớn, chèn nhẹ, rắc thêm hành củ thái mỏng. Để qua đêm, khi ăn cùng thịt ba chỉ luộc, vị chua giòn của dưa hòa với vị béo ngậy của thịt, tạo nên bữa ăn giản dị mà trọn vẹn. Mỗi miếng dưa, mỗi miếng thịt đều nhắc nhớ người ăn về đất liền, về những bữa cơm đoàn viên gia đình, về sự chăm chút âm thầm nhưng đầy tình cảm của đồng đội…

 

Người giữ nhịp đập trái tim con tàu

Ở giữa trùng khơi, khi con tàu vững vàng rẽ sóng tiến về các đảo tiền tiêu như Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn Đông, Len Đao, Cô Lin, Đá Lớn… cánh lính đặc công trẻ trên boong đang mải mê ngắm biển trời, dõi theo cánh hải âu thì ở phần thân tàu thấp nhất, nơi nhiệt độ luôn cao bất kể thời tiết và không gian chật hẹp, có những con người lặng lẽ làm việc, giữ cho hệ thống máy móc vận hành liên tục. Đó là thợ máy tàu. Nếu con tàu được xem như một cơ thể đang bền bỉ vượt sóng gió, thì buồng máy chính là trái tim, còn người thợ máy là bác sĩ, âm thầm giữ nhịp trái tim luôn ổn định…

Sau đôi ngày lênh đênh trên biển, buổi chiều, tôi theo bước Thiếu tá QNCN Đào Trọng Sơn, người thợ máy dày dạn kinh nghiệm quê lúa Thái Bình, nay là tỉnh Hưng Yên xuống khoang máy. Cảm nhận tức thì là cái nóng hầm hập từ khối động cơ tỏa ra, không gian chật hẹp quyện đặc mùi dầu mỡ, tiếng máy nổ dồn dập, ánh đèn neon hắt xuống những đường ống chằng chịt như mạch máu. Khoang máy không có cửa sổ nhìn ra biển, nhưng tôi biết người thợ máy hiểu rõ ngoài kia sóng đang thế nào. Anh chắc chắn cảm nhận được nó qua độ rung của thân tàu và hơi nóng tăng giảm trong từng chu trình vận hành. Chính nơi đây, anh giữ cho con tàu đủ sức bền bỉ đi trọn hải trình dài. “Máy tàu là trái tim của con tàu, duy trì trái tim ấy hoạt động ổn định là nhiệm vụ của người thợ máy, chỉ cần nghe tiếng nổ, chúng tôi biết nó có khỏe hay không”. Khi nghe tôi hỏi về công việc của mình anh Sơn đã bắt đầu như thế.

Phải nói thêm để bạn đọc hiểu, hải trình ra quần đảo Trường Sa không chỉ thử thách lòng quả cảm con người mà còn là phép thử sự bền bỉ của máy móc. Một ngày của anh em thợ máy khởi đầu vào lúc 4h20, khi mọi thứ còn chìm trong hơi sương mỏng của biển đêm, họ đã xuống khoang, kiểm tra từng cụm hệ thống, khởi động máy phụ để cung cấp điện phục vụ nấu ăn, sinh hoạt và thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, trực sẵn sàng chiến đấu. Ca làm việc nối tiếp nhau từ sáng sớm đến 06h00, rồi lại từ 09h30 đến 13h30, và ca cuối ngày kéo dài từ 16h30 đến tận đêm khuya.

Đó là khi tàu neo đậu, còn khi di chuyển, tất cả các máy đều hoạt động liên tục, những người thợ máy phải chia ca trực luân phiên không ngừng nghỉ. Họ đối mặt với nguy hiểm rình rập, từ nguy cơ cháy nổ, phun trào dầu mỡ cho đến điện giật hay những sự cố kĩ thuật bất ngờ bởi tàu vận hành liên tục trong nhiều ngày…

Trước khi trở thành thợ máy, Thiếu tá QNCN Đào Trọng Sơn từng là mũi phó đặc công nước. Từ một người lính trực tiếp chiến đấu dưới nước sang cầm cờ lê trong khoang máy là một hành trình tự rèn luyện bền bỉ. “Từng là đặc công nước, tôi có nền tảng thể lực được rèn luyện suốt nhiều năm, quen với sóng gió nên rất thấu hiểu sự vất vả của đồng đội”. Anh bảo. Chính cái chất đặc công, bản lĩnh, kiên nhẫn và kỉ luật tuyệt đối đã giúp anh làm chủ những khối thép lạnh lùng. Anh nhìn nhận công việc thợ máy không chỉ là nghề kĩ thuật, mà là sự hi sinh thầm lặng. Dẫu tay chân luôn dính dầu mỡ, dẫu phải sống trong không gian độc hại, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm không khí, nhưng anh hiểu, nếu trái tim con tàu ngừng đập thì mọi nhiệm vụ trên biển đều thất bại. Năm 2025 anh có hơn 8 tháng liên tiếp đi biển Trường Sa. Vợ anh là điều dưỡng, thường xuyên trực đêm tại bệnh viện, hai con còn nhỏ, điều kiện gia đình vẫn còn nhiều khó khăn. Những ngày cuối năm vừa rồi, khi con tàu neo đậu giữa vùng nước trong âu đảo Đá Lớn để trực sẵn sàng chiến đấu. Nén lại những riêng tư, nhung nhớ, các anh cùng nhau chuẩn bị Tết Bính Ngọ ngay trên tàu. Có đào thắm, mai vàng bằng hoa lụa tự tay trang trí, có bánh chưng xanh gói bằng lá bàng vuông, có câu đối đỏ và trên hết là tình đồng đội ấm áp. Tôi chợt hiểu rằng đời sống của lính ngày hôm nay không chỉ nằm ở những điều lớn lao, những câu khẩu hiệu, mà còn ở chính những chi tiết nhỏ được chăm chút đến tận cùng…

 

Từ bản làng Raglai đến với biển

Với tôi, anh An, hay anh Sơn, việc đón tết xa nhà là lẽ thường của đời lính. Nhưng với những chiến sĩ trẻ lần đầu đón tết xa nhà, lại trên biển, chưa quen với nhịp lắc con tàu lại là chuyện khác. Trong những chiến sĩ trẻ đi cùng tàu lần này, tôi để ý đến một chàng trai Raglai có cái tên rất lạ: Chamalea Duyệt. Dáng người to cao vạm vỡ, làn da đen quánh, mái tóc cắt ngắn, khác với vẻ rụt rè thường thấy của những chàng lính mới trước người chưa quen, Duyệt rất tự tin, kể chuyện có duyên.

Trong câu chuyện, tôi mường tượng ra những buổi chiều Bác Ái của Ninh Thuận (nay là xã Bác Ái, tỉnh Khánh Hòa), nơi những cơn gió từ phía rừng già mải miết thổi xuống thung lũng, len lỏi qua từng nếp nhà của người Raglai đã sạm màu khói bếp qua năm tháng của cậu. Chamalea Duyệt, người con trai duy nhất trong gia đình có ba anh chị em lớn lên cùng những con dốc khúc khuỷu với bao mùa rẫy và tiếng đàn chapi huyền thoại nhận được giấy gọi nhập ngũ. Hay tin con được đi bộ đội, lại biên chế vào đơn vị đặc công, cha mẹ cậu mừng vui lẫn lộn. Mừng vì đứa con trai duy nhất của gia đình đủ sức khỏe, có cơ hội rèn luyện trong môi trường quân kỉ chắc chắn sẽ trưởng thành hơn mỗi ngày. Nhưng xen trong niềm vui ấy là nỗi băn khoăn, bởi từ nhỏ Duyệt chưa từng rời xa bản làng. Khi không còn núi rừng che chở liệu cậu có rèn luyện bằng anh bằng em… Trước khi lên đường, mẹ đưa cho cậu một “túi may mắn” - vật thiêng gắn với Yang (thần linh), bên trong túi nhỏ đựng nắm gạo quê hương và vài tờ tiền lẻ như lời chúc bình an, đồng thời nhắc con dù đi đến đâu cũng phải nhớ cha mẹ, gia đình và bản làng; với người Raglai, nắm gạo tượng trưng cho sự no đủ và che chở của tổ tiên, nên mẹ muốn gửi theo một phần bình yên từ chính mảnh đất đã nuôi cậu khôn lớn.

Sau thời gian huấn luyện tân binh, Duyệt cùng nhiều chiến sĩ khác được tham gia tuyển chọn vào lực lượng đặc công người nhái, một quá trình sàng lọc nghiêm ngặt. Cả trăm chiến sĩ đăng kí, qua từng vòng kiểm tra, danh sách dần thu hẹp sau những yêu cầu về thể lực tổng hợp, khả năng bơi và thực hiện nhiệm vụ dưới nước, cùng thử thách trong buồng tăng áp mô phỏng áp lực ở độ sâu. Khi danh sách cuối cùng được công bố, tên Duyệt có trong đó. Khi cậu báo tin về nhà, niềm vui nơi bản làng vỡ òa. Không lâu sau, qua quá trình huấn luyện lặn sâu, Duyệt được giao nhiệm vụ ra Trường Sa công tác.

Duyệt kể thêm với tôi, lúc huấn luyện mọi thứ thấy thường, nhưng khi tàu từ cầu cảng Hải đội 4 nổ máy, nhổ neo, thì nỗi lo lắng, hồi hộp bỗng tăng lên. Với người trai miền núi lần đầu đi tàu ra biển lớn, mọi thứ đều mới lạ: Mùi muối mặn, tiếng sóng vỗ thân tàu, tiếng máy nổ trầm đục... Nhưng điều khiến Duyệt nhớ lâu hơn cả có lẽ vẫn là những cơn say sóng kéo dài không dứt. Con tàu lắc lư, sàn tàu chao nghiêng, cảm giác nôn nao dâng lên từng đợt. Duyệt bám vào thành tàu, cậu muốn nằm xuống, nhưng lại gắng gượng ngồi thẳng dậy giữ thăng bằng và hít thở đều, thầm nhủ “không được say”. Để bên cạnh là một thanh lương khô, ngụm nước. Những lời động viên của thủ trưởng và đồng đội cổ vũ cậu dần vượt qua những cơn choáng váng của lần đầu tiên ra biển dài ngày.

Khi đã quen biển là bắt tay ngay vào huấn luyện. Những ngày đầu mới huấn luyện lặn sâu, sáng sớm khi trời còn nhá nhem, chuông báo thức reo lên, Duyệt và đồng đội tỉnh dậy ngay. Đúng 6h chuẩn bị vật chất, kiểm tra trang bị lặn, 6h15, khởi động cơ thể, từng bó cơ được làm nóng, sẵn sàng cho thử thách dưới nước, 7h, Duyệt mặc bộ đồ lặn, đeo bình khí, kính mặt nạ. Khi bước xuống xuồng bảo hiểm, cảm giác lần đầu là e dè, lo lắng. Sóng vỗ nhẹ nhưng liên tục, xuồng lắc theo nhịp, đầu óc vừa hồi hộp vừa căng thẳng, Duyệt nhắc bản thân phải tin tưởng chỉ huy, làm đúng các bước kĩ thuật lặn chặt chẽ mà trước đó đã được huấn luyện: Thở đều, kiểm soát nhịp tim, di chuyển trong nước một cách nhẹ nhàng, hiệu quả. Khoảng 10h30, buổi lặn kết thúc, mọi người tập trung rút kinh nghiệm, Duyệt học được nhiều hơn cả kĩ thuật là tinh thần đồng đội, sự giúp đỡ lẫn nhau, cách xử lí tình huống bất ngờ, và cả cách duy trì sự bình tĩnh giữa lòng biển sâu. Màn đêm buông xuống, gió mạnh hơn, sóng bạc đầu vỗ quanh tàu, đứng gác trên boong, Duyệt nhìn ra khoảng tối mênh mông của biển cả… và đó cũng là lúc cậu nhớ gia đình nhiều nhất. Những khi ấy, chiếc “túi may mắn” mẹ đưa trong ngực áo lại tỏa ra hơi ấm của góc núi bản làng...

Ngoài công việc huấn luyện, những ngày giáp tết âm lịch, tàu đặc công vẫn làm nhiệm vụ theo kế hoạch. Tết của anh em đã được chủ động chuẩn bị từ sớm, ngay khi còn ở đất liền. Mọi thứ đều được tính toán kĩ, lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, trà… đủ dùng cho một tập thể lớn. Ra biển, sinh hoạt trên tàu đều khép kín, sau ca trực canh, anh em về khoang nghỉ, pha ấm trà, chia nhau ít bánh kẹo mang theo từ đất liền. Không bày biện nhiều, chỉ cần có chút hương vị ngày tết để biết là mình đang ở những ngày cuối năm. Câu chuyện xoay quanh gia đình, quê nhà, người nhắc đến nương rẫy miền rừng, người nhớ bãi biển, ruộng muối, có người chỉ ngồi nghe, thi thoảng góp một đôi câu. Bữa ăn giáp tết không quá khác ngày thường, chỉ thêm đĩa thịt đông, cá tươi câu từ biển, hành muối, rau dưa... Chamalea Duyệt những ngày này ngoài nỗi nhớ bản làng, nhớ gia đình, còn nhớ hình bóng một người con gái. Ngày lên đường nhập ngũ, người con gái Raglai trao cho cậu chiếc đồng hồ điện tử. Vật nhỏ, giản dị như cách các thiếu nữ buôn làng vẫn gửi gắm tình cảm. Cứ thế, chiếc đồng hồ theo cậu rời bản, mang theo hơi ấm tình yêu… Nhịp thời gian lặng lẽ nơi cổ tay nhắc cậu mong muốn được đi theo con đường binh nghiệp, gắn bó lâu dài với quân ngũ, như một cách trả lời chắc chắn gửi tới hậu phương…

 

Người con của biển

Khác với Chamalea Duyệt đến với biển từ núi. Có những người lính đến với biển từ biển: họ là những người sinh ra ở làng chài. Biển đi vào bữa cơm hằng ngày qua vị mặn của cá, của mắm, đi vào giấc ngủ qua tiếng sóng khơi xa, đi vào tâm thức qua những câu chuyện về con nước, gió mùa, những chuyến ra khơi dài ngày chưa hẹn trước ngày về.

Nguyễn Ánh Dương cất tiếng khóc chào đời, ở vùng biển Quảng Thanh, Quảng Xương, Thanh Hóa (nay thuộc xã Tiên Trang, Thanh Hóa), cái tên Ánh Dương mà cha mẹ đặt, là sự gửi gắm một cuộc đời sáng tươi như ánh mặt trời mỗi sớm. Từ thuở nhỏ Nguyễn Ánh Dương đã quen với việc theo người lớn ra bãi, nhìn ghe thuyền cập bờ, nghe những câu chuyện của ngư dân sau mỗi chuyến biển về. Nhập ngũ, trở thành chiến đấu viên đặc công nước, không phải là một sự ngẫu nhiên. Nó là tiếp nối tự nhiên của quá trình trưởng thành: Người con của biển tiếp tục trong môi trường biển nhưng với một hoạt động hoàn toàn khác: Huấn luyện, tác chiến và thử thách.

Bước ngoặt đến vào năm 2012, trước yêu cầu nhiệm vụ, được sự động viên của gia đình và chỉ huy đơn vị, anh quyết định theo học ngành hàng hải. Đó là một quyết định không dễ dàng, chuyển từ vị trí chiến đấu viên sang con đường học tập chuyên môn, hướng đến nghề lái tàu biển, đồng nghĩa với việc phải làm lại từ đầu. Những ngày đầu làm quen với la bàn, hải đồ, với các quy tắc an toàn… anh hiểu rằng đây là một thử thách mới cần vượt qua.

Ba năm qua nhanh, sau khi tốt nghiệp, anh chính thức đảm nhiệm công việc lái tàu. Ngày đầu tiên rời đất liền, điều khiển con tàu xuất phát từ Phan Rang hướng ra Trường Sa, anh mang trong lòng rất nhiều cảm xúc đan xen. Có niềm háo hức của người bắt đầu một chặng đường mới, có sự lo lắng về những thử thách khó khăn đang chờ mình phía trước. Dù đã được học tập bài bản, có sự chỉ dẫn của người đi trước, nhưng biển mà, không giống bất kì bài học nào trên giấy. Sóng gió, dòng chảy, thời tiết thay đổi nhanh chóng buộc người lái tàu phải luôn quan sát, phán đoán, đưa ra quyết định kịp thời.

Có những chuyến đi in đậm trong kí ức anh như hải trình từ Phú Quý ra Côn Đảo, gặp sóng gió cấp 6, cấp 7. Con tàu trọng tải hơn 4000 tấn chao đảo liên hồi. Người cầm lái phải đứng suốt nhiều giờ, tập trung cao độ, không cho phép lơ là. Biển trong những lúc ấy không còn là cảnh sắc, mà là một phép thử nghiêm khắc đối với người thủy thủ. Lại có chuyến, trên hải trình từ đảo Phan Vinh đến Núi Le, con tàu phải đi qua khu vực có hàng trăm tàu nước ngoài hoạt động; không ít lần tàu và xuồng cao tốc của họ áp sát, tìm cách ngăn chặn hải trình tàu ta. Trong những thời khắc ấy, người cầm lái không chỉ tập trung giữ cho con tàu đi đúng luồng, đúng tọa độ, mà còn tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh của chỉ huy, đặt con tàu vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, sẵn sàng hi sinh khi Tổ quốc cần… Với anh, mười năm gắn bó với nghề là mười năm của những hải trình nối tiếp nhau từ Trường Sa đến Tây Nam, DK, Vịnh Bắc Bộ… Điều khiến anh tự hào không phải là số hải trình, mà là những chuyến đi an toàn, hoàn thành tốt nhiệm vụ đưa cán bộ, chiến sĩ và phương tiện đến đúng nơi, đúng thời gian. Với người lái tàu, sự an toàn ấy không chỉ là kết quả của tay nghề, mà còn là thước đo của trách nhiệm với công việc mình đã lựa chọn và gắn bó.

 

Bánh sinh nhật… rau câu

Tàu chúng tôi neo lại quanh vùng nước đảo Sơn Ca. Trời vào xuân cao vợi, nắng hửng lên trong trẻo, mây vắt mỏng tang. Cái dư âm của tết vẫn còn rơi rớt, cái náo nức của tuổi trẻ cứ căng tràn ra nên nhìn ai cũng vui tươi hơn. Và lần đầu tiên trong đời mình, tôi được tham dự đón sinh nhật đồng đội trên biển.

Chương trình được mở đầu bằng giọng hát mộc mạc của cánh lính trẻ người đồng bào Raglai. Nào là: Gần lắm Trường Sa ơi, Tổ quốc gọi tên mình, Viết tiếp câu chuyện hòa bình, Còn gì đẹp hơn, Giấc mơ Chapi… Hơi thở đại ngàn lập tức phả tràn ra mặt biển. Cạnh những bài hát sôi động vang lên không dứt là các phần quà được gói ghém chuẩn bị sẵn: Những cuốn sách về chủ quyền biển đảo quê hương.

Nhưng phần đáng mong chờ nhất là cắt bánh và thổi nến.

Giữa nơi đảo xa thiếu thốn đủ bề, Đại úy Bùi Vinh Quang đã tự tay làm một chiếc bánh sinh nhật từ bột rau câu. Bánh được làm trong điều kiện sóng biển làm tàu chao đảo, thạch rất khó đông và dễ bị vỡ kết cấu. Quang kể, phải tăng thêm lượng bột để thạch liên kết nhanh hơn. Chiếc bánh được đổ thành bốn khay với bốn sắc thái riêng: màu trắng được tạo ra từ bột rau câu pha với nước cốt dừa, màu nâu trầm lắng từ những gói cà phê hòa tan, màu xanh mát mắt của lá dứa, màu vàng rực rỡ pha từ nước tăng lực bò húc.

Sau buổi sinh nhật, Quang níu tôi lại bật mí rằng buổi tối hôm nay, một sự cố đã xảy ra, sau khi dỡ khuôn, hai tầng bánh bị vỡ. Trong khoảnh khắc ngỡ như không may đó, sự sáng tạo của người lính lại được dịp thể hiện. Anh dùng khuôn xôi để tạo hình hoa, bỏ đi phần bánh bị vỡ, Quang nói: “Chính vì nó không trọn vẹn nên mới nảy sinh sáng tạo. Không ngờ, nó lại trọn vẹn hơn”. Cuộc đời người lính đặc công là thế, có những khoảnh khắc, những dịp kỉ niệm do điều kiện công tác, huấn luyện, trực sẵn sàng chiến đấu trên biển đảo dài ngày, người lính không được ở bên gia đình người thân. Trong hoàn cảnh đó, tự thân mỗi người lại càng thấu hiểu, biết quan tâm, dành tình cảm cho nhau nhiều hơn, tạo nên sự gắn kết bền chặt của cả một tập thể…

Khi buổi sinh nhật khép lại, mọi người lại trở về với nhiệm vụ của mình. Nhưng dư âm của buổi tối ấy còn ở lại rất lâu. Nó nằm ở câu hát còn vang vang trong đầu, trong vị ngọt mát của miếng bánh, trong cuốn sách mới được trao, và trong cảm giác rằng giữa biển khơi xa xôi, người lính không hề đơn độc…

 

Khi tăng gia cũng là nhiệm vụ

Đi biển vài tháng mà không biết đến mùi cá, chỉ có rau và thịt kho thì… bứt rứt lắm. Và tổ tăng gia trên tàu ra đời để cải thiện bữa ăn cho anh em như một lẽ tất nhiên.

Trong tổ tăng gia, Thượng úy QNCN Trần Quang Toàn, người con xã Hà Ngọc, tỉnh Thanh Hóa được anh em nhắc đến như một tay câu vững nghề, sát cá. Nhưng phía sau những buổi tăng gia ấy, công việc chính của anh là nhân viên báo vụ kiêm thủy thủ. Anh trực thông tin, bảo đảm thu phát điện chính xác, kịp thời; đồng thời tham gia nhổ neo khi tàu cơ động, thả neo khi tàu kết thúc hải trình và bảo đảm an toàn trên boong. Một bên là phòng máy với yêu cầu tập trung cao độ, xử lí tín hiệu không sai sót; một bên là mặt boong sóng gió, đòi hỏi sức khỏe và thao tác dứt khoát, đúng quy trình. Anh quen với cả hai nhịp độ ấy. Chính công việc đó rèn cho anh sự điềm tĩnh. Làm báo vụ, anh phải kiên nhẫn lắng nghe, phân biệt từng tín hiệu giữa nhiễu sóng. Làm thủy thủ, anh hiểu rõ sự thất thường của biển và không được phép nóng vội. Vì thế khi cầm cần câu, anh vẫn giữ cách xử lí như trong công việc. Toàn chia sẻ, muốn có một buổi câu thành công, trước hết phải học cách hiểu về biển. Ở Trường Sa, lựa chọn vị trí câu phụ thuộc rất nhiều vào độ sâu và địa hình đáy biển. Những rặng san hô, vách đá ở độ sâu khoảng 20m thường là nơi trú ngụ của cá mú nhỏ, cá bò, cá sọc dưa, cá hải quân… Mồi câu khi ấy chủ yếu là thịt cá tươi, còn nguyên mùi tanh sống - thứ mùi đặc trưng khiến cá khó cưỡng. Với những vùng nước sâu hơn 30m, có hai phương pháp phổ biến mà anh em hay áp dụng: câu lure (câu rê) và câu jig (một nhánh của câu rê). Sự khác biệt của hai kiểu câu này là loại mồi giả sử dụng.

Câu rê là hình thức dùng mồi giả (cá giả, mồi mềm) nổi trên mặt nước hoặc chìm lửng, quăng mồi ra xa rồi kéo về để đánh lừa những loài cá ăn nổi. Ban ngày, mồi giả thường có màu sắc lấp lánh; ban đêm, phải dùng mồi dạ quang để tạo sức hút trong làn nước tối. Mỗi con mồi giả nặng 20, 30, 60, thậm chí 100 gram. Trên thân mồi gắn những cặp lưỡi sắc bén, kim tuyến phát quang lấp lánh như ánh bạc của cá thật. Câu jig là kĩ thuật giật dây theo nhịp có thể ngắn, dài, nhanh, chậm để mồi giả chuyển động như một con cá kích thích bản năng săn mồi của cá lớn. Người câu thả mồi kim loại xuống đáy rồi giật dần lên, từng nhịp chắc tay. Với cách này, có thể câu được cá mú, cá ngừ, cá đổng, cá nhồng, cá bè…

Nhắc đến câu cá ở Trường Sa mà không nói tới cá bè thì quả là thiếu sót. Toàn bảo, với anh, đó là đối thủ đáng nhớ nhất. Cá bè khỏe, ghì mạnh, có con nặng hơn 20kg. Khi cắn câu, nó kéo máy chạy rít lên, cuộn cước xả ào ào, cần câu cong vút như cánh cung, có lúc muốn gãy đôi. Lúc ấy tuyệt đối không được nóng vội, phải bo cần, vờn cho cá mệt, để nó chạy vừa đủ, rồi kéo dần từng chút một. Nếu cố ghì mạnh quá dễ đứt cước hoặc rách miệng cá. Một con cá bè cỡ 7 - 8kg muốn đưa được lên cũng phải mất 10 đến 15 phút quần thảo. Còn cá trên 20kg, có khi phải 20 đến 30 phút giằng co. Hai cánh tay mỏi nhừ, vừa giằng thả, vừa hồi hộp vì lo sợ lộc biển sổng mất.

Đặc biệt của nghề câu, nếu cá bè và cá ngừ được xem là dễ lừa vì bản tính săn mồi tạp ăn, thì cá cam và cá sọ dừa lại nổi tiếng khôn ranh. Chúng kén ăn, cảnh giác cao. Muốn câu chúng phải dùng dây cước tàng hình, bởi chỉ cần nhìn thấy sợi cước chúng sẽ bỏ mồi ngay. Đó là cuộc đấu trí lặng lẽ đích thực giữa người và cá, nơi kinh nghiệm cùng sự tinh tế quyết định thành bại.

Một buổi đi câu của tổ tăng gia không thể thiếu cần câu, máy câu, dây PE, mồi và những phụ kiện như kìm, móc số 8 chống xoắn, khoen nối mồi với lưỡi. Nếu câu đêm, phải chuẩn bị thêm thiết bị chiếu sáng. Thú vị nhất là những lúc tàu đi từ điểm đảo này sang điểm đảo khác, anh em tranh thủ câu rê. Một con cá giả được thả phía sau đuôi tàu, lướt đi theo sóng. Những loài cá săn mồi như cá ngừ, cá thu ống vốn bơi khỏe đủ sức đuổi kịp tốc độ tàu sẽ lao theo đớp. Khi ấy, tiếng máy câu vang lên “drag… drag…” để kéo cá lên thuận lợi tàu phải giảm tốc, anh em ùa ra cổ vũ. Nhớ có lần, tổ câu kéo được con cá thu ống hơn 15kg, phải quần nhau hơn nửa tiếng mới đưa được cá lên boong.

Những hôm sóng yên biển lặng, tổ tăng gia chạy xuồng câu rê. Trước mũi xuồng, đôi lúc bắt gặp cả đàn cá heo hàng chục con vây quanh. Với lính đặc công nước, cá heo như người bạn thân thuộc. Chúng nhảy vọt lên mặt nước, nhào lộn như chào đón. Nhưng khi gặp cá heo cũng là dấu hiệu báo biển sắp động. Và khi chúng đi săn mồi theo đàn, các loài cá khác tản ra, việc câu trở nên khó hơn. Nhưng hiếm khi tổ tăng gia trở về tay không, một buổi câu thành công thường đạt 15 đến 20kg cá đủ để bếp trưởng chế biến thành nhiều món ngon cho bữa ăn đơn vị.

Khi hỏi Toàn có kinh nghiệm nào truyền đạt lại cho những người mới bước vào nghề câu, Toàn bảo có gì khó đâu, cứ kiên trì, bình tĩnh, đam mê là được. Người chưa biết phải học hỏi kinh nghiệm người đi trước, cá nào hợp mồi nào, vùng nước nào nhiều cá, thời điểm nào dễ câu.

Giờ, khi đã vào bờ, tôi vẫn nhớ hình ảnh những con cá mú đỏ da dày, thịt ngọt được xẻ ngay trên boong tàu, làm món sashimi tươi rói. Miếng cá trắng hồng, chấm chút mù tạt cay nồng, vị ngọt lan nơi đầu lưỡi. Bữa ăn hôm ấy rộn ràng hơn, tiếng cười nhiều hơn. Vì thế, câu cá ở đây mang nhiều ý nghĩa hơn một thú vui. Đó là biểu hiện của khả năng sinh tồn, tinh thần chủ động cải thiện đời sống. Đó cũng là khoảng lặng sau những giờ huấn luyện căng thẳng, là cách người lính cân bằng tâm trí giữa bốn bề sóng nước.

 

Sợi dây của bộ đội đặc công nước

Sợi dây tôi muốn nói ở đây không chỉ về tình cảm, sức mạnh tinh thần mà trước hết nó là một trang bị: sợi dây bơi. Nó thường là dây thừng bền chắc, dài khoảng 20m đến 30m, kết nối các thành viên trong một tổ, một tiểu đội, trung đội khi di chuyển, luồn lách hoặc bám vào mục tiêu dưới lòng biển.

Trong môi trường tác chiến đặc biệt, khi tầm nhìn chỉ cách vài mét và áp lực nước đè nặng lên lồng ngực, sợi dây bơi chính là mạch máu nối liền những cơ thể riêng lẻ thành một khối thống nhất. Một sai sót nhỏ, một sải bơi lạc nhịp của một cá nhân có thể ảnh hưởng đến cả đội hình. Cảm giác lần đầu liên kết vào dây bơi là một trải nghiệm không bao giờ quên, đó là sự hồi hộp khi cơ thể và sinh mạng mình được trao vào tay đồng đội. Khi một người mệt hoặc gặp sự cố dưới nước, cả dây bơi sẽ cảm nhận được ngay lập tức thông qua độ căng và nhịp chuyển động của sợi dây để kịp thời xử lí.

Tôi theo dõi anh em trong một buổi diễn tập tái chiếm đảo, những chiến đấu viên kết nối thành một khối thống nhất bằng sợi dây thừng bện chặt căng theo dòng hải lưu, thầm lặng nhịp nhàng bơi trong màn đêm của biển, để rồi khi vừa áp sát mục tiêu, họ đồng loạt thực hiện thao tác tách khỏi dây bơi bằng chốt gỗ bên hông để hóa thân thành những mũi tên độc lập trườn lên từ mép sóng… Đại úy Phạm Minh Toàn - Chính trị viên đại đội chia sẻ với tôi khi vừa cởi bỏ bộ đồ bơi sũng nước rằng sợi dây liên kết vật lí dưới nước được nuôi dưỡng bằng một sợi dây tình cảm vô hình trên mặt đất, trên tàu khi anh em cùng chia nhau khoảng không gian hẹp, chia ngụm nước ngọt, con cá, lá rau, chia nhau cả những câu chuyện gia đình, vợ con… Rồi những đêm trực thay phiên, người này nhường chăn cho người kia, tình bạn, tình đồng đội, tình thân cứ thế nảy nở tự nhiên buộc nhau lại từ bao giờ chẳng biết…

T.T.T

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)