.NGUYỄN THÀNH PHÚ
Tơm tà lêêng thì thợơng thì má nhoọc hung nơ ké hầy. Nhoọc hung nơ nhơ tếng dơi côông dóoc bò. Thô khèn tếng thù kẹc quạ. Ăn toóc, ăn tếng. Ngao nhọoc qua nơ, ngùi ôm con chơ đơ nhọoc ru kê theeng kẻ thẩy. Rá ná bốp lù chơ ngan đác chơ hết xoong lự mắc… Đây là một bài hát của cộng đồng tộc người Rục. (Dịch nghĩa: Đi đường rừng, trèo lên đỉnh núi mệt lắm nhưng cứ đi rồi sẽ khắc đến. Dù ăn bột cây nhúc, uống nước từ cây chuối cũng đừng kêu mệt, khi lên tới đỉnh rồi thì sẽ vui thôi).
Những câu hát được cất lên từ giữa đoàn người đang căm cúi leo dốc. Những bước chân rắn rỏi mạnh mẽ, đạp lên từng phiến đá tai mèo trong tiết trời nắng gay gắt với nền nhiệt đạt ngưỡng 400C. Mồ hôi chảy dài trên mặt. Mặc kệ. Mồ hôi đẫm ướt lưng áo. Mặc kệ. Đoàn người vẫn hăm hở tiến về phía trước, đích đến là cột mốc quốc giới 536 khẳng định chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Năm ngày, bốn đêm là hành trình một đợt tuần tra mốc quốc giới 536. Trước khi triển khai thực hiện kế hoạch, mọi công tác chuẩn bị của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị và những người dân đồng bào Rục các bản Ón, Yên Hợp, Mò O Ồ Ồ thuộc xã Kim Phú, tỉnh Quảng Trị đều phải tiến hành chu đáo, đầy đủ. Nếu như công tác chuẩn bị của Bộ đội Biên phòng là súng, cơ số đạn, thuốc quân y, bản đồ quân sự, tăng, võng, thiết bị thông tin liên lạc, ống nhòm, lương thực, thực phẩm và quân tư trang… thì những người dân tham gia cũng phải gậy chống trượt khi leo và xuống núi, cơm bồi, dao phát rừng cùng tư trang theo nhu cầu cá nhân. Tuy nhiên, mỗi thành viên cả quân nhân lẫn người dân đều phải tính toán thật kĩ lưỡng để còn mang thêm từ hai mươi đến hai lăm lít nước phục vụ cho đợt tuần tra.
Trung tá Hoàng Công Hùng, Đồn trưởng, Đồn Biên phòng Cà Xèng chỉ huy chuyến tuần tra này. Anh năm nay tròn năm mươi tuổi, cái tuổi mà các bộ phận trong cơ thể đã bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi chậm. Anh đã có hơn ba mươi năm công tác trong lực lượng. Quê ở phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị, ngần ấy năm công tác, Trung tá Hoàng Công Hùng đã lăn lộn đủ khắp các tuyến biên giới rừng và biển, anh về Đồn Biên phòng Cà Xèng từ tháng 7/2023, đã nhiều lần tham gia trong đội hình tuần tra cột mốc 536. Trung tá Hùng có dáng người khá to, cao, nước da ngăm đen, đúng “đặc chủng” của lính biên phòng nhiều năm bám trụ biên cương miền Trung, nơi nắng gắt cùng gió Phơn rang nóng dãy Trường Sơn. Cách đây chừng gần bốn năm, sau một lần tuần tra cột mốc về đơn vị, anh cảm thấy bị nhói đau ở hai khớp háng mỗi khi di chuyển. Xin phép đơn vị đi khám tại bệnh viện tuyến trên, anh được bác sĩ kết luận bị thoái hóa khớp háng và khuyên anh chỉ nên di chuyển nhẹ nhàng. Thế nhưng đường biên giới quốc gia phân định chạy theo sống núi và cột mốc luôn được đặt tại những vị trí trên đỉnh núi cao, thì việc tuần tra làm sao có thể nhẹ nhàng được.
Đội hình tuần tra gồm mười một thành viên (bảy cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng và bốn người dân địa phương) dậy từ lúc ba giờ, ăn sáng, vắt cơm nắm, kiểm tra lần cuối công tác chuẩn bị, phân công thứ tự vị trí từng cá nhân. Đúng bốn giờ ba mươi, mệnh lệnh xuất phát được ban hành. Mười một con người lầm lũi, len lỏi dưới tán rừng, men theo từng lối mòn cheo leo bên vách đá. Họ luôn bám sát nhau, người đi sau đặt bàn chân mình đúng vào dấu chân của người đi trước. Vừa lần dò bước đi, họ vừa phải liên tục đảo mắt lên các tán cây, dè chừng những con rắn lục xanh nằm vắt vẻo ngủ mơ màng, chỉ chờ có sự tác động nhẹ vào cành cây là giật mình mổ tới. Dốc kết nối với nhau như những nấc thang chơi vơi giữa lưng chừng mây núi. Đoàn người lặng lẽ đi không nghỉ. Bước chân chậm nhưng chắc chắn, đặt đúng vị trí, nếu lệch chỗ hoặc do một chút chủ quan, có thể sẽ mãi mãi lặng im dưới vực sâu.
Tốc độ hành quân phải tính toán phù hợp để tránh kiệt sức nhưng vẫn đến địa điểm tập kết đúng giờ. Trưa chỉ kịp dừng lại mười lăm phút dưới tán cây, ăn xong nắm cơm, truy bắt hết những con vắt bấu chặt vào cơ thể lại tiếp tục hành quân. Khoảng gần năm giờ chiều, đội hình tuần tra dừng chân nghỉ đêm trong một hang núi sau hơn mười ba tiếng đồng hồ hành quân. Bữa cơm tối cũng ăn vội với những món đơn giản nhất và hầu như toàn thức ăn khô. Tăng, võng mắc ken nhau, mọi người tranh thủ ngủ để lấy lại năng lượng cho ngày mai tiếp tục hành quân leo núi.
Theo lí thuyết là vậy, thế nhưng giữa núi rừng thâm u, tiếng gió thổi, tiếng chim muông, thú rừng kêu và cả tiết khí lạnh phả ra từ vách đá vôi… thì rất khó để con người ta đi vào giấc ngủ. Chỉ có những chàng lính binh nhất, binh nhì, tuổi mười chín, đôi mươi là lưng chưa kịp đặt xuống võng đã nghe tiếng ngáy cất lên rồi. Đêm giữa rừng sâu, tiếng đôi chim từ quy gọi nhau lọt sâu vào vách núi nghe khắc khoải và thật cô đơn.
Dẫu lạ chốn, lạ nơi, không giường êm, chăn ấm nhưng do cả ngày hành quân mệt nên ai cũng cố gắng ngủ, càng sâu giấc càng tốt. Bốn giờ sáng, mọi người đều được đánh thức bởi chiến sĩ nuôi quân. Rừng vẫn còn tối, tiếng muông thú vẳng lại từ phía xa, khoảng cách đôi chim từ quy dường như đã xích lại gần nhau. Đánh răng, rửa mặt từ các vũng nước nổi váng còn sót lại trong từng hốc đá nhỏ, mọi người vội ăn sáng, nhận cơm nắm rồi tiếp tục hành quân. Không hiểu các đồng chí nuôi quân dậy từ lúc nào và chế biến tài tình thế nào mà bữa sáng cũng chẳng thua kém gì ở đơn vị. Nắm cơm được gói trong lá chuối rừng hơ mềm thơm phức, kèm theo thịt lợn rang khô là khẩu phần ăn bữa trưa của mọi người.
Thêm mười ba tiếng đồng hồ, khi mặt trời lẫn vào những đám mây gác lại ở đỉnh dãy núi phía Tây, tổ tuần tra đến địa điểm tập kết của ngày thứ hai. Mọi người thả ba lô, tỏa đi tìm những vũng nước nhỏ trong hốc đá để lau qua cơ thể sau một ngày hành quân mồ hôi ướt đẫm. Rít ráy và khó chịu nhưng việc tắm thì chẳng ai dám nghĩ tới, bởi đến nước uống cũng phải dè sẻn, phân phối nên chỉ rửa những chỗ cực kì quan trọng thôi. Điểm tập kết này không có hang núi, vì thế tất thảy phải chặt cây, dựng lán cho việc nghỉ ngơi. Đêm thứ hai ngủ rừng, dường như sự lạ lẫm cũng đã quen dần. Vẫn tiếng chim từ quy gọi tìm nhau nhưng không còn cảm giác buồn thương và khắc khoải. Bên bếp lửa, lời câu hát cất lên từ anh Cao Xuân Lạc: Tơm tà lêêng! Cái ơi miềng, xà độông nhọc lắm cái ơi. Đi tìm cá cũng nhọoc lắm cái ơi. Tơm tà lêêng - gio nan, gio nôm thun lắm cái ơi… ( Anh trèo lên núi lấy củi, phát rẫy, anh xuống suối sâu bắt con cá mệt lắm em ơi, nhưng khi nghĩ đến em, đến tình yêu của chúng mình thì cái mệt liền trở thành cơn gió mát em ơi). Ánh lửa bập bùng, mọi thành viên trong tổ tuần tra chìm sâu trong giấc ngủ mệt nhoài, từng nhịp thở đều đều thả vào khoảng đêm u tịch của núi rừng những âm thanh nhẹ như làn sương mỏng manh tỏa ra từ vách đá.
Cũng giống ngày hôm qua, bốn giờ sáng, mọi người ăn sáng. Tuy nhiên, hôm nay có khác một chút. Trong tổng số mười một thành viên tổ tuần tra được chia thành hai nhóm thì nhóm thứ nhất gồm tám thành viên nhận cơm nắm, tiếp tục hành quân thêm hơn bốn tiếng đồng hồ để kiểm tra mốc quốc giới 536, số thành viên còn lại nhận nhiệm vụ vào rừng kiếm củi khô, chắt nước giọt ra từ các rãnh đá nhỏ, sửa sang lán trại tại địa điểm tập kết, phục vụ cho đợt tuần tra lần sau.
Cột mốc quốc giới 536 nằm ở vị trí eo yên ngựa của ngọn đá vôi trong hệ thống dãy Trường Sơn được chọn làm biên giới phân định chủ quyền giữa hai nước Việt Nam - Lào. Đứng ngay tại vị trí cột mốc, có cảm giác như đang được ở nơi đất trời gặp gỡ, giao thoa. Mây bay dưới chân người, mây đậu trên mái tóc, mây làm ướt quân trang, gió lồng lộng và ngằn ngặt thổi chẳng khi nào dừng. Nhìn về nước bạn Lào hay ngoảnh đầu ngắm cảnh đất nước mình, tất thảy chỉ thấy núi và núi, đỉnh nhọn hoắt, cao vút, tiếp nối nhau như từng nấc thang leo đến nhà Ngọc Hoàng trong câu chuyện cổ tích Cóc kiện trời. Sau một vài thủ tục hành chính quân sự, trước sự chứng kiến của tổ tuần tra, hai chiến sĩ biên phòng tiến hành kiểm tra cột mốc tỉ mỉ đến từng milimet. Đôi bàn tay xoa tròn, vuốt nhẹ từ trên xuống dưới rồi từ dưới lên trên, đỉnh, thân, đế cột mốc đều được kiểm tra kĩ lưỡng không bỏ sót bất kì một chỗ nào. Buổi kiểm tra dừng lại khi xung quanh mốc đã được phát quang sạch sẽ. Nghe qua thì đơn giản nhưng để hoàn thành ngần ấy công việc cũng phải mất hơn ba giờ đồng hồ. Nghỉ ngơi ít phút, ăn vội nắm cơm mang theo từ sớm, các thành viên phải tính toán thời gian kịp có mặt tại điểm tập kết trước năm giờ chiều. Bởi trên vùng núi cao trời rất nhanh tối, mây mù âm u và thường hay có những cơn mưa bất chợt ập đến bất cứ lúc nào.
Có một chi tiết khá thú vị xảy ra ngoài ý muốn của Trung tá, Đồn trưởng Hoàng Công Hùng, chả là khi xuất phát, thương Đồn trưởng tuổi cao, một đồng chí dân quân địa phương xung phong mang giúp ba lô quân tư trang. Sau thời gian nghỉ giải lao, khi có lệnh hành quân tiếp, đồng chí dân quân vội vàng nên để quên ba lô của anh. Chiều tối đến vị trí dừng chân, hỏi ba lô lấy áo quần thay, lúc ấy mới tá hỏa, vậy là suốt đợt tuần tra, Đồn trưởng Hùng phải mặc tạm tư trang mà anh em san sẻ, song khổ nỗi, anh có vóc người to, cao nên chả mặc vừa của ai, duy nhất mỗi quần đùi bộ đội là tạm ổn.
Trọn năm ngày, bốn đêm chỉ độc bộ quân trang dã chiến nên bốc mùi chua loét, anh em trêu: “Tối ngủ, Đồn trưởng chẳng cần phải mắc màn vì muỗi nó mon men đến, ngửi thấy mùi cơ thể cả ngày leo núi không thay là nó vội biến mất dép”. Mọi người cười nhưng với Đồn trưởng Hùng lại vô cùng ngứa ngáy khó chịu. Hết đợt tuần tra, do mặc áo quần ẩm ướt dài ngày, cộng thêm vắt rừng cắn, cơ thể của anh bị dị ứng nổi mẩn ngứa, quân y đơn vị phải điều trị gần mười ngày, làn da của anh mới trở lại như ban đầu.
*
* *
Đợt tuần tra nốc quốc giới 536 kết thúc bằng đêm giao lưu thắm tình quân dân được tổ chức tại bản Yên Hợp, xã Kim Phú. Vuông sân nhỏ nhà văn hóa cộng đồng bùng lên ánh lửa trại, sản vật truyền thống của tộc người Rục gồm cá suối, rượu ủ từ ruột cây nhúc với men lá rừng và cơm bồi.
Trong số sản vật này, cơm bồi là món ăn mang đậm nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Rục. Cách làm tuy khá đơn giản nhưng luôn đòi hỏi sự khéo léo, công sức của người nấu, tính tỉ mỉ và chuẩn thời gian, độ nhiệt thì mới cho ra thành phẩm chất lượng lẫn mùi vị thơm ngon. Hạt ngô khô (tiếng địa phương gọi là “Óc sạu”) được mang đi ngâm với nước ấm khoảng bảy mươi đến tám mươi độ, trong thời gian từ hai đến ba tiếng đồng hồ cho hạt nở rồi vớt ra để ráo nước. Khi hạt ngô đã ráo hết nước cho vào cối giã nhuyễn rồi sàng, giần nhiều lần để lấy bột mịn. Củ sắn bóc vỏ, nạo thành sợi, cho vào miếng vải màn rồi dùng lực tay ép bớt nước nhưng không được ép quá khô. Khi nguyên liệu đã chuẩn bị xong, người dân trộn sắn giã nhỏ với bột ngô, tùy theo sở thích, điều kiện của mỗi gia đình mà tỉ lệ trộn sao cho phù hợp, song tỉ lệ nhiều người dùng nhất là một cân bột ngô sẽ trộn với ba cân bột sắn. Hỗn hợp bột sắn và ngô được đem đi hấp chín, trong khi hấp phải đậy kín và người nấu phải căn đúng thời gian để có một nồi bồi chuẩn hương vị. Sau khi cơm được hấp chín, cắt thành từng lát nhỏ vừa ăn và dọn kèm cùng các món khác như ốc đực, cà lào, lá bún, canh môn, canh loóng… Khi thưởng thức cơm bồi, người ăn sẽ cảm nhận được vị bùi béo của ngô, sắn với vị ngọt nhẹ.
Đêm giao lưu lắng lại sự vui nhộn trong điệu hát ru con, dân ca người Rục cất lên từ bà Cao Thị Hiện, bảy tư tuổi. Bà Hiện là một trong số ba tư người của một tộc người đang đứng bên bờ vực bị tuyệt vong đã được cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình (nay là Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị) đưa ra từ hang núi trở về với đồng loại cách đây 67 năm. Chúc pồi chớ mệ pạ rơi. Bằm cụ, bằm vẹc pa pù pạ tơi. Khênh khàng pa bó pạ đại. Xôốc pụng coọng pa mệ pạ đải. Pặm lù, pặm qượng pạ mệ, pạ đải. Kả luộc kung, kả luộc muộn pa pó pạ đải. Hềng khàng pá pọ, pá đải… Bài hát ru này có tên Đâm bồi cho mẹ, cho cha ăn, giáo dục con cái khi bố, mẹ già thì con cái phải nhớ đến công ơn nuôi dưỡng và phải chăm làm rẫy trồng ngô, trồng sắn, xuống suối bắt cá, bắt ốc, lên rừng săn bắn… để làm cơm bồi dâng bố mẹ.
Tuy tuổi cao nhưng giọng hát của bà có âm vực rộng, lảnh lót giữa đêm đại ngàn. Từng câu hát như thả vào vách đá những nhịp phách âm thanh kể lại câu chuyện về cội nguồn. Người Rục là một nhánh của đồng bào dân tộc Chứt nhưng có cách sống, cách sinh hoạt hoàn toàn khác. Người Rục không sống định canh, định cư, lập làng, lập bản mà chủ yếu sống trong những hang đá có dòng nước chảy. Từ Rục cũng mang nghĩa là hang núi đá có nước. Đồng bào Rục sống lang thang trong rừng sâu, tách biệt với cộng đồng xã hội nên họ không có chữ viết, trang phục, nhà ở mang truyền thống của riêng mình. Về ngôn ngữ, họ sử dụng tiếng nguồn giống như dân tộc Chứt.
Trong một lần đi tuần tra biên giới cách đây sáu mươi bảy năm, tổ tuần tra Đồn Công an nhân dân vũ trang Óc Sách (Tiền thân của Đồn Biên phòng Cà Xèng ngày nay), thuộc lực lượng Công an nhân dân vũ trang tỉnh Quảng Bình (nay tỉnh Quảng Trị) đã tình cờ phát hiện thấy họ và đưa họ trở về với cuộc sống cộng đồng xã hội văn minh. Ngày 12/8/1959 là ngày mà tộc người Rục chẳng thể nào quên. Hôm ấy, ba tư con người, già, trẻ, gái, trai, cõng, gùi vật dụng từ biệt hang đá, rừng sâu, theo chân các chiến sĩ biên phòng về định cư, lập làng, dựng bản hòa nhập với cộng đồng. Cuộc li cốc, hạ sơn này đã chấm dứt nguy cơ suy thoái của một tộc người đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng.
Tuy nhiên do khí hậu khắc nghiệt, chiến tranh và cả những khó khăn, thiếu thốn ban đầu, cùng với thói quen cuộc sống hoang dã chốn rừng sâu săn bắt hái lượm, tập tục lạc hậu đã ngấm quá sâu vào huyết quản nên thời gian định cư không bao lâu, cả ba tư con người lại bồng bế, rủ nhau trở về với hang đá theo tiếng gọi của bản năng nguyên thủy. Thêm một nữa, những chiến sĩ biên phòng lại phải tiếp tục cuộc hành trình gọi họ quay trở về với cộng đồng lần thứ 2 để dựng xây cuộc đời mới trong tia nắng nụ cười của tương lai tại các bản Ón, Mò O Ồ Ồ, Yên Hợp thuộc xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Kim Phú, tỉnh Quảng Trị) cho đến tận bây giờ.
Hành trình bảo vệ tộc người Rục tránh khỏi sự tuyệt vong của những người chiến sĩ biên phòng cũng chính là bảo vệ, gìn giữ nét văn hóa truyền thống của họ, tuy không phong phú như các dân tộc có số lượng đông về dân số, song vẫn là nét đặc trưng của một tộc người bổ sung thêm vào sự giàu có, phong phú trong bản đồ văn hóa dân tộc Việt Nam.
*
* *
Theo kế hoạch, sáng hôm sau số cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng sẽ trở về đơn vị để thực hiện chương trình huấn luyện quân sự, nhưng có tình hình đột xuất xảy ra, ngày mai cũng là ngày mà người dân ở các bản Mò O Ồ Ồ, Yên Hợp và bản Ón tiến hành thu hoạch lúa vụ đông xuân tại cánh đồng Rục Làn nên Đồn trưởng Hùng quyết định giữ toàn bộ thành viên đơn vị tham gia đợt tuần tra ở lại để giúp bà con thu hoạch lúa. Đây là năm thứ mười sáu đồng bào Rục nơi miền biên viễn giã từ lối sống canh tác du mục, khai hoang đất bằng, be bờ, đắp đập, làm công trình thủy lợi trồng lúa nước. Và cũng mười sáu năm, mỗi năm hai vụ, cánh đồng Rục Làn chưa khi nào bị thất bát mất mùa, sảng lượng lúa giữ vững ở mức từ 4,5 - 5tấn/ha cho mỗi vụ.
Ngược trở lại quá khứ hơn mười năm trước, cánh đồng lúa nước Rục Làn là mồ hôi, công sức của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng đổ xuống để níu giữ chân người Rục ở lại với cộng đồng. Việc trồng thí điểm trên diện tích 1.400m2 của gia đình ông Cao Trung Trực, kết quả vụ mùa đầu tiên đã cho kết quả rất khả quan với năng suất lúa đạt gần 40tạ/ha là một tín hiệu rất vui. Tuy nhiên với điều liện tự nhiên của vùng đất đá vôi này, chỉ có vụ đông xuân là khả thi, còn vụ hè thu thì lại vô cùng bấp bênh bởi với cái nắng nóng ba chín, bốn mươi, thậm chí có những ngày vượt ngưỡng bốn hai độ kéo dài cả tháng, mọi nguồn nước đều cạn kiệt nên cây lúa không thể tồn tại đến ngày cho hạt. Muốn trồng và giữ được cây lúa nước cho người dân đồng bào Rục ở bản Mò O Ồ Ồ thì phải có một công trình thủy lợi. Đó là mệnh lệnh từ trái tim của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng. Tiến hành khảo sát, nghiên cứu, tham khảo ý kiến của những vị cao niên trên địa bàn nhưng với người dân dưới chân dãy núi Rục Làn, việc làm thủy lợi lấy nước tưới ruộng là một công việc khó như lên trời hái sao vậy. Nguồn nước đã ít lại còn nhiễm vôi nặng thì công trình có làm ra rồi cũng bỏ phí chứ cây lúa cũng chẳng thể sống nổi bằng nguồn nước nhiễm vôi.
Đến tháng 2/2010, công trình thủy lợi Rục Làn chính thức được khởi động, từ những sườn đồi cỏ cây rậm rạp, có độ chênh nhau trong khu đất, có chỗ lên gần ba mét và nguồn nước cách gần hai cây số… đang dần hình thành thì tháng mười năm ấy xảy ra trận lũ quét lịch sử làm xói lở gần như hoàn toàn các hạng mục đã được thi công. Vậy là bao nhiêu công sức của bộ đội, dân bản đã bị ông trời cướp trắng, tiếc đấy nhưng chẳng đáng lo bằng lúc này nhiều ý kiến cho rằng dự án khó thành công, làm ra ruộng đã khó khăn, khi làm lúa thời tiết thất thường, sâu bệnh phá hoại nên chưa chắc đã cho năng suất, sản lượng... lan truyền gây nên sự hoài nghi và làm nhụt ý chí của nhân dân.
Nhưng với niềm tin và nghị lực của người lính trên mặt trận lao động sản xuất, cùng với tính kỉ luật, biện pháp tổ chức tiến hành khoa học nên công trình đã hoàn thành vượt qua cả dự kiến ban đầu. Tổng thể công trình bao gồm các hạng mục như đập ngăn, cống xả, kênh dẫn nước, đường công vụ đến các thửa ruộng, san lấp mặt bằng khai hoang diện tích ruộng gần mười héc ta, làm hàng rào chắn bằng dây thép gai bảo vệ khu ruộng, ngăn gia súc phá hoại, tổng chiều dài hơn hai nghìn mét. Từ một vùng đất thoang hóa, đá, sỏi nay đã trở thành cánh đồng lúa trải dài dưới chân dãy núi Rục Làn.
Cây lúa sai hạt, trĩu bông, dát thảm vàng uốn theo chân dãy núi Rục Làn. Lúa vụ này tiếp tục được mùa, âm thanh niềm vui được vách núi cộng hưởng tỏa lan khắp bản xa, thôn gần. Đầu năm, thời tiết không mấy thuận lợi nên dự kiến sản lượng đạt từ 3,5 - 4 tấn/ha, thế nhưng khi lúa trổ đòng, mưa thuận, gió hòa, vì thế sản lượng vẫn giữ vững 4,5 - 5 tấn.
Nắng chiều chênh chếch, sau một ngày làm việc xuyên qua cả buổi trưa, cánh đồng Rục Làn giờ chỉ còn sót lại rơm rạ. Đất tạm nghỉ ngơi chờ hạt giống vụ sau.
Chia tay bà con dân bản, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng trở về đơn vị, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, giữ vững nền tảng thể lực cho lần tuần tra cột mốc 536 tiếp theo. Những bàn chân rắn rỏi, mạnh mẽ của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng vẫn bền bỉ bước đi về phía Rục Làn. Nơi ấy có cột mốc biên thùy 536 sừng sững trên đỉnh non xa hòa trong từng nhịp phách của lời ca Mây trắng ơi cứ trôi, cứ trôi. Và gió ơi cứ bay, cứ bay. Đường tuần tra hôm nay đẹp quá. Cỏ vẫn xanh dọc theo đường biên. Chúng tôi đi không đếm bước chân, không đếm ngày nắng, không đếm đêm mưa. Vì nơi đây đồn là nhà, biên giới là quê hương.
Biên giới Cà Xèng, tháng 5/2026
N.T.P
VNQD