Những người đi theo vết chiến tranh

Thứ Ba, 04/08/2026 00:01

. BÙI TUẤN MINH
 

Trong lễ trao giải cuộc thi Chuyện kể ở đại đội do Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức tháng 8/2024, tôi được nghe nhiều câu chuyện của đồng đội về hành trình thực hiện nhiệm vụ đặc thù đầy gian nan và trăn trở của những người lính hôm nay. Tôi đã có những đêm không ngủ khi nhớ về câu chuyện của một người lính công tác tại đội quy tập hài cốt liệt sĩ K93. Dáng nhỏ bé trầm ngâm, Thiếu tá QNCN Nguyễn Văn Dũng, đang công tác tại đội K93, Ban Chỉ huy Quân sự An Giang (nay là tỉnh Kiên Giang) đã có hơn 20 năm lần theo dấu chiến tranh, đưa những liệt sĩ đã ngã xuống trở về đất mẹ, trong vòng tay đợi chờ của gia đình và quê hương. Với anh, hình ảnh ông bà nội với khuôn mặt khắc khổ, chằng chịt những nếp nhăn tuổi tác mòn mỏi ngóng hài cốt hai người con hi sinh trở về trước khi nhắm mắt xuôi tay luôn ám ảnh anh bao nhiêu năm qua. Là người trong đội quy tập, nhưng bao nhiêu năm nay, anh hỏi thăm, lần tìm manh mối hai bác mà chưa thể thấy để hoàn thành tâm nguyện của ông bà.

Bằng giọng kể chậm rãi, nặng tiếng miền Trung, anh đưa tôi về những ngày đầu tiên của hành trình tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Qua mỗi câu chuyện, những năm tháng gian khó của đội K93 hiện lên như một thước phim quay chậm, lặng lẽ mà day dứt.

Những di vật biết nói

Đội K93 thành lập tháng 11/2000 với quân số 67 đồng chí, trong điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Địa bàn quy tập khi ấy chủ yếu ở nước bạn Campuchia, bom mìn sót lại rất nhiều, tiềm ẩn khó khăn, nguy hiểm. Không ai dạy cho đội quy tập cách đào tìm hài cốt liệt sĩ như thế nào, cách lấy hài cốt ra sao, trong hài cốt sẽ có những thứ gì... Những người lính khi ấy vừa làm, vừa dò dẫm, tự học, tự rút kinh nghiệm. Cứ thế người đi trước truyền lại kinh nghiệm cho người đi sau.

Hoạt động quy tập hài cốt liệt sĩ của đội K93

Mấy chục năm lặn lội trên đất bạn và khu vực An Giang, Nguyễn Văn Dũng hiểu rằng mỗi bộ hài cốt liệt sĩ không chỉ là một con người, mà còn là những câu chuyện còn dang dở. Nhiều người ngã xuống giữa bom pháo, thân thể không nguyên vẹn, phải góp nhặt từng mảnh cũng không đủ hình hài. Thời kì đầu, các chuyến quy tập thường đưa về các nghĩa trang tạm có từ thời chiến tranh biên giới Tây Nam (gọi là nghĩa trang tạm thời vì chưa có quy hoạch, nên khi liệt sĩ ở Campuchia đưa về thường chôn vào khu đất nào đó, sau này mới quy hoạch nghĩa trang liệt sĩ cấp quốc gia Dốc Bà Đắc). Đa số thi thể còn mới nên thịt chưa tan hết và bốc mùi. Công việc quy tập còn sơ sài, thậm chí tên tuổi của liệt sĩ gần như không có. Trong quá trình quy tập, anh phát hiện, hài cốt liệt sĩ thường được bó bằng cao su xoắn hai đầu, gấp buộc ba nút bằng dây dù hoặc dây điện, có hài cốt được gói trọn trong tăng võng... Đặc biệt, như một dấu hiệu ngầm - một quy ước khi chôn cất đồng đội, người miền Bắc đầu sẽ được đặt quay về hướng Bắc, còn người miền Nam thì quay về hướng Đông. Anh nhớ mãi kỉ niệm lần quy tập ở nghĩa trang xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang khi đội K93 chia làm nhiều tổ tìm kiếm lại các hố đã từng được đào những năm trước. “Sau nhiều ngày, tổ của tôi đào thấy bao đựng hài cốt liệt sĩ, khi đưa lên, kiểm tra kĩ thấy một ít xương và một lọ Pêlixilin nằm gọn trong đó. Tôi lau chùi chiếc lọ sạch sẽ, phơi khô, bởi nếu mở ra ngay thì chữ ở trong miếng giấy sẽ phai và biến mất. Sau mấy ngày, tôi mới cẩn thận mở ra. Miếng giấy nhỏ ghi đầy đủ họ tên ngày tháng năm hi sinh của liệt sĩ Nguyễn Đình Tấn, quê ở Hà Tĩnh. Cả tổ vỡ òa, vui mừng khôn xiết. Chúng tôi lúc đó đều có cảm giác rất lạ kì, không gì tả nổi, liệt sĩ lại cùng đồng hương với tôi”. Sau khi xin phép chỉ huy và được đồng ý, anh Dũng gọi điện khắp nơi xin số điện thoại của xã liệt sĩ Tấn, được chính quyền xã giúp đỡ nhiệt tình và liên hệ với em trai liệt sĩ tên là Tích. Ông Tích gạn hỏi anh đủ mọi thông tin để xác minh, bởi vì ngay ngày hôm sau, ông Tích cùng gia đình sẽ thuê xe vào nghĩa trang Tây Ninh bốc ngôi mộ do một nhà ngoại cảm chỉ và khẳng định như đinh đóng cột, đó là nơi chôn cất liệt sĩ Nguyễn Đình Tấn. Ngay sau cuộc gọi, gia đình ngưng việc vào Tây Ninh, thuê xe vào gặp đội K93 đang ở An Giang. Hai ngày một đêm vượt đường xa, khi đến nơi, xem giấy tờ còn lại, cả gia đình xúc động vỡ òa. Sau khi hoàn thiện các thủ tục cần thiết, liệt sĩ Nguyễn Đình Tấn được gia đình đưa về quê hương. Trước khi chia tay, mọi người trong gia đình ôm chặt từng người lính đội K93 còn lấm bùn đất, mắt rưng rưng nghẹn ngào. Với những người lính đội K93, Những khoảnh khắc ấy vô cùng thiêng liêng. Nó là niềm động viên, khích lệ tiếp thêm cho đội sức mạnh để tiếp tục công việc với vô vàn những khó khăn gian khổ đang chờ đợi phía trước.

Manh mối từ một kỉ vật.

Năm 2002, từ nguồn tin ít ỏi, anh cùng đồng đội đi tìm mộ đồng chí Vũ Năm, Phó Chính ủy Sư đoàn 2. Việc tìm kiếm vô cùng khó khăn vì dấu tích còn lại gần như không đáng kể. Mọi việc tưởng như đã dừng ở đó, thì vài năm sau, đội nghe kể rằng, trước khi sang Campuchia, đồng chí Vũ Năm và một cán bộ khác được Anh hùng Nguyễn Thị Định khi ấy là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tặng mỗi người một chiếc khăn rằn. Chi tiết nhỏ ấy trở thành manh mối duy nhất. Rồi một ngày, một em bé người Campuchia chăn bò nơi đội K93 từng đào, tìm kiếm, tình cờ phát hiện ra hang đất lạ. Đào lên thấy mảnh vải giống chiếc khăn, em sợ hãi, chạy đi báo với cha. Người cha lặng lẽ lấp xuống, chờ bộ đội Việt Nam quay lại. Khi Đội K93 trở lại, theo sự chỉ dẫn ấy, các anh tìm thấy bên trong chiếc khăn là vài mẩu xương cùng tấm nhôm khắc tên Vũ Năm.

Những câu chuyện cứ thế nối dài. Mỗi di vật, dấu tích đều như một tiếng gọi âm thầm từ quá khứ. Nghe anh Dũng kể, tôi có cảm giác như đang xem thước phim vừa mang màu sắc trinh thám, vừa thấm đẫm yếu tố tâm linh. Ở đó, những người lính thời bình vẫn lặng lẽ đi, tìm kiếm, chắp nối để đưa những anh linh liệt sĩ đang ở nơi đất khách quê người về với đất mẹ.

Sống giữa ân tình người dân nước bạn

“Chỉ khi sang đó, mới hiểu người dân Campuchia hiền lành và tình cảm đến thế. Họ vẫn chăm sóc những ngôi mộ bộ đội Việt Minh từ thời chống Pháp”. Điều anh nói khiến tôi rất ngạc nhiên bởi những ngôi mộ ấy đã ở đó hai phần ba thế kỉ. Anh bảo rằng, nếu không có sự cưu mang của người dân bản địa với tình cảm ấm nồng dành cho bộ đội Việt Nam ngày trước và cho những người lính đi tìm đồng đội hôm nay, thì nhiệm vụ quy tập sẽ gian nan hơn rất nhiều.

Một kỉ niệm vào mùa khô năm 2002, khi Đội K93 làm nhiệm vụ tại tỉnh Kampong Speu. Đơn vị đóng quân ở huyện Poset. Mỗi ngày xe chở đến bìa rừng, từ đó anh em đi bộ vào sâu trong khu vực tìm kiếm. Trên con đường quen thuộc ấy, ngày ngày, chiếc xe đi qua bìa rừng nhỏ, có một bà cụ già đứng lặng bên đường. Bà như chờ đợi, như muốn nói điều gì đó, nhưng chiếc xe không thể dừng do lực lượng bảo vệ phía bạn không cho phép, vì lo ngại an toàn. Nhiều ngày trôi qua, hình ảnh ấy lặp đi lặp lại. Cho đến một buổi chiều, linh cảm có điều gì đó thôi thúc, anh Dũng đề nghị dừng xe và nhờ người phiên dịch xuống hỏi chuyện. Và tất cả lặng đi. Bà kể, từ thời chống Pháp, có một chiến sĩ Việt Minh hi sinh tại đây. Cha bà đã chôn cất ông ở một góc vườn, gần gò mối. Khi còn sống, năm nào ông cũng đắp lại mộ, thắp hương. Trước khi qua đời, ông dặn con gái, nếu bộ đội Việt Nam sang tìm, hãy chỉ cho họ mộ người đã khuất. Từ đó đến nay, bà vẫn làm theo lời cha. Năm nào cũng chăm nom, đắp lại nấm mộ vô danh ấy, chờ ngày có người đến đón. Sau đó bà dẫn họ đến nơi. Đội quy tập đào xuống thì chỉ còn lại vài mẩu xương mục và mấy chiếc cúc áo trắng, loại cúc chỉ có từ thời Pháp… Kể đến đây, giọng anh chùng xuống. “Lúc ấy, tôi thấy mắt mình cay xè. Nghĩ về một người xa lạ, suốt bao năm vẫn lặng lẽ chăm sóc ngôi mộ không quen biết, chỉ với một lời dặn. Chúng tôi cúi đầu cảm ơn bà, như cảm ơn một người mẹ Campuchia với tấm lòng đã giữ hộ chúng tôi một phần kí ức”.

Cũng về chủ đề tình cảm của người dân nước bạn dành cho bộ đội Việt Nam, anh bảo, “Họ cũng tình cảm như người dân mình vậy, có gì cũng nhường bộ đội Việt Nam khiến chúng tôi như được sống giữa lòng nhân dân mình.” Có một lần đi quy tập đóng quân ở nhà dân, đoàn đi ba tổ, tổng cộng 15 người cả nấu cơm và phiên dịch. Vào đến Phum Kốp Rít, xã Kằm Pêng, huyện Kirivong, tỉnh Tà Keo, đoàn được gia đình ông Hon nhường cho đội hai ngôi nhà sàn để ở, máy phát điện và máy bơm nước... Đoàn ở đây khoảng hai tháng. Cứ sáng đi, làm đến chiều tối, nhưng chiều nào cũng thấy trẻ em, người già đã đứng chờ bộ đội về. Khuôn mặt ai cũng vui vẻ, phấn khởi như đón người thân. Họ cho bộ đội khi con gà, con vịt, lúc bó rau... “Chúng tôi ở đó làm công tác quần chúng, cấp phát thuốc cho dân, giúp đỡ khi dân cần, vì thế tình cảm lại càng thắm thiết”. Anh nói, người dân quý vậy bởi nơi này bộ đội Việt Nam hi sinh nhiều, khi biết là bộ đội đi quy tập hài cốt, họ nhiệt tình đi cùng giúp mọi người đào đất, tìm kiếm, góp sức như tìm người thân của chính mình. Sau này, đoàn còn lên ở nhà ông Hon nhiều lần nữa. Năm 2010, ông Hon bị bệnh mất. Mọi người trong đội đều tiếc thương, một con người dành tình cảm đặc biệt cho bộ đội Việt Nam.

Năm 2014, anh Dũng có đưa vợ và con gái lên thăm các gia đình Campuchia. Khi gặp lại anh, người dân rất đỗi vui mừng và giữ gia đình anh ở lại mấy hôm. “Cảm giác họ thấy tớ như gặp lại người thân vậy, hạnh phúc lắm, vợ con tớ rất tự hào. Sống chỉ cần có thế là đủ xứng với đời”. Gương mặt rạng rỡ, anh cười sảng khoái. Nhìn anh, tôi bỗng thấy lòng mình ấm lại. Có những niềm vui rất nhỏ, nhưng đủ để một con người đi qua cả một đời mà không thấy mình sống hoài, sống phí. Dường như tôi cũng đang sống cùng niềm hạnh phúc ấy của anh.

Dấu chân người lính thời bình

Tôi hỏi thăm anh Dũng về gia đình, ánh mắt người lính đội tập kết chợt dịu lại. Năm 2006, anh về quê cưới vợ. Vợ anh, chị Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1985, hiện là giáo viên mần non xã Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Đã tròn hai mươi năm, cũng là chừng ấy thời gian vợ chồng anh sống xa nhau gần hai nghìn cây số. Mỗi năm anh được về phép một lần, hoặc khi đến hè, vợ con lại lặn lội khăn gói vào thăm. Những năm trước, khi việc liên lạc còn khó khăn, họ chờ nhau qua từng lá thư gửi theo người quen, có khi cả tháng mới đến tay. Lúc vợ sinh con đầu lòng, anh đang ở bên nước bạn Campuchia. Đứa trẻ năm tháng tuổi thì hai cha con mới lần đầu gặp mặt. Bây giờ cháu đã là sinh viên năm nhất trường Đại học Ngoại ngữ Đà Nẵng. Còn cháu bé năm nay học lớp 7. Anh nói điều đó bằng một niềm tự hào giản dị, không ồn ào như chính cách anh đã đi qua những năm tháng của mình. “Anh có từng nghĩ sẽ xin về gần nhà?” Nghe tôi hỏi, anh cười xòa, phẩy tay. “Ôi dào, nghĩ cho mình thì dễ, nghĩ cho người mới khó”. Câu trả lời nhẹ tênh, nhưng khiến tôi lặng đi. “Người” mà anh nói, tôi hiểu, không chỉ là gia đình anh. Đó còn là những liệt sĩ vẫn chưa được trở về, là những người mẹ bạc tóc, những người cha mỏi mòn, những người vợ, người con chờ đợi trong im lặng, là cả một dân tộc từng đi qua chiến tranh vẫn còn nguyên những phần kí ức chưa được khép lại. Anh Dũng và đồng đội của mình, những người lính thời bình đang lặng lẽ làm công việc nối dài quá khứ. Không ồn ào mà bền bỉ và sâu nặng, như một lời hẹn chưa nói thành lời với những người đã khuất. Về những điều còn trăn trở, anh bảo, “nhiều lắm”, giọng dứt khoát. Ngoài việc tiếp tục tìm kiếm hai bác liệt sĩ, còn rất nhiều liệt sĩ vẫn chưa được tìm thấy để đưa về quê hương. Anh nói về một địa điểm có tên là chốt 96 lộ 4 đi cảng Xihanúcvin. Đó là những địa danh mà khi nhắc đến ai trong đoàn quân giải phóng Sư đoàn 1 cũng sẽ nhớ. Bởi ở chính cung đường này, biết bao đồng đội của lính Sư đoàn 1 đã ngã xuống để ngăn chặn các đoàn xe của địch. Họ đã sống và chiến đấu ở đây suốt những năm 1970 cho đến cuối năm 1971. Theo sổ sách ghi chép của sư đoàn, khoảng gần 200 liệt sĩ vẫn còn nằm lại hai bên lộ 4 đến nay vẫn chưa tìm được. “Vậy trong 25 năm qua, anh còn nhớ đội anh đã quy tập bao nhiêu hài cốt liệt sĩ không?”.“Nhớ chứ, làm sao mà quên được, 2.141 liệt sĩ”. Anh nói về con số một cách chắc chắn như thể nhớ phiên hiệu đơn vị mình.

Đêm Hà Nội về khuya, cái se lạnh len vào từng con phố. Câu chuyện của chúng tôi cũng khép lại. Tôi tiễn anh ra ga, chuyến tàu sắp đưa anh trở lại phương Nam, nơi những cánh rừng, dấu tích chiến tranh và còn nhiều cuộc tìm kiếm vẫn còn đang chờ đợi. Trước khi tạm biệt, tôi dặn anh, mỗi chuyến quy tập nên ghi nhật kí. Đây là kỉ niệm không phải ai cũng có cơ hội chạm tới. Một thời gian sau, tôi nhận được gmail của anh.

“Ngày 20/4/2025

Chúng tôi là những người lính của đội K93, đã chuẩn bị mọi mặt cho hành trình đi tìm mộ liệt sĩ. Tất cả đều háo hức chuẩn bị tư trang cá nhân cho chuyến đi dài ngày trên đất nước Chùa Tháp. Theo dự tính, chuyến đi của đội kéo dài khoảng gần 5 tháng. Ngày 10/3/2025, Đội K93 bắt đầu lại hành trình của mình. Chúng tôi đa phần là lính xa gia đình, xa quê hương, bởi thế không có nhiều người thân đến trong ngày chia tay và cũng không nhiều lắm sự bịn rịn. Nhưng có rất nhiều hi vọng chờ đón, bởi chúng tôi hiểu những chuyến đi như thế này là mong mỏi, là niềm tin của rất nhiều thân nhân liệt sĩ và chính cả những người đi làm nhiệm vụ như chúng tôi. Trong số các đồng đội đi lần này, có người lần đầu tiên đi làm nhiệm vụ, có người lần thứ hai, có người không nhớ hết bao nhiêu lần mình từng hành quân sang nước bạn. Tuổi tác, tính cách, hoàn cảnh gia đình có lẽ khác nhau, nhưng cùng chung ý nghĩ và khát khao, làm sao tìm được thật nhiều hài cốt liệt sĩ, quyết đưa được hết các chú, các bác liệt sĩ về quê hương. Thế là đã đủ vui mừng và vinh quang đối với cánh lính quy tập.

Đoàn xe chúng tôi lăn bánh qua cửa khẩu Tịnh Biên, ngoảnh lại đằng sau, Tổ quốc dần lùi xa. Nhiều đồng đội trên xe trò chuyện râm ran về mọi thứ trên đời. Vẫn lạc quan tinh nghịch. Lính mà, thời nào chả thế! Cánh lính mới thì tò mò quan sát, hỏi han. Còn tôi, có lẽ mải bận với thế giới của riêng mình, thế giới của những câu chuyện về những người lính đã nằm xuống, về gia đình họ, về những mất mát xen lẫn hạnh phúc, vinh quang. Ngần ấy năm qua đi, có lẽ họ cũng khao khát được trở về với người thân, với quê hương, nguồn cội.

Đoàn xe của chúng tôi đến nơi đóng quân gần 12 giờ trưa. Chúng tôi dựng lều và chuẩn bị cho ngày mai.

Ngày mai. Những lưỡi cuốc đầu tiên. Lưỡi cuốc dài khoảng 30cm ấy, sau một tháng sẽ bị mòn vẹt hẳn đi. Cái nóng như đổ lửa hơn 40 độ C ở Campuchia không làm nản lòng những người lính đi tìm đồng đội. Những bàn tay thấm máu của các cậu lính mười chín, đôi mươi chưa từng cầm cuốc vẫn tiếp tục cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Cánh lính già, lính trẻ động viên nhau “khó khăn nào cũng vượt qua”.

Sau hơn một tháng tìm kiếm, kết quả chưa được như mong đợi. Chúng tôi sợ hài cốt liệt sĩ giờ đã không còn nguyên vẹn, địa hình thay đổi, những người già biết chuyện ở đây cũng không còn nhiều nữa. Việc quy tập hài cốt các liệt sĩ càng ngày càng khó khăn, phức tạp. Lo lắng là thế nhưng lại khiến chúng tôi càng nỗ lực, kiên trì hơn.

Giữa cái nắng mùa khô như rang chảo trên đất Campuchia, sự căng thẳng đã hiện lên trên từng khuôn mặt cán bộ, chiến sĩ. Có ai đó trong đoàn nhỏ to, hay là chưa phải ngày tốt, hay là các bác muốn thử sức cánh lính mình? Đám lính già, phủ nhận. “Cả tháng không tìm được mộ có gì là ghê gớm, chúng ta đi tìm mộ chứ nào chỉ quy tập theo sơ đồ”. Nói rồi, chúng tôi lại động viên nhau cố gắng. Cứ thế, đều đặn ăn, ngủ, đào bới, dò tìm. Những ngày sau đó không ai nói gì nhưng tất cả luôn tin và hi vọng.

Ngày… tháng… năm

Hôm nay, khi chúng tôi đang hì hục đào bới thì có tiếng reo phá ngang trời của đồng đội: “Đây, đây rồi”. Tất cả anh em đều hướng mắt về đó mừng rỡ. Lúc ấy, gần như bầu không khí căng thẳng của những ngày qua đã biến mất. Kết quả bước đầu như một động lực giúp những người lính quyết tâm hơn. Rồi chúng tôi lại hi vọng và vui mừng khi có thêm những tin vui. Không vui mừng sao được khi người lính đã chạm được mục tiêu đề ra, cánh lính đi tìm mộ mà thấy mộ còn gì hơn, vui từ những điều đơn giản nhất nhưng cũng là cao cả nhất.

Những ngày sau đó Đội K93 làm việc cật lực. Chưa đầy 5 giờ sáng chúng tôi đã thức dậy, vệ sinh cá nhân, ăn vội để bắt đầu một ngày làm việc. Nắng mọi nơi vẫn đổ dồn về đây như thử thách. Lật sấp bàn tay lại, nắng cháy sém. Đen đủi, bóng loáng. Chiều, mặt trời gác núi chúng tôi mới cùng nhau về lán. Cơm nước xong, tên nào tên nấy “tự kỉ” với điện thoại, nghe nhạc, lướt web, vào mạng xã hội, gọi điện về cho gia đình. Đêm xuống, cánh lính trẻ thi nhau viết nhật kí, đọc báo, ngắm hình ca sĩ, diễn viên, nói chuyện bịn rịn với bạn gái. Nhiều thằng thích thêu dệt những chuyện li kì về tâm linh, ngoại cảm. Thực ra chẳng ai tin. Ai cũng biết chúng nó tưởng tượng ra cốt là để tạo ra tiếng cười trước giờ đi ngủ, nhưng cũng nhiều đêm, lán buồn và yên tĩnh. Không còn chuyện gì để huyên thuyên, mệt mỏi bủa vây, thế rồi giấc ngủ đến với cả đội từ bao giờ không biết. Chủ nhật, ngày nghỉ của toàn đội. Ngày giải lao tức là không đi làm như ngày thường. Nhưng đó lại là ngày anh em chuẩn bị sửa sang, mài giũa lại xẻng, cuốc để bắt đầu một tuần việc mới”.

Đọc xong những dòng nhật kí của anh gửi vào emai, tôi chợt nghĩ, có lẽ chiến tranh chưa hề thực sự khép lại. Nó vẫn hằn dấu bởi những vụn hài cốt liệt sĩ còn nằm trong lòng đất chưa được tìm thấy, trong nỗi chờ đợi mỏi mòn của những người ở lại. Và những người lính hôm nay như anh Dũng đang lặng thầm và bền bỉ lần theo dấu vết chiến tranh tìm lại tên tuổi, quê hương cho những người đã ngã xuống. Đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là cách các anh gìn giữ đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc, cho lớp lớp thế hệ người Việt hôm nay và mai sau hiểu được giá trị của hòa bình.

B.T.M

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)