. BÙI SỸ HOA
Theo hiểu biết hạn hẹp của người viết khi đọc các trường ca của Hữu Thỉnh, tính riêng về đề tài Bác Hồ, hình tượng Bác xuất hiện ở chương V (Tự do) trong trường ca Đường tới thành phố, trong toàn bộ trường ca Trăng Tân Trào và ở 2 chương Người ra trận đầu tiên, Thư Bác trong trường ca Giao hưởng Điện Biên. Thiết nghĩ, việc phân tích, tìm hiểu nội dung cũng như hình thức của những chương/ trường ca vừa nêu sẽ giúp chúng ta hiểu đầy đủ và cặn kẽ hơn những đóng góp của thơ Hữu Thỉnh về đề tài Bác Hồ.
Trong số các tác phẩm được đánh giá cao sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, không thể không nhắc tới Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh. Ở trường ca này, nhà thơ đã tái hiện hình ảnh Bác Hồ trong đoàn quân chiến thắng từ một góc nhìn rất cụ thể, riêng biệt: Con đã từng khóc Bác ở trong rừng/ Phải dựa vào cây trong đêm truy điệu/ Chiếc Orionton giàn giụa nước mưa/ Bài điếu văn nghe khi rành khi mất/ Trong buồng lái xe tăng nhỏ hẹp/ Chúng con nâng niu tấm ảnh của Người. Ở đây, thể thơ tự do phóng khoáng, ngôn ngữ giản dị đã thể hiện tấm lòng sắt son của người viết vào khoảnh khắc đặc biệt khi nghe tin Bác mất. Và trong giây phút đau thương ấy, từ “buồng lái xe tăng nhỏ hẹp”, Hữu Thỉnh kịp nói lên mong mỏi khôn nguôi của người lính xe tăng nói riêng và người lính Cụ Hồ nói chung: Chúng con thèm nghe Bác nói một câu/ Giữa bến Nhà Rồng mênh mông trời nước/ Thèm nghe thơ, thèm đôi tay bắt nhịp…
Khoảng thời gian giữa các trường ca Đường tới thành phố - Trăng Tân Trào - Giao hưởng Điện Biên là trên dưới 50 năm thơ Hữu Thỉnh đeo đuổi đề tài Bác Hồ. Đó là khoảng thời gian cần thiết để đi, để đọc và nghiên cứu tư liệu, nghiền ngẫm, lựa chọn, tìm cảm hứng lớn và ra quyết định cho những dự án đầy ắp thi liệu trong sự nghiệp thơ ca của Hữu Thỉnh.
Từ “buồng lái xe tăng nhỏ hẹp” viết về Bác một cách đơn sơ, gợi mở, Hữu Thỉnh từng bước tìm tòi, suy ngẫm, tạo cho mình tư thế, vị thế mới khi đặt bút viết về Bác với một sức vóc và tầm nhìn mới, để đem lại nhiều thành tựu mới. Sự từng trải của cuộc đời, ý thức trách nhiệm của công dân, bản lĩnh sáng tạo của ngòi bút và nhiều điều kiện, hoàn cảnh khác cho phép nhà thơ chọn những khoảnh khắc đặc biệt trong đời hoạt động của Bác để qua đó xây dựng nên hình tượng Bác vừa vĩ đại, lớn lao lại vừa đặc biệt gần gũi, giản dị trong lòng dân. Từ một “lát cắt”, một sự việc có thật là Bác bị bệnh nặng khi ở Tân Trào và được một vị thầy thuốc không rõ danh tính cứu chữa qua cơn nguy kịch, nhà thơ đã tái hiện thành công những năm tháng bôn ba hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác trong Trăng Tân Trào. Điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc ở trường ca này là hình tượng trung tâm: trăng. Trăng vừa là một thực thể thiên nhiên (Trăng cũng thức cùng Người/ Tân Trào dào dạt sóng), vừa là người bạn tri âm tri kỉ của Bác, luôn theo Người ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, từ ở quê nhà (Trở mình đụng phải trăng/ Ngủ quên trên Bến Ngự) hay nơi đất khách (Vằng vặc một niềm quê/ Soi người đi muôn dặm). Ánh sáng của vầng trăng soi đường cho Bác cũng là ánh sáng cách mạng chỉ đường cho quốc dân đi: Cách mạng bén cầu thang/ Soi trăng lên từng bậc. Và trong lòng mỗi người dân Việt Nam, Bác chính là ánh trăng đẹp nhất, tỏa sáng lung linh nhất, như một vị tiên đem phước lành cho dân tộc: Người vì nước quên thân/ Nhân hiền cho quả thiện/ Người đi và người đến/ Tự mình nâng bước tiên.

Đến trường ca Giao hưởng Điện Biên, nhà thơ đã dựng nên hình ảnh “Người ra trận đầu tiên” ung dung, tự tại giữa những ngày kháng chiến gian truân: Bác lẫn vào mây, mây lẫn núi/ Dốc dài dép mỏng bước du xuân. Trên cương vị người sáng lập nên Quân đội Nhân dân anh hùng, Bác có tầm nhìn xa trông rộng hiếm thấy, lường trước mọi biến động khôn lường phía trước: Thắng to nhưng là mới bắt đầu. Trong một số chương khác, hình ảnh Bác lại được nhà thơ xây dựng với vẻ đẹp của tấm lòng nhân hậu bao la, ngay cả với kẻ thù: “Ông già” cởi áo ấm/ Thương cảm khoác lên cho/ Quan tư Đuy-a-rit/ Nghẹn ngào quá bất ngờ. Đến chương X, hình ảnh Bác trở về với sự gần gũi, thân thuộc với người dân và chiến sĩ: Trước khi nổ súng chuyền thư Bác/ Phút giây im ắng nắng xôn xao/ Tưởng như Bác đến từng đơn vị/ Nâng mọi trái tim khắp chiến hào.
Từ việc sử dụng thể thơ tự do trong trường ca Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh sau bao trải nghiệm thực tế đã mạnh dạn quay về sử dụng câu thơ 5 chữ trong Trăng Tân Trào rồi tiếp theo là câu thơ 7 chữ là chủ đạo cùng với các câu thơ 2 chữ, 3 chữ, 4 chữ và lục bát trong Giao hưởng Điện Biên. Ai ai cũng biết thể loại không tự nó quyết định chất lượng tác phẩm và cũng khó nói Hữu Thỉnh sở trường thơ tự do hay thơ 5 chữ, 7 chữ hay lục bát. Vấn đề là tại sao với Trăng Tân Trào, ông sử dụng chủ đạo thơ 5 chữ, còn trong Giao hưởng Điện Biên lại là thơ 7 chữ? Với một người từng trải, thường trực quan niệm “thơ là kinh nghiệm sống” nên để đi đường dài, đường xa, Hữu Thỉnh biết rõ mang theo những gì cần thiết, mang bằng cách nào… sẽ là chuyện sống còn, quyết định đến thành công hay thất bại, nên cần được tính toán kĩ lưỡng. Hữu Thỉnh khi viết Trăng Tân Trào hay Giao hưởng Điện Biên chắc chắn không bao giờ muốn hành trình với những câu thơ tự do, tung tẩy mà cần một hành trang gọn nhẹ, bước nào vững chắc bước đó và cần nhất là đi đến đâu cắm mốc cụ thể đến đó, càng đi dài càng chủ động, khỏe khoắn. Thơ 5 chữ, 7 chữ không có “đất” cho ngòi bút la cà, rậm rạp, trái lại cần tinh gọn, điểm huyệt, vang ngân. Sự gò bó, khắt khe của thể loại buộc nhà thơ phải lao động cật lực, phải gia công tỉ mỉ, thậm chí phải “lao đầu vào đá” để có thể “phá vỡ được bức tường” như có người từng nói. Sự lựa chọn này rõ ràng giúp Hữu Thỉnh có cơ hội trở về với các thể thơ truyền thống và bằng tài năng lão luyện để vượt qua những gì cũ mòn, quen thuộc, đảm bảo không hụt hơi, tụt lại để yên tâm tạo lập một giọng thơ quen mà mới, mà lạ, mà thu hút.
Hữu Thỉnh còn có trường ca Biển và nhiều tập thơ xuất sắc khác với đầy đủ loại thể. Nếu đọc kĩ, sẽ dễ dàng nhận ra từ chính các bài thơ, câu thơ như một sự thử nghiệm, tập dượt từng bước trong cả mấy chục năm qua như Vầng trăng ấy chở chúng tôi cập bến (Chuyến đò đêm giáp ranh), Độc lập theo tăng vào cổng chính/ Cờ treo trên đỉnh nước non ơi (Bữa cơm chiều trong Dinh Độc lập), Từ nơi này anh thả trăng lên (Gửi từ đảo nhỏ)... đã dẫn đến những câu thơ xuất sắc trong các trường ca viết về Bác kính yêu, đậm chất riêng, tạng riêng Hữu Thỉnh. Đọc Trăng Tân Trào, chúng ta thấy chất riêng ấy lung linh, sống động như cách tạo lập một câu thực đi liền một câu ảo: Linh hồn của tự do/ Thở dồn trong đám cỏ/ Chí lớn thu giang sơn/ Giấu mình trong tre nứa. Một ý thực đi liền một ý ảo: Ai bỏ quên bến quê/ Mái chèo neo xứ sở. Câu thơ được nén chặt với các ý thơ gọn mà vang: Trái treo cành độc lập hay Cuốc cày trồng hi vọng...
Nhà thơ Trần Đăng Khoa có nhận xét rất đáng chú ý rằng “Hữu Thỉnh viết về Bác rất mộc”, lại cũng có người nói “thơ Hữu Thỉnh là thơ ảo”. Theo tôi, Hữu Thỉnh luôn xuất phát từ việc viết “mộc”, tự sự kiệm lời, không bao giờ kể lể, dài dòng, đồng thời ông thường trực ý thức làm mới, nâng cấp ý thơ, câu thơ, lời thơ để tạo ra một hiệu ứng thơ mới mẻ, thăng hoa, nhiều tầng ý nghĩa. Hữu Thỉnh không chỉ mô tả sự việc, chi tiết như đã biết, mà còn bồi đắp, chắp cánh cho hình ảnh, chi tiết đó một “sức sống mới”. Cái hay, cái đặc sắc của Hữu Thỉnh là nói cái lớn qua cái nhỏ, nói điều vĩ đại qua cái bình dị và luôn bám chắc vào hiện thực cuộc sống, bám rễ sâu trong cuộc sống để vươn tìm cái cao cả, sự bay bổng, khơi gợi...
Đọc thơ Hữu Thỉnh viết về Bác từ khá lâu, không hiểu sao người viết cứ liên tưởng đến một cánh-đồng-thơ in bóng một người lính trở về, cày sâu cuốc bẫm, một người thơ lực lưỡng, săn chắc, xởi lởi và tâm huyết, mồ hôi nhễ nhại đánh vật với từng con chữ, chọn nhặt từng hạt giống, từng câu thơ viết và xóa, ấp ủ niềm tin về những mùa sau sai bông, chắc hạt, bội thu hơn nữa. Trên cánh đồng thơ ấy luôn vằng vặc một vầng trăng, sóng trăng bát ngát, vang ngân.
B.S.H
VNQD