Trăng cuối mùa vẫn sáng

Thứ Ba, 10/03/2026 11:00

. ĐỖ NGỌC THỨ
 

Bạn bè cùng khóa cứ gọi Tuấn bằng biệt danh Tuấn hâm. Mà hình như Tuấn hâm thật. Ai đời, một sinh viên khôi ngô, tuấn tú, con nhà giàu, lúc nào cũng có hàng tá bông hồng xinh tươi, sành điệu vây quanh, vậy mà Tuấn chẳng để tâm, cứ mải chạy theo một cô sinh viên quê một cục như Phương. Môn đăng hộ đối ở đâu cơ chứ? Khi gia đình Tuấn, ngoài một xưởng chế tác đồ gỗ mĩ nghệ với hàng chục công nhân, còn có hai gian hàng ngay giữa thủ đô.

Minh họa: Lê Anh Vân

Chưa kể, mẹ mất sớm vì một tai nạn giao thông, Tuấn được bố cùng chị gái dành tất cả tình yêu thương và sự chăm bẵm kĩ càng. Giờ chị gái đã yên bề gia thất, sống hạnh phúc bên người chồng là một doanh nhân thành đạt. Gia tài của bố chẳng dành cho Tuấn thì dành cho ai.

Còn nghề chạm khắc mĩ nghệ trên chất liệu gỗ là nghề gia truyền của gia đình, nghe nói đã có từ mấy đời nay. Bố Tuấn - ông Hùng, từng là lính pháo cao xạ. Đi hết cuộc chiến, ông trở về quê với tấm thẻ thương binh hạng hai. Với tay nghề sẵn có, chỉ trong thời gian ngắn ông đã trở thành chủ của xưởng chế tác. Trong thời kì đổi mới, nghề gia truyền của gia đình ông có điều kiện phất lên. Ông lấy đó làm vui và luôn dành một khoản tiền để ủng hộ các gia đình thương binh, liệt sĩ. Những lúc ngồi quây quần bên mâm cơm, ông thường nói với các con: “Bố có ngày hôm nay là nhờ những người đồng đội đã nằm xuống”.

Gia cảnh Tuấn là vậy. Còn Phương, cô sinh ra, lớn lên ở một làng quê nghèo khó. Bố là thương binh nặng, cứ trái gió trở trời vết thương lại hành hạ. Những lúc thấy bố quằn quại trong cơn đau, trái tim Phương như đập chùng vài nhịp, nước mắt lưng tròng, chẳng biết làm gì ngoài lặng lẽ ngồi xuống, vỗ vỗ vào lưng bố. Mẹ Phương - bà Liên, từng là cô thanh niên xung phong Trường Sơn. Hai người đến với nhau có phần muộn màng. Phương nghe phong thanh mẹ chờ đợi ai đó, nhưng càng chờ càng mù mịt, xa xăm…

Gia đình Phương bao năm sống trong nghèo túng, ăn nay lo mai. Gia tài chỉ là mấy sào ruộng khoán, một mảnh vườn nhỏ với ít luống khoai vạt cà. Tuổi thơ Phương nhọc nhằn và bỏng cháy những khát khao học hành để mong thoát khổ. Bao nhiêu năm tháng trong căn nhà ngày nắng nhìn thấy mặt trời, ngày mưa huy động xô chậu chia nhau hứng nước, Phương chỉ ao ước một điều, rằng bố mẹ không phải dầm mình trong cái rét bầm ruột ngày đông, không phải phơi mình dưới cái nắng cháy da tháng hạ. Phương biết, mẹ thương bố nhiều lắm. Dù phải quần quật suốt ngày ngoài đồng, về đến nhà là vào ngay bên bố. Nhà nghèo, mẹ con chỉ rau cháo, nhưng mẹ chăm bố thật chu đáo. Hễ ai mách cần thuốc gì, ăn thứ gì là mẹ mua cho kì được. Đã bao năm rồi, mẹ vẫn lo cho bố như thế. Cho đến bây giờ, Phương vẫn nhớ như in giây phút cuối cùng bên bố. Đó là một chiều mưa nặng hạt, gió quẫy gào trên mái nhà. Mẹ gọi: “Phương ơi, bố muốn gặp con”. Phương từ bếp chạy lên. Bố yếu ớt đưa bàn tay xanh gầy của mình nắm lấy tay cô đặt vào tay mẹ, rồi ấp cả lên trán mình. Trên môi tươi rói nụ cười, và cứ thế bố chìm vào giấc ngủ yên lành mãi mãi…

*

*          *

Sự chăm chỉ, cùng vẻ đẹp mộc mạc, hiền dịu của Phương đã làm Tuấn say nắng. Tuấn yêu giọng nói nhỏ nhẹ, từ tốn; yêu mái tóc dài được kẹp hờ hững bởi chiếc cặp ba lá, cứ chực bung ra bất cứ lúc nào. Mái tóc ấy, Tuấn biết, chưa một lần được xức lên giọt nước hoa, nhưng nó luôn mượt mà, óng ả và dìu dịu thơm nhờ những chùm bồ kết mẹ gửi. Mỗi lần sinh nhật Phương, để biểu lộ tình yêu, Tuấn thường chúc mừng bằng những món quà đắt tiền. Nhưng lần nào cũng vậy, Phương tìm cách từ chối: “Em không quen dùng những thứ đắt tiền này đâu, một bông hoa là đủ rồi anh”. Thực lòng Phương cũng muốn đón nhận những món quà ấy lắm. Nói đúng hơn, trái tim Phương cũng có phần xao động bởi Phương biết, con tim của Tuấn luôn hướng về mình, biết Tuấn yêu mình đến mức nào sau ánh nhìn đầy lưu luyến, thương yêu. Nhưng biết làm sao? Hoàn cảnh đâu cho phép Phương mơ xa, đành khép lòng vậy.

Nhưng rồi, chính sự kiên trì và chân thành của Tuấn đã là chìa khóa mở cửa trái tim Phương. Không còn những món quà đắt tiền, không còn những chuyến picnic xa xôi, chỉ là những chiều dạo chơi, chỉ là những tô bún riêu, li nước mát bên hè phố. Họ yêu nhau chân thành, mãnh liệt, thứ tình yêu của tuổi trẻ không vụ lợi. Phương nói chuyện này với mẹ. Mẹ trầm ngâm: “Mẹ không mong con làm dâu nhà giàu, mẹ sợ người ta khinh thường con gái mẹ. Nhưng con đã chọn rồi thì mẹ không cản. Mẹ tin vào sự lựa chọn của con”.

 

Nửa năm, kể từ khi đôi bạn trẻ ra trường, gia đình Tuấn với đủ các thành phần đã đến thăm nhà Phương và chính thức xin phép cho hai con trẻ được đến với nhau. Bà Liên hết nhìn Tuấn lại nhìn ông sui tương lai. Có cái gì làm bà suy tư, trăn trở: “Chẳng lẽ bão dông lại ập xuống ngay khúc đầu chặng đường hạnh phúc của con gái”. Bà không thể thở nhịp thở bình thường. Dường như có tảng đá thật nặng đè chặt lên ngực. Bà ngồi như người vô hồn, mọi công chuyện đều do ông em chồng và họ hàng lo liệu. Mọi người đi lại, cười nói vui vẻ. Chẳng ai biết bà buồn, chẳng ai biết lòng bà đang nổi bão tố. Họ không biết mà cũng chẳng cần biết. Họ chỉ thấy vui khi đứa cháu mồ côi cha của mình sắp bước lên xe hoa.

Từ lúc nhà trai ra về, bà Liên như chìm vào những suy tư. Đêm ấy, bà không sao chợp mắt. “Anh đấy ư? Hay em nhầm lẫn, trên đời này có bao người giống nhau?” Bà nghĩ vậy nhưng không tin là vậy. Ánh nhìn như tấm thẻ căn cước minh chứng rằng, người ấy đã có mặt trong quá khứ khó phai của bà. Bà nằm thẫn thờ trong gian buồng vo ve tiếng muỗi, mắt nhìn vào khoảng trống tối đen.

Lời ước hẹn giữa ông và bà ngày nào giữa đêm trăng Trường Sơn lại thao thiết dội về…

 

*

*            *

Liên gặp anh trong một đêm trăng, khi tiểu đội thanh niên xung phong được lệnh hỗ trợ tiếp đạn cho đại đội pháo cao xạ bảo vệ trọng điểm - đèo Phu La Nhích, đường 20 Quyết Thắng. Trận địa pháo bố trí trên một ngọn đồi thoai thoải, cách đơn vị chị một cánh rừng thưa. Trong tiếng gầm rú của những chiếc “Thần sấm”, anh hiên ngang trên vị trí chỉ huy khẩu đội. Trong tay, lá cờ lệnh như ngọn lửa nhỏ bập bùng, tạc vào đêm trăng mênh mông. Chốc chốc, tiếng anh lại vang lên, dõng dạc, uy nghi: “Hướng 34, chiếc đầu, tốc độ 200, điểm xạ dài, chuẩn bị... Bắn”. Lá cờ lệnh trong tay anh dập xuống, từng luồng đạn vút lên trời cao. Trong ánh lửa đầu nòng chớp lòa, hòa cùng ánh trăng bàng bạc, trông anh thật mạnh mẽ, hiên ngang. Tiếng gầm rú như lưỡi dao rạch nát trời đêm. Cả khu rừng rung lên bần bật trong tiếng nổ chát chúa và chớp lửa chói lòa. Bụi và khói quện vào nhau đặc quánh màn đêm.

Rồi cả đơn vị cùng nhảy lên reo hò khi một chiếc “Thần sấm” trúng đạn, bốc cháy như một bó đuốc khổng lồ, thắp sáng cả vùng trời đang lao xuống cánh rừng phía xa. Cả tiểu đội nữ thanh niên xung phong tỏa ra, chạy về các ụ pháo. Những bàn tay nắm những bàn tay, những giọt nước mắt lăn trên môi cười. Chẳng biết ai xui khiến, Liên chạy đến khẩu đội của anh, nắm tay từng pháo thủ lắc lắc. Còn anh vẫn đứng đó, điềm tĩnh lắng nghe khẩu lệnh từ đài chỉ huy đại đội. Liên đưa cả hai tay nắm chặt hai bàn tay rắn rỏi của anh: “Anh giỏi quá, giỏi quá”. Miệng mỉm cười, nhưng có giọt nước ứa ra từ khóe mắt, cứ thế, Liên để bàn tay mình trong bàn tay anh. Anh khẽ khàng: “Cảm ơn các em đã góp sức làm nên chiến thắng này”. Anh nhìn Liên không chớp. Trong bộ trang phục thanh niên xung phong màu cỏ úa, gương mặt còn vương bụi đất, dưới ánh sáng bàng bạc của trăng khuya, trông Liên thật huyền ảo, lung linh.

“Anh tên Hùng. Còn em?”

“Dạ. Em tên Liên.”

“Hẹn gặp lại các em. Đã đến giờ bọn anh phải cơ động.”

“Các anh đi đâu?”

“Cũng quanh trọng điểm này thôi. Mong ngày gặp lại.”

Liên đứng yên, không nói, một thoáng buồn vương trên mắt. Dường như cả trên mắt anh nữa. Liên ngước lên, bắt gặp ánh nhìn của anh. Có ngọn lửa yêu thương cháy trong ánh nhìn. Ngọn lửa ấy như đánh thức điều gì đó trong lòng Liên. Không phải sự vui mừng bởi chiến công, cũng chẳng phải sự bịn rịn khi phải tạm xa. Nó là nỗi nghẹn ngào, là sự khát khao khó gọi bằng tên.

Cả tiểu đội thanh niên xung phong tỏa ra, cùng các anh ngụy trang xe pháo. Trước lúc chia tay, anh lại đến bên Liên. Liên nhìn anh với nụ cười không mệt mỏi, chiếc áo màu xanh ướt đẫm mồ hôi, chiếc mũ sắt trong tay đung đưa theo nhịp chân vội vã mới biết anh đang tất bật đến nhường nào. Thêm một lần bàn tay Liên đặt trong tay anh. Vững chãi, ấm áp.

“Sẽ gặp lại em nhé!”

“Vâng. Mong gặp lại anh.”

Đoàn xe pháo lắc lư lăn bánh. Những cánh tay giơ lên vẫy vẫy. Liên đứng như người vô hồn trên bờ công sự, lặng lẽ nhìn theo đoàn xe đang từ từ xuống chân đồi. Khi chiếc xe cuối cùng mờ dần, mờ dần, Liên bừng tỉnh, cảm tưởng như sắp phải rời xa cái gì thật quý giá. Nước mắt Liên tự nhiên lăn dài, rồi cứ thế chạy theo đoàn xe đang khuất dần sau những lùm cây.

Xa xa, mảnh trăng cuối mùa đang lặng lẽ rơi xuống cuối rừng.

Từ ngày ấy, nỗi nhớ cứ len lỏi trong giấc ngủ chập chờn của Liên. Trong cuộc đời, có những ánh nhìn khiến người ta day dứt không thể nào quên. Mỗi lần có máy bay địch đánh phá trọng điểm, Liên lại nép mình bên lèn đá, mắt nhìn lên trời cao, dõi theo những đường đạn vút lên từ ngọn đồi xa xa.

“Anh đấy ư? Đúng anh rồi. Hùng ơi! Em nhớ”.

Ngày ấy…

Dù đơn vị pháo đã rời đi, nhưng niềm tin ngày gặp lại anh cứ lớn lên. Cho đến một chiều, cả trọng điểm Phu La Nhích như rung lên bởi tiếng bom chát chúa. Đất đá bắn tung tóe, khói lửa mịt mù. Tiếng rít từ những chiếc máy bay địch như xé nát trời chiều. Nép mình bên hang đá, Liên nhìn thấy những luồng đạn vút lên từ nơi đã gặp anh. Liên khấp khởi, nôn nao. Những điểm nổ của đạn pháo tạo thành những đám mây nhỏ vây quanh những chiếc máy bay hất chúng lên cao. Không còn đủ bình tĩnh để bổ nhào thả bom đúng tuyến đường, chúng ném bom vu vơ trên cánh rừng rồi chuồn. Cả tiểu đội lại lao ra mặt đường loang lổ hố bom. Người san, người lấp. Hối hả, miệt mài.

Chiều tím dần, màn đêm buông xõa. Mồ hôi vương má nhưng mọi người đều vui khi con đường cơ bản đã được thông tuyến. Khi mọi người lục tục kéo nhau trở về lán, Liên vẫn đứng đó, mắt nhìn về ngọn đồi không xa phía trước. Ánh trăng nhạt soi xuống những thân cây cháy sém, đứng câm lặng như những người lính gác im lìm. Lòng Liên như có lửa đốt. Một cái gì như là nỗi nhớ, như là nỗi khát khao cứ thôi thúc.

Minh họa: Lê Anh Vân

Khi về, Liên đem chuyện tâm sự cùng chị Hồng - tiểu đội trưởng. Chị Hồng nhìn Liên bằng con mắt cảm thông, thấu hiểu:

“Đi đi, không có nhiều cơ hội đâu”.

Được bật đèn xanh, Liên quyết định liều. Liên đi trong rừng đêm bàng bạc ánh trăng, trong mùi khói bom hòa cùng mùi cỏ cháy, mùi ẩm mốc của đất rừng. Bước chân vội vã giẫm trên lá khô xào xạc…

Nhưng rồi tất cả nhanh chóng bị nuốt chửng trong màn sương đêm dày đặc. Gió dào dạt như tiếng thì thầm của trăm ngàn hồn ma bóng ma.

Mặc. Liên cứ lầm lũi đi…

Đêm ấy, hai người ngồi bên nhau thật lâu. Gió đại ngàn thổi mênh mang, như muốn vun vén niềm tin và sự nhớ thương cho hai trái tim đang yêu. Liên nép đầu vào vai anh thì thầm:

“Em yêu anh nhiều lắm. Không yêu nhiều thế, em không thể đến đây được đâu.”

“Anh cũng yêu em thật nhiều. Anh mong về trận địa này để được gần em.”

Trăng khuya mảnh mai như lá lúa. Anh và Liên trao nhau nụ hôn thắm nồng. Từ ấy Liên biết, chẳng bao giờ rời xa anh được nữa. Khi sương đêm đã lấp lánh trên mái tóc, cũng là lúc tiếng còi chuẩn bị chiến đấu của đơn vị anh gióng lên. Anh khẽ thở dài. Rồi ánh trăng chênh chếch lọt qua kẽ lá. Anh muốn nói cùng Liên điều gì đó mà không thể cất lời. Ở chiến trường đầy bom đạn, chẳng ai dám chắc mình còn sống để trở về mà hứa hẹn. Nhưng rồi có cái gì như là niềm tin thôi thúc, anh đưa tay nắm chặt bàn tay xanh gầy của Liên, khẽ khàng:

“Mãi mãi là của nhau em nhé?”

“Dạ. Mãi mãi là của nhau. Em về!”

Anh không nói, khẽ gật đầu rồi vội hướng mặt ra cánh rừng xa, sợ Liên không cầm được lòng lúc này. Liên quay mặt bước đi. Có giọt nước hạnh phúc kín đáo ứa ra từ khóe mắt. Đi được một đoạn, Liên quay lại nhìn. Anh vẫn đứng đó dõi theo từng bước chân Liên. Lòng Liên trào dâng nỗi niềm. Giờ thì không cần kìm nén, Liên để mặc cho nước mắt tuôn trào như suối chảy. Sương đêm vương trên lá rừng táp vào mặt lành lạnh. Mặc kệ. Liên không còn phân biệt đâu là sương đêm, đâu là nước mắt. Liên chỉ nghĩ đến câu nói của anh: “Mãi mãi là của nhau em nhé!”

Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi. Liên ngóng trông ngày gặp lại. Chiến tranh không chỉ là tiếng ầm ào của bom đạn, nó còn là những đêm lặng lẽ, là những ánh nhìn khiến người ta mạnh mẽ nhưng cũng day dứt suốt đời. Cho đến mãi sau này, Liên vẫn không thể tin đó là lần cuối cùng được gặp anh dưới ánh sáng bàng bạc của trăng đêm Trường Sơn. Bởi sau Hiệp định Paris, đơn vị anh chuyển hướng xuống đồng bằng, rong ruổi theo các chiến dịch cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Nỗi mong chờ ngày gặp lại anh trong Liên luôn dâng đầy nhưng cứ vời vợi xa. Nó càng xa hơn khi biết tin đơn vị anh đã hành quân sang những cánh rừng khộp của đất Chùa Tháp...

Liên trở về quê mang theo sự mong chờ cùng hi vọng. Thời gian thì trôi nhanh như gió cuốn. Chẳng còn tin tức gì về anh nữa. Đã mười mấy năm rồi, có bao gia đình đánh tiếng muốn xin Liên về làm dâu. Thấy Liên im lặng, mẹ buồn: “Cô định để mẹ cô chết mà không nhắm được mắt”. Rồi dưới sức ép của gia đình cùng nỗi thương mẹ, Liên đã đến với người thương binh nặng cùng xóm, vào giữa mùa ngồng cải vàng bông…

*

*           *

Công việc nơi vùng quê bận rộn, không cho phép bà Liên sống mãi trong hoài niệm, dù thi thoảng nó vẫn len lỏi trong giấc ngủ chập chờn. Từ ngày con gái lấy chồng, cuộc sống của bà cũng đỡ vất vả hơn. Ông Hùng đã nhận ra bà ngay từ khi bước chân vào mái nhà cấp bốn đơn sơ. Ánh mắt ấy làm sao ông quên được. Chỉ là ông kìm nén, không nói để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống hai con. Ông lặng lẽ, kín đáo giúp đỡ gia đình bà thông qua con trai, con dâu. Khi thì chiếc quạt cây, khi bếp ga, rồi cả tủ lạnh, với lí lẽ: “Vợ chồng con thay cái mới, mang cái cũ về cho mẹ”.

Cho đến khi Phương sinh con đầu lòng, dù không muốn, nhưng vì thương con, thương cháu, bà Liên đành phải đến gia đình sui gia một thời gian. Có bà, ông Hùng và vợ chồng Tuấn cảm thấy yên tâm, đỡ bận bịu bao nhiêu. Căn nhà rộng mênh mông với nhiều món đồ, lúc nào cũng sạch sẽ, gọn gàng. Những bữa cơm bà nấu, dù giản dị nhưng cả nhà đều thấy ngon miệng hơn.

Khi cháu khóc, bà vỗ về bằng những lời ru đứt quãng. Bởi không thuộc nhiều, nên thường lặp đi lặp lại những câu thơ bà còn mang máng nhớ: “À ơi… Người ơi gặp gỡ làm chi. Trăm năm biết có duyên gì hay không… Đi đâu cho thiếp theo cùng. Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam…” Mỗi lần nghe bà thông gia ru cháu, ông Hùng đều khẽ trở mình, tiếng thở dài vọng mãi vào màn đêm mênh mông...

Bà Liên luôn nhủ lòng, hạn chế đối diện với ông Hùng. Nhưng trong bữa cơm thì không thể. Có một chút bối rối, nhưng bà cố làm ra vẻ không có chuyện gì, vẫn tươi cười và nhanh tay múc từng món ăn lên bàn. Cũng như bà, ông Hùng cố tỏ ra bình thản, nhưng nhìn mắt ông bà biết, có cái gì như là ngọn lửa đang âm ỉ cháy.

Mọi ánh mắt, cử chỉ của ông Hùng và bà Liên, vợ chồng Tuấn đều biết. Nhất là những ngày ông Hùng trở mệt, bà Liên chăm sóc ông với tất cả sự chu đáo và tình yêu thương. Dường như cả Tuấn và Phương đã lờ mờ biết chuyện của hai ông bà. Nhiều đêm vợ chồng thủ thỉ cùng nhau về chuyện bố mẹ. Và họ đã đưa ra quyết định…

Vào một đêm trăng, Tuấn đến phòng bà, tha thiết: “Bố con kêu mệt, mẹ sang giúp bố con chút”. Bà cùng Tuấn vội đến. Ông Hùng vẫn nằm trên giường. Phương ngồi bên với đứa con trên tay.

“Ông mệt lắm ư?” Bà nhỏ nhẹ.

Ông Hùng nằm im, không nói. Nét mặt ông trầm tư, trên khóe mắt có cái gì như là giọt nước. Phương nhìn Tuấn như nhắc nhở. Tuấn khẽ khàng:

“Thưa mẹ, vợ chồng con có chút việc, nếu mẹ thương vợ chồng con thì hãy giúp chúng con.”

“Ô hay, mẹ không thương các con thì còn thương ai?”

“Thưa mẹ, bố con và cả mẹ nữa đã luống tuổi rồi. Chúng con muốn mẹ về với bố con, hai người nương tựa vào nhau khi tuổi xế chiều.”

Phương tiến lại cầm tay mẹ, khẽ gật đầu.

*

*           *

Trái tim ông Hùng từ lâu đã nguội lạnh. Từ ngày gặp lại bà Liên, ngọn lửa tình yêu tưởng đã lụi tàn lại le lói cháy lên. Ngày xưa, khi bị thương trở về ông cũng bao lần rong ruổi đi tìm bà nhưng không thấy. Giờ đây, dù biết còn những trở ngăn nhưng ông vẫn mong muốn cùng bà bước tiếp. Ông đứng dậy, lặng lẽ đến bên bàn thờ, thắp nén nhang cho vợ, miệng ông lẩm bẩm điều gì chẳng rõ. Rồi ông quay lại, ngồi bên bà Liên và khẽ khàng:

“Bà còn nhớ câu nói của tôi ngày xưa không?”

“Mãi mãi là của nhau…”

Ông xúc động, đưa tay mình đặt lên tay bà. Một chút bối rối vương trên mắt, bà quay mặt ra cửa sổ. Bên ngoài, gió xôn xao trên tán lá. Dưới ánh sáng bàng bạc của mảnh trăng cuối mùa bà như vụt trở lại cô gái trẻ tươi tắn ngày xưa ở giữa đêm Trường Sơn.

Khi đó, Liên khẽ khàng nâng liếp cửa và bước ra khỏi lán, lặng lẽ đi trên lối mòn đẫm sương, mắt dõi về phía ngọn đồi không xa, nơi cội nguồn của thổn thức và nhớ thương. Dưới ánh sáng của mảnh trăng cuối mùa, những giọt sương nháng lên bàng bạc, rừng bàng bạc, thân hình Liên cũng bàng bạc. Liên chợt nhận ra, trăng cuối mùa vẫn sáng…

Đ.N.T

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)