. LÊ NGỌC SƠN
Na Mèo là một xã biên giới ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá có cửa khẩu quốc tế đường bộ duy nhất nối Thanh Hoá với tỉnh Hủa Phăn nước bạn Lào. Theo tiếng dân tộc Thái, “Na” nghĩa là ruộng, còn “Mèo” là cách nói chệch đi của ông ba mươi, ông hổ. Na Mèo có thể hiểu là vùng ruộng có nhiều hổ. Chỉ nghe tên thôi cũng đủ hình dung nơi này từng xa xôi, hoang vu và đầy vẻ bí ẩn của đại ngàn thuở trước. Ngày xưa, muốn đến được Na Mèo, người ta phải mất tới bốn, năm ngày đường. Trong kí ức của nhiều gia đình xứ Thanh, luôn có dấu ấn của một thời cha ông hay một người họ hàng nào đó từng lên miền núi công tác. Cái tên Na Mèo theo tôi từ rất lâu, qua những cột mốc ven đường ghi dòng chữ “Na Mèo… km”, gợi cảm giác về một miền biên viễn. Nhưng mãi đến bây giờ, tôi mới có dịp đặt chân tới đó. Đường lên Na Mèo nay đã được trải nhựa phẳng lì. Dẫu vậy, cũng như nhiều cung đường miền núi phía Tây xứ Thanh, nó vẫn thưa vắng, quanh co men theo những triền núi hun hút. Hai bên đường, những cánh rừng nguyên sinh vẫn giữ được màu xanh thẳm của đại ngàn.
Từ xã Thiên Phủ của huyện Quan Hoá cũ, muốn tới được Na Mèo phải vượt qua một đoạn đường đèo quanh năm mờ sương. Sương núi giăng kín như một dòng sông trắng, lúc cuộn trào từ thung sâu lên, lúc lại tràn ngang mặt đường. Chúng tôi may mắn được ngắm biển mây bồng bềnh ngay trước mắt. Nhưng chỉ trong ít phút, gió núi đã cuốn nó đi, để lại khoảng không mờ nhòe nhân ảnh giữa những sườn núi hun hút…
Chúng tôi biết mình đã tới cửa khẩu Na Mèo khi nhìn thấy những đoàn xe container nối đuôi nhau xếp hàng chờ làm thủ tục thông quan. Tạm nghỉ ở một căn homestay nhỏ có tên Mường Xia, có lẽ là nơi lưu trú homestay duy nhất ở khu vực cửa khẩu, chúng tôi chờ đến đầu giờ chiều để vào thăm hỏi và làm việc với cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng Na Mèo. Do số phòng ở homestay khá hạn chế trong khi đoàn thực tế của Tạp chí Xứ Thanh lại đông người, nên một số thành viên, sau khi được sự đồng ý của đơn vị, đã nghỉ lại trong phòng của các chiến sĩ biên phòng. Sau này tôi mới biết, quân số của đồn thực ra không hề ít, nhưng phần lớn cán bộ, chiến sĩ đã xuống bám bản, bám chốt, nên vẫn còn phòng trống cho khách nghỉ nhờ. Đồn Biên phòng Na Mèo quản lí tuyến biên giới dài 37,6km thuộc địa bàn hai xã Na Mèo và Sơn Điện. Địa bàn vùng biên rộng, phức tạp nên lực lượng của đồn phải căng mình dàn trải khắp nơi, khoảng 70% quân số thường xuyên bám bản.
Tiếp chúng tôi chiều hôm ấy là Thượng tá Hoàng Ngọc Bình, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Na Mèo. Trước đó, anh từng là Đồn trưởng Đồn Biên phòng Trung Lý và mới chuyển công tác về đây hơn một năm. Trong chuyến đi dọc dải biên cương cách đây hơn hai năm, đoàn Tạp chí Xứ Thanh từng gặp anh tại Trung Lý và đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ để có thể tới những bản làng biên giới xa xôi. Và như một cái duyên, lần này chúng tôi lại gặp anh. Qua câu chuyện, tôi bất ngờ nhận ra đồng hương, khi anh cũng là người con của vùng đất miền biển Tĩnh Gia.
Nhấp ngụm trà nóng, anh Bình kể rằng công tác đối ngoại của đơn vị rất bận rộn. Đặc biệt sau Tết Bunpimay, Tết cổ truyền với lễ hội té nước nổi tiếng của người Lào, cán bộ, chiến sĩ trong đồn gần như không có ngày nào ngơi việc. Đón rồi lại tiễn các đoàn khách, làm thủ tục an ninh cho những đoàn công tác từ cấp tỉnh, cấp huyện đến các sở, ban, ngành của hai bên. Anh cười hiền: “Ngày mai lại có đoàn Hủa Phăn sang dự sự kiện khai trương biển Sầm Sơn”. Rồi anh nhẩm tính lịch làm việc như đã thành quen thuộc. Hóa ra, phía sau vẻ bình yên của vùng biên không chỉ có những chuyến tuần tra giữa núi rừng, mà còn có biết bao công việc thầm lặng để nối liền tình hữu nghị giữa hai bên biên giới.
Trên địa bàn hai xã Na Mèo và Sơn Điện hiện có ba bản người Mông theo hướng Quan Sơn (cũ), còn lại phần lớn đồng bào Mông sinh sống ở khu vực xã Mường Lát. Ba bản người Mông gồm Mùa Xuân, Xía Nọn và Ché Lầu. Đây là các bản nằm ở khu vực cao nhất trên tuyến biên giới hai xã. Khu vực này rất khó khăn. Theo tập quán của đồng bào Mông, bà con thường sinh sống ở khu vực cao, không ở thấp hơn người Thái hay người Kinh, nên điều kiện sinh hoạt còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tuyến biên giới đã được Đồn Biên phòng và các cơ quan, ban ngành quan tâm đầu tư. Hệ thống đường giao thông theo các chương trình, đề án của Bộ đội Biên phòng tỉnh đã được triển khai, kết hợp đường tuần tra với phục vụ dân sinh cho bà con. Hiện nay, đường bê tông đã đến bản Ché Lầu, đang tiếp tục triển khai lên Mùa Xuân, thời gian tới sẽ đến Xía Nọn.
Lực lượng biên phòng trên địa bàn có một chốt cố định tại các khu vực gần với bản. Với ba bản người Mông, hiện có sáu đồng chí phụ trách. Ngoài nhiệm vụ bám bản thường xuyên, các đồng chí có thể rút về chốt để nghỉ ngơi, sau đó quay lại địa bàn khi cần thiết hoặc khi đơn vị có sinh hoạt, giao ban. Do khoảng cách từ các bản về đồn rất xa và đi lại khó khăn, đơn vị đã mượn tạm một nhà dân để làm chốt dã chiến. Việc xây dựng chốt chính thức hiện chưa triển khai do phải có quyết định của Bộ Quốc phòng về đất đai và đầu tư. Khoảng cách từ chốt về đồn gần nhất khoảng 27km, xa nhất khoảng 40km.

Bà con người Lào qua chốt biên phòng đi chợ vùng biên
Nghe anh Bình nhắc đến ba bản người Mông xa xôi ở Na Mèo, nhà văn Quỳnh Thơm không khỏi bồi hồi nhớ lại chuyến “cắm bản” ở Ché Lầu vào tháng bảy năm ngoái. Khi ấy, vừa tới đồn công tác, chị được chỉ huy đơn vị cử thiếu tá Mai Xuân Thắng đưa đi thực tế tại các bản. Hai ngày ở đây, chị ăn cùng mâm cơm, ngủ cùng nơi ở với các chiến sĩ trong tổ bám bản. Bữa ăn tuy giản dị nhưng luôn có những đĩa rau xanh do chính các anh tự tay trồng. Buổi tối, các chiến sĩ còn đưa chị theo chân một vòng tuần tra biên giới trong một đêm vùng biên giá lạnh. Họ kể cho Quỳnh Thơm nghe chuyện gia đình, chuyện vợ con, cha mẹ ở quê nhà giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng biên viễn… Họ chấp nhận sống xa những người mình yêu thương nhất, để đổi lấy sự bình yên cho một vùng biên giới. Và chính từ những điều bình dị ấy, hình ảnh người lính biên phòng trở nên gần gũi, xúc động hơn bất cứ lời ngợi ca nào.
Theo lời anh Bình kể, có một chương trình rất ý nghĩa đã được các đồn biên phòng nơi tuyến đầu Tổ quốc âm thầm duy trì suốt nhiều năm qua, từ thời anh còn công tác ở Trung Lý cho đến khi chuyển về Na Mèo. Đó là mô hình “Con nuôi đồn biên phòng”, nơi những đứa trẻ mồ côi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở các bản làng biên giới được đón về nuôi dưỡng, chăm sóc như những thành viên thực sự trong đại gia đình quân ngũ. Các em được ăn ở, học tập, sinh hoạt ngay tại đơn vị, lớn lên trong tình yêu thương và sự chở che của những người lính quân hàm xanh. Như trường hợp cháu Giàng A Phành, một cậu bé người Mông từng được Đồn Biên phòng Trung Lý nhận làm con nuôi. Khi ấy, Phành mới học lớp 4. Trong một lần đi chăn trâu rồi đá bóng cùng bạn bè, em không may bị một mảnh vầu đâm vào mắt cá chân. Do điều kiện y tế vùng cao còn nhiều thiếu thốn, khi người ta lấy mảnh vầu ra thì phần đầu vẫn còn sót lại bên trong. Vết thương bên ngoài nhanh chóng lành miệng, nhưng bên trong vẫn âm ỉ sưng đau kéo dài. Hoàn cảnh của Phành càng khiến người ta xót xa hơn. Bố mất sớm, mẹ đi bước nữa, để lại ba anh chị em sống nương tựa vào ông bà và họ hàng. Chỉ hai ngày sau khi hoàn tất thủ tục nhận con nuôi, các anh lập tức đưa em xuống Bệnh viện Nhi để khám chữa bệnh. Kết quả chụp chiếu cho thấy dị vật vẫn còn nằm sâu trong chân và em phải trải qua một ca phẫu thuật để lấy ra. Trong suốt thời gian điều trị, một cán bộ của đồn được cử ở lại chăm sóc em như một người cha thực thụ. Khi ấy, Phành còn nhỏ, tiếng Việt nói chưa sõi, tính tình lại rụt rè. Người trong phòng bệnh tò mò không rõ vì sao bố nói tiếng Kinh mà con lại nói tiếng Mông. Mãi sau họ mới biết đó là đứa trẻ được đồn biên phòng nhận nuôi, còn người đàn ông đang tận tình chăm sóc em chỉ là cán bộ được đơn vị cử xuống. Khi biết được hoàn cảnh của Phành, Giám đốc Bệnh viện Nhi đã trực tiếp xuống thăm hỏi, động viên và quyết định miễn toàn bộ chi phí chữa bệnh, ăn uống cho hai người. Ngày em xuất viện, công đoàn bệnh viện còn trao tặng hơn 5 triệu đồng cùng thuốc men để mang về. Gần đây, trước dịp tết, đơn vị tiếp tục vận động các nhà hảo tâm hỗ trợ xây dựng cho ba anh em một căn nhà kiên cố trị giá hơn 200 triệu đồng để có nơi ở ổn định cùng ông bà. Người trực tiếp đưa Phành đi viện năm ấy là đồng chí Đinh Tuấn, hiện đã nghỉ hưu. Anh Bình cười hiền bảo, anh Tuấn rất “mát tay” trong việc chăm sóc những đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Có lẽ cũng bởi chính anh là con liệt sĩ, bố hi sinh từ khi anh còn nhỏ và đến nay gia đình vẫn chưa tìm được phần mộ. Từng trải qua những mất mát của riêng mình nên anh càng thấu hiểu nỗi thiếu vắng tình thân của những đứa trẻ nơi biên giới. Mô hình “Con nuôi đồn biên phòng” do Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phát động đến nay đã tạo cơ hội cho hàng trăm học sinh mồ côi, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới trên cả nước được tiếp tục học tập và trưởng thành. Được sống trong môi trường chan chứa yêu thương, nhiều em đã có thêm niềm tin, thêm điểm tựa để bước tiếp trên con đường tương lai. Ở những vùng biên viễn xa xôi, những người lính quân hàm xanh không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, giữ gìn bình yên nơi phên dậu Tổ quốc, họ còn đảm nhận những vai trò rất đặc biệt: vừa là người cha, người anh, vừa là người thầy của những đứa trẻ thiếu vắng hơi ấm gia đình.
Một trường hợp khác được đồng chí Đinh Tuấn trực tiếp chăm sóc là cháu Gia Ngọc Tuấn. Bước vào môi trường quân đội khi mới mười tuổi, cuộc đời của cậu bé nghèo mồ côi cha ấy đã thay đổi hoàn toàn. Đồn Biên phòng Trung Lý không chỉ cho em một chỗ ở hay những bữa cơm đủ đầy, mà còn cho em một mái nhà đúng nghĩa. Ở nơi ấy, em có một người bố và cũng có rất nhiều “người bố” khác luôn quan tâm, dõi theo từng bước trưởng thành của mình. Theo anh Bình, hiện nay Gia Ngọc Tuấn đang theo học nghề tại trường dạy nghề ở Ngọc Lặc. Đơn vị và gia đình đồng chí Đinh Tuấn cũng đang định hướng để sau khi tốt nghiệp, em có thể về làm việc tại doanh nghiệp của người thân trong gia đình anh Tuấn.
Đồn Biên phòng Na Mèo trước đây cũng từng nhận nuôi một số cháu nhỏ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Dù có những trường hợp gia đình chuyển nơi sinh sống khiến việc theo dõi, chăm sóc không còn được thường xuyên, nhưng chương trình vẫn đang được duy trì bằng tất cả trách nhiệm và tình thương của người lính. Anh em cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục rà soát ở các bản làng biên giới để kịp thời giúp đỡ những đứa trẻ thực sự cần một điểm tựa. Bên cạnh đó, hiện nay Đồn Biên phòng Na Mèo đang nhận hỗ trợ bốn học sinh người Lào trong chương trình “Nâng bước em tới trường”. Riêng trên địa bàn xã Na Mèo có 27 cháu được đơn vị đồng hành, hỗ trợ thường xuyên. Nguồn kinh phí được đóng góp từ Bộ đội Biên phòng, các tổ chức, cá nhân hảo tâm và chính cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.
Khi nghe những con số ấy, điều đọng lại trong tôi không phải là số lượng học sinh được giúp đỡ mà là phía sau con số ấy là những phận người, những ước mơ và tương lai đang được nâng đỡ bằng những tấm lòng lặng thầm. Nơi biên giới xa xôi, những người lính quân hàm xanh vẫn ngày ngày âm thầm gieo những hạt giống yêu thương và hi vọng. Và từ những hạt giống ấy, sẽ có thêm nhiều đứa trẻ trưởng thành, vững vàng bước ra khỏi đói nghèo để viết tiếp những câu chuyện đẹp cho chính cuộc đời mình.
Anh Bình có phong thái nhỏ nhẹ, ít cười, lúc nào cũng toát lên vẻ nghiêm nghị của một người lính đã nhiều năm gắn bó với biên cương. Thế nhưng qua những câu chuyện anh chia sẻ, tôi cảm nhận được phía sau vẻ ngoài điềm đạm ấy là một tình yêu sâu nặng dành cho mảnh đất nơi địa đầu Tổ quốc. Có lẽ để có thể bám trụ nơi địa bàn biên giới suốt ngần ấy năm, những người lính biên phòng phải mang trong mình tình yêu rất lớn với dải đất biên cương, cùng trách nhiệm thiêng liêng trong việc gìn giữ từng cột mốc, từng tấc đất nơi biên giới Tổ quốc.
Năm vừa rồi, vợ và các con của anh phải lên tận đồn để đón tết cùng bố. Với những người lính biên phòng, những ngày lễ, ngày tết cũng chính là khoảng thời gian họ phải căng mình trực chiến, bảo vệ bình yên nơi biên giới để mọi người được đón một mùa xuân trọn vẹn. Anh Bình cũng là đồng đội với em rể của chị trưởng đoàn chúng tôi. Chị bảo, qua em gái mình, chị biết, làm vợ lính biên phòng cũng cần sự can trường không kém, bởi các chị vừa phải làm mẹ, vừa thay chồng gánh vác gần như toàn bộ công việc gia đình trong phần lớn thời gian của năm. Mọi người cùng cười trước câu nói ấy, nhưng trong tiếng cười vẫn thấp thoáng sự cảm phục dành cho những người phụ nữ nơi hậu phương bởi phía sau mỗi người lính đang ngày đêm canh giữ biên cương luôn có những người vợ lặng lẽ hi sinh, âm thầm sẻ chia và trở thành điểm tựa để các anh yên tâm bám bản, bám dân, hoàn thành nhiệm vụ.
Được sự cho phép của Đồn Biên phòng Na Mèo, chúng tôi sang thăm cột mốc biên giới số 327. Cả đoàn đứng nghiêm, tay trái đặt lên ngực, tay phải giơ lên trán. Trong khoảnh khắc ấy, ai cũng cảm thấy niềm tự hào lặng lẽ dâng lên. Chúng tôi đi qua cây cầu nhỏ bắc qua suối Nậm Xôi, dòng suối cũng chính là ranh giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào. Trước cửa khẩu của Lào với kiến trúc ba mái tháp đặc trưng, mọi người dừng lại chụp vài tấm ảnh kỉ niệm giữa không gian biên giới yên bình.

Ảnh các văn nghệ sĩ tại cột mốc biên giới 327
Chiều hôm ấy, Thiếu tá Lê Văn Long dẫn đoàn chúng tôi trên bốn chiếc xe máy men theo con đường núi quanh co để vào bản Sa Ná. Trời về chiều bảng lảng mây, những dãy núi biên cương nối tiếp nhau xanh thẫm. Khó ai có thể hình dung được rằng giữa khung cảnh bình yên ấy, vào một ngày tháng 8/2019 từng xảy ra một trong những trận lũ quét đau thương nhất ở miền Tây Thanh Hóa. Càng tiến gần bản làng, tôi càng thấy lòng mình chùng xuống khi nghĩ đến những mất mát mà người dân nơi đây đã phải trải qua. Chỉ trong một buổi sáng, dòng nước dữ từ Khe Son bất ngờ đổ xuống, cướp đi sinh mạng của 10 người, cuốn trôi và làm hư hỏng nặng 51 ngôi nhà. Ruộng nương bị vùi lấp dưới đá và bùn đất, ao cá, gia súc cũng bị dòng lũ hung hãn cuốn đi. Với người dân Sa Ná, đó là ngày đau thương mà nhiều đời sau cũng không thể quên.
Theo lời kể của các cán bộ Đồn Biên phòng Na Mèo, khi hay tin lũ quét tàn phá bản làng, đơn vị lập tức cử ba tổ công tác vào ứng cứu. Thông tin liên lạc bị gián đoạn, các tổ đi cả ngày trời không thấy tin tức gì về, khiến những người lính trực ở nhà mà ruột gan như lửa đốt. Thì ra giao thông bị chia cắt, lũ vây tứ bề, hai tổ không vào được bản, một tổ phải cắt rừng vòng sang phía Lào rồi mới vòng lại bản, không có sóng điện thoại nên anh em không thể báo cáo về. Đúng lúc lo lắng nhất thì đồn nhận được tin báo anh em đã vào bản.
Cùng với lực lượng quân sự, công an, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Thanh Hoá đã huy động gần 200 cán bộ, chiến sĩ từ Tiểu đoàn Huấn luyện - Cơ động và các đồn biên phòng tuyến biển lên bản Sa Ná thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn và hỗ trợ nhân dân. Sau khi tiếp cận được bản, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị vũ trang khẩn trương cứu chữa cho người bị thương, động viên những gia đình bị nạn; nhanh chóng triển khai lực lượng dọn dẹp hiện trường, hỗ trợ nhân dân ổn định chỗ ở tạm thời. Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo đã chuyển được hơn 2 tấn gạo, 400 thùng mì tôm vào bản, không để một hộ dân nào bị đói, rét. Khi các lực lượng quân sự, công an đã được rút ra khỏi bản để tập trung cho nhiệm vụ tìm kiếm những người còn mất tích, nhiệm vụ ở lại, tiếp tục hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả sau thiên tai được đặt lên vai cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Na Mèo.
Nghe các anh kể lại câu chuyện những ngày lũ dữ, tôi không khỏi xúc động. Giữa mưa rừng, nước lũ và những con đường bị xóa sạch dấu vết, những người lính biên phòng vẫn tìm mọi cách vào với dân. Có lẽ trong những thời khắc sinh tử ấy, điều thôi thúc họ không phải là mệnh lệnh đơn thuần mà còn là trách nhiệm và tình thương dành cho đồng bào nơi biên giới. Nghĩ đến cảnh những người lính phải băng rừng, vòng qua đất bạn Lào để tìm đường vào bản, tôi càng thấm thía hơn hai chữ “quân dân” vốn quen thuộc trong sách vở nhưng lại hiện lên thật sống động giữa đời thường.
Năm ấy, nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính, khi còn là Trưởng ban Tổ chức Trung ương, đã trực tiếp tới hiện trường chỉ đạo công tác cứu hộ. Trong nhà văn hoá của khu tái định cư bản Sa Ná, bức ảnh chụp nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính với chiếc áo đẫm mồ hôi đứng giữa bà con sau lũ được treo trang trọng trên tường. Sau thảm họa năm ấy, bản Sa Ná được di dời lên một quả đồi cách vị trí cũ khoảng một cây số. Với sự hỗ trợ của chính quyền và các nhà hảo tâm, những ngôi nhà mới được dựng lên khang trang, đường nội bản được thảm nhựa sạch sẽ, có cả biển tên đường rõ ràng. Ngôi trường mầm non và tiểu học ở cuối bản cũng được xây dựng rộng rãi, kiên cố hơn trước.
Chúng tôi trò chuyện với anh Vi Văn Linh, Phó trưởng thôn Sa Ná kiêm Tổ trưởng Tổ An ninh. Anh là người trực tiếp chứng kiến dòng lũ dâng lên vào rạng sáng ngày đầu tháng tám năm ấy. Khi nhận ra nước suối lên quá nhanh, anh vội đưa vợ con chạy lên vị trí cao hơn ở khu nghĩa địa, rồi bất lực nhìn những căn nhà sàn lần lượt bị dòng nước dữ cuốn phăng đi trong đêm tối. Khi kể lại câu chuyện, ánh mắt anh không giấu được sự xúc động, giọng nói nhiều lúc nghẹn lại. Anh bảo rằng đến tận bây giờ, chỉ cần trời mưa lớn, nghe tiếng nước suối dâng là lòng anh lại thấp thỏm, bất an.
Ngay tại khu vực từng xảy ra trận lũ quét, người dân dựng một tấm bia đá tưởng niệm, khắc lại thông tin về trận lũ cùng một bát hương luôn nghi ngút khói. Mỗi năm, đến ngày ấy, cả bản và chiến sĩ bộ đội biên phòng Đồn Na Mèo lại ra đây thắp hương tưởng nhớ những người đã mất. Cây cầu bắc qua suối ở Sa Ná đã được xây dựng không lâu sau trận lũ lịch sử. Còn trên tuyến đường nối từ quốc lộ 217 vào bản, một cây cầu vượt mới cũng đang dần hoàn thiện. Có lẽ chẳng bao lâu nữa, con đường vào Sa Ná sẽ bớt đi nhiều cách trở khi cây cầu ấy hoàn thành.
Chiều muộn, chúng tôi rời Sa Ná. Con đường núi quanh co đưa đoàn trở lại Đồn Biên phòng Na Mèo. Phía sau lưng, những mái nhà mới của bản làng dần khuất sau những triền núi xanh. Tôi ngoái nhìn lần cuối và thấy lòng mình bâng khuâng khó tả. Chuyến đi không chỉ giúp tôi hiểu thêm về một trận lũ lịch sử, mà còn giúp tôi cảm nhận sâu sắc hơn nghị lực của người dân vùng biên và nghĩa tình của những người lính mang quân hàm xanh. Giữa đại ngàn biên cương ấy, Sa Ná hôm nay giống như một minh chứng đẹp đẽ rằng sau những mất mát tưởng chừng không thể vượt qua, con người vẫn có thể đứng dậy, hồi sinh và tiếp tục bước về phía trước.
Tối hôm đó, sau bữa cơm, cả đoàn ngồi quây quần bên bếp lửa của khu homestay, trò chuyện trong cái lạnh của miền biên viễn giữa một ngày mưa nhẹ cuối tháng tư. Ánh lửa bập bùng hắt lên những gương mặt đã bắt đầu thân quen sau hai ngày cùng ăn, cùng đi, cùng nghe những câu chuyện về vùng biên. Đêm đã khuya mà chẳng ai muốn đứng dậy rời đi. Những câu chuyện vẫn còn dang dở, Nhưng rồi ai cũng phải trở về phòng nghỉ để sáng hôm sau còn dậy từ lúc năm giờ đi chợ Lào. Đó là phiên chợ vùng biên nổi tiếng, họp vào sáng thứ bảy hằng tuần mà cả đoàn đều háo hức từ nhiều ngày trước.
Chúng tôi dậy rất sớm. Trời còn lờ mờ sáng, những dãy núi vẫn chìm trong màn sương mỏng. Thế nhưng khi đến nơi, điều bất ngờ là khu chợ vẫn vắng tanh. Hỏi ra mới biết giờ họp chợ đã thay đổi, phải hơn sáu giờ mới bắt đầu đông người. Trong lúc chờ đợi, cả đoàn thong thả dạo quanh khu vực cửa khẩu. Một chiến sĩ biên phòng tới hỏi thăm rồi vui vẻ cho chúng tôi ngồi chờ gần chốt kiểm soát. Và rồi, như một món quà bất ngờ của vùng biên buổi sớm, chúng tôi được chứng kiến một cảnh tượng thật ấn tượng. Ban đầu chỉ vài người dân Lào xuất hiện từ phía đường biên, sau đó là cả đoàn người nối nhau chạy nhanh qua cây cầu phân chia biên giới. Trên lưng họ là những chiếc gùi chất đầy hàng hoá, tay xách thêm túi đồ, có người còn dắt theo cả con nhỏ.
Các chiến sĩ biên phòng đứng tại chốt lần lượt kiểm tra hàng hoá của bà con. Hầu hết các mặt hàng đều được cho qua vì đó là những thứ mang sang chợ bán, chỉ một vài món bị giữ lại, như những chiếc can nhựa, có lẽ vì quy định không cho mang can sang mua xăng dầu qua biên giới. Sau khi qua chốt kiểm tra, bà con lại chạy thật nhanh về phía khu chợ cách đó vài trăm mét. Hàng đoàn người dân tộc Lào tất tả chạy đi trong màn sương sớm tạo nên một khung cảnh vừa lạ lẫm vừa khó quên. Có người còn đẩy chiếc xe rùa chở đầy hàng lao đi thoăn thoắt. Hỏi chuyện một chiến sĩ biên phòng, tôi mới biết mọi người tranh thủ chạy nhanh để chọn được vị trí đẹp nhất trong chợ bày bán hàng hoá. Chúng tôi cũng theo dòng người tiến vào chợ để xem bà con bán những gì. Và thật bất ngờ, gần như tất cả những sản vật kiếm được từ rừng núi hay suối khe đều được mang sang đây. Nào dúi, chồn, chim, chuột rừng, cá suối, ếch nhái, bọ xít, cào cào, đuông dừa, rồi rau rừng, hành, tỏi… đủ cả. Cả đoàn chúng tôi ai nấy đều hồ hởi mua sắm, lúc trở về tay xách đầy túi đồ. Phiên chợ vùng biên ấy không chỉ mang ý nghĩa trao đổi hàng hoá đối với người dân hai bên biên giới mà còn là nơi giao thoa văn hoá, thắt chặt thêm tình cảm anh em Việt - Lào giữa đại ngàn biên viễn.
Đi qua những ngày ở Na Mèo, từ những con đèo phủ mờ sương sớm đến bản Sa Ná sau cơn lũ dữ, từ cột mốc biên giới lặng im giữa đại ngàn đến căn phòng nhỏ đơn sơ của người lính biên phòng, điều còn đọng lại trong chúng tôi không chỉ là cảnh sắc miền biên viễn. Đó còn là dáng hình của những con người đang lặng lẽ giữ gìn phên dậu Tổ quốc bằng những việc làm bình dị mỗi ngày: những chuyến hàng cứu trợ đến kịp sau thiên tai, những đứa trẻ vùng cao được nâng bước tới trường, những bản làng từng tan hoang dần hồi sinh sau mất mát.
Na Mèo khép lại hành trình của chúng tôi bằng một phiên chợ sáng rực rỡ sắc màu. Trong làn sương mỏng nơi cửa khẩu, tiếng Việt, tiếng Lào hòa vào nhau trong những câu chào hỏi, tiếng cười nói thân tình. Và cũng từ nơi ấy, chúng tôi hiểu rằng biên giới không chỉ được giữ bằng cột mốc hay những đường kẻ trên bản đồ, mà còn được giữ bằng sự gắn bó giữa con người với con người, bằng tình nghĩa âm thầm mà bền chặt của những người dân hai bên biên giới.
Tạm biệt Na Mèo, chúng tôi mang theo không chỉ kí ức về một miền biên viễn xa xôi, mà còn mang theo một cảm giác… yên tâm. Bởi giữa mây núi và sương gió nơi ấy, vẫn luôn có những người lính quân hàm xanh âm thầm đứng gác, giữ cho biên cương Tổ quốc vững bền.
L.N.S
VNQD