. TỐNG NGỌC HÂN
Chuyến xe khách ngược núi sáng ngày ba mươi tết giống chiếc lồng sắt di động nhốt đầy người và hàng hóa. Nam đứng sát vào tôi. Cái ba lô đeo sau lưng bị một ông già đội lên đầu để lấy chỗ đứng. Dốc gì mà dài thế anh? Tôi búng mũi nó. Đèo Đá Trắng.

Minh họa: Nguyễn Văn Đức
Phía sau, thằng Tiến ngồi khúm núm đầy vẻ cam chịu trên ghế. Cổ nó rụt xuống như một bản năng. Cuối xe, thằng Dương và thân hình kềnh càng vẫn đang loay hoay ổn định. Cứ mỗi lần xe dừng là bố cục trên xe có sự điều chỉnh vì người tiếp tục nhồi thêm. Mẹ tôi bảo xe ngày tết là xe Thạch Sanh.
Cuối cùng thì cái ông khách có hơi thở nồng nặc ốp lưng thằng Nam cũng đã xuống ở đỉnh đèo. Thằng Nam tháo khẩu trang ra, cười thoải mái. Nhưng nó lập tức hắt hơi liền mấy cái, nhanh như chớp lại đeo khẩu trang lên. Mắt nó chiếu vào tóc cô gái đứng trước tôi. Tôi lảng, nhìn nghiêng ra cửa. Mãi rồi cái cây nước hoa di động cũng chuẩn bị xuống xe. Trên người nàng không chỉ có mùi nước hoa đậm đặc, còn mùi xả tóc, phấn sáp, lăn khử mùi nữa...
Một số người nữa xuống. Tay lơ xe độ ba chục tuổi hả hê. Thấy chưa. Giờ xe rộng thênh thang. Cái thênh thang ấy, anh em tôi không có số hưởng. Xe dừng, thằng Dương là đứa cuối cùng nhảy phịch xuống đất, rũ áo, vươn vai, nói văn vẻ. “Bốn con công đực bị nhốt trong chuồng gà, thả ra mất nửa phong độ”. Dương và tôi học công nghệ, năm tư. Hai thằng cùng làng, tính cả mẫu giáo thì ở cạnh nhau hai chục năm. Thằng Tiến Hải Phòng năm tư kinh tế. Còn thằng Nam mỹ thuật người xứ quan họ Bắc Ninh mới vào năm hai. Bốn thằng chung phòng. Sau bao nhiêu hò hẹn, năm nay quyết tâm lên núi ăn tết với bác ruột tôi. Hăm tám tết, cả bốn thằng đều từ thành phố về nhà tôi giúp bán đào tết. Rồi mẹ tôi cấp cho mỗi đứa ít kinh phí du xuân. Sáng ba mươi tết, thời điểm người ta về đoàn tụ gia đình thì bốn thằng bắt xe khách mà đi.
Từ đường lớn vào chân núi hơn cây số. Bốn thằng thũng thẵng đi bộ như thầy trò Đường Tăng. Thằng Nam hỏi. Anh đã báo bác anh chưa? Tôi bật cười. Bác không dùng điện thoại hay bất kì phương tiện gì. Trên núi cũng không có điện đâu.
Đi được vài trăm mét, thằng Dương hỏi tôi. Ô thế mày không báo bác thật à? Tôi đá vào chân nó. Mày lo không có tết ăn à. Tao hẹn với bác từ hồi đầu năm rồi. Thằng Dương thở hắt ra, bước đi với vẻ phó mặc sự đời. Là nó diễn thôi, chứ tôi biết, lòng nó đang hớn hở. Thằng họa sĩ trẻ vừa đi vừa ngó nghiêng những ngôi nhà sàn của người Mường đầy vẻ tò mò.
Đi hết bản, tới một lối mòn, hai dề cỏ may lâu rồi chưa được chọc ghẹo ai, bám lấy gấu quần. Thằng Tiến nhắc tôi. Cho anh em ít thông tin về đại ca Chương đi. Để chốc nữa anh em khỏi bỡ ngỡ. Thằng Nam thăm dò. Bác anh có dễ đối phó không? Tôi cười thay cho câu trả lời. Số lần tôi gặp bác chưa đếm hết hai bàn tay. Lần duy nhất tôi lên núi thăm bác cũng là từ năm nhất.
Hết cỏ may là chạm vào dốc núi. Đường quanh co men theo những tảng đá mồ côi và gốc cây lớn. Có khúc hẻm đá rất hẹp, rêu xanh ẩm ướt. Những khoảng rộng hơn hoa nở rực rỡ. Có rất nhiều loại hoa cỏ mà tôi không biết tên.
Gần một giờ chiều. Cả nhóm dừng lại chia nhau những miếng lương khô thằng Dương đem theo. Ba lô của nó không khác cái chạn di động. Đi đâu nó cũng ngồi cuối xe cho đỡ vướng. Lần này, mẹ tôi còn nhồi thêm vào chạn của nó mấy cái bánh chưng, cả cân lạp xường và bao nhiêu bánh kẹo. Thằng Nam hỏi tôi. Hoa gì mà thơm thế anh? Cả bọn dừng nhai nuốt, hếch mũi lên kiểm chứng. Tôi nghĩ mãi mới ra cái tên. Hoa bách hợp núi. Nam nói đầy vẻ tiếc nuối. Em cũng từng vẽ loài hoa này, nhưng giờ mới biết nó thơm đến thế. Như thể, nó có thể vẽ được mùi hương lên giấy.
Ăn xong chúng tôi lại lên đường. Dốc cứ dựng thành, những bụi trúc quân tử mọc ven lối đi thân uốn móc câu tạo ra một mái vòm màu xanh mảnh mai chiếu lệ. Những tia nắng xuân dịu dàng đậu lên mái tóc bồng bềnh uốn sóng của thằng Tiến. Thi thoảng, nó lại lấy điện thoại ra tự chụp ảnh, quay video rồi tự khen mình đẹp hơn cả ngôi sao gì đó xứ kim chi. Tôi biết nó đang kết nối với bạn gái bằng chuỗi hình liên tục cập nhật. Thằng Dương lợi dụng vóc dáng cao lớn, trèo lên tảng đá ven đường, lấy ống nhòm ra soi và hét toáng lên. Tao nhìn thấy khói trên đỉnh núi chúng mày ạ. Cả bọn háo hức hẳn. Nó tụt xuống, gãi tai, hỏi thằng Nam. Từ đây lên đỉnh, đi loanh quanh thế này mất cả giờ. Ví như bây giờ có lối thẳng lên đỉnh, thì gọi là đường gì nhỉ, tự nhiên quên mất. Thằng Nam cười hiền, mồ hôi đẫm trán. Trong toán học gọi là đường trắc địa, còn hội họa bọn em gọi là đường kỉ hà. Nhưng mô tả của anh là đường kỉ hà cách điệu rồi.
Gần đến đỉnh núi, tất cả đều thấm mệt. Một tòa hoa đỗ quyên đỏ như máu hiện ra trước mắt chúng tôi. Sao đỗ quyên nở sớm thế này? Thằng Nam nán lại phía sau cùng. Nó reo lên khi thấy một thác nước nhỏ phía sườn núi bên kia với một dải mây trắng thắt nơ ngang. Thiên nhiên một khi đã ra tay sắp đặt để mua chuộc lòng người thì chẳng thể cưỡng lại được. Hễ người ta chuẩn bị cạn kiệt thì lại có một bất ngờ hiện ra. Lúc hoa, khi một vạt rừng cây lá đỏ, thác nước.
Thằng Nam nấn ná phủi bụi cho một mặt phẳng đá, tôi lùi lại xem thì thấy những dòng kí hiệu khắc trên đá, có cũ, có mới. Ba dòng ngay ngắn. Chắc là kí hiệu của bác tôi hoặc những cán bộ địa chất khi đi qua vùng núi này. Chúng tôi kéo một hơi dài thì tới đỉnh núi.
Hóa ra đỉnh núi không bằng phẳng như tao tưởng. Thằng Dương nói hổn hển. Thằng Nam thở phì phò chen vào. Hồi còn bé, em toàn vẽ đỉnh núi nhọn hoắt như chóp nón. Tôi và thằng Tiến không nói gì. Kì thực, hồi bé, tôi cũng giống thằng Nam. Còn bây giờ, đỉnh núi hiện ra trước mắt với bạt ngàn hoa cỏ tươi tốt, tráng lệ như một bức tranh bột màu của thằng Dương treo trên tường phòng trọ.
Chúng tôi tỏa ra mỗi đứa một hướng. Thằng Dương phát hiện một chiếc lều tranh như cái ô khổng lồ thì hét lên sung sướng. Thằng Tiến dẫn cả bọn đi về phía bức tường phủ kín dây liễu sao và những bông hoa năm cánh nhỏ li ti đỏ chói. Thật ra, bức tường ấy làm bằng tre nứa thôi. Những chậu hoa là khúc thân cây móc cổ thụ đính chặt vào chân tường. Thằng Nam phát hiện phía sau bức tường hoa có một cái hang. Nó rụt rè hỏi. Bác anh ở đây phải không? Tôi dẫn chúng đến. Cái hang cao tầm hai mét rộng chừng ba mét, còn nguyên những nhũ đá màu hổ phách rủ xuống như nanh của một loài quái thú khổng lồ.

Minh họa: Nguyễn Văn Đức
Sau thoáng sững sờ, cả ba đứa lom khom theo tôi chui vào. Nền hang không bằng phẳng nhưng rất sạch sẽ. Một cái hang tự nhiên, lối vào hẹp nhưng lòng rất lớn. Ánh sáng tự nhiên được khúc xạ và khuếch tán nhờ những tấm gương bác tôi bố trí đắc địa. Có một quần thể tượng với các nhóm khác nhau, đủ các hình thù, kích cỡ, từ người đến vật. Các danh nhân văn hóa thế giới, các vị vua, quan, tướng lĩnh, đến các nhân vật nổi tiếng trong điển tích, truyền thuyết, cổ tích, huyền thoại, hoạt hình...
Khi chúng tôi hoàn toàn mê mẩn trong thế giới nghệ thuật của bác Chương thì ông lò dò đi ra từ một ngách hang. Đúng hơn, nó là mật thất của bác. Là nơi bác ngủ, chong đèn cầy đọc sách. Thấy bốn thằng thanh niên cao lớn đẹp đẽ ngời ngời, mắt bác sáng lên, ánh mắt của người cha nhìn các con trai. Không thể khác được. Bố tôi vẫn nhìn tôi như thế mỗi lần tôi trở về nhà. Trong nhà ông bà nội tôi, bác Chương là thứ hai nhưng cũng là người con trai tài hoa, giỏi giang nhất. Trước mặt chúng tôi, một người đàn ông cao lớn mạnh khỏe, tuổi năm mươi nhưng còn phong độ lắm. Tóc dài buộc đuôi ngựa loáng thoáng những sợi bạc nhưng thẳng thớm dù sống trong hang và nghề tạc tượng phải khom cúi suốt ngày.
Nhìn tủ rượu với những chai rượu tự cất dán nhãn ngày tháng, thằng Dương liếm mép cười tít mắt. Nó bảo, như thế này được tính là hạ thổ không ạ? Bác cười. Tí thử là biết ngay. Thằng Nam mải mê ngắm nghía. Nó nâng trên tay một pho tượng người đàn bà. Pho tượng này bác tôi tạc lâu rồi. Bà ấy đứng cạnh cái điện thoại bàn, tay cầm bỏ lỏng dưới cổ, ánh mắt âu lo ngấn lệ pha lẫn sự hốt hoảng.
Thằng Tiến ngó nghiêng tủ sách bằng gỗ sồi, gật gù như thể ta đây là con mọt sách chính hiệu. Nó chốt một câu. Cả thế giới ở đây rồi. Đúng là không cần điện, cũng chẳng cần máy tính.
Thằng Dương đứng cạnh tôi phản pháo. Nói như mày, thì tao với thằng Cường thất nghiệp à? Thằng Tiến nhăn răng cười rồi bất ngờ xoa xoa tay vào bụng, hướng ánh mắt đầy ẩn ý về phía bác tôi. Không có điện, không tivi tủ lạnh, không wifi nhưng đồ ăn thì chắc là có bác nhỉ.
Bác tôi cười. Hồi đầu năm Cường hẹn tết này đưa các cậu lên. Tôi đã chuẩn bị hết rồi. Đi rửa mặt mũi đi. Tôi dẫn các cậu ra bếp ngoài trời.
Cả đám rửa mặt mũi, cất đồ vào “phòng ngủ” dài hun hút và những cái giường ghép bằng gỗ ván bác dựng trên vách hang mới được hạ xuống. Bác nói nơi này, bác từng tiếp những đoàn cán bộ địa chất ăn nghỉ cả hơn chục người rồi.
Cả bọn theo bác tôi ra ngoài hang, đi về phía sườn tây của ngọn núi, nơi những tia nắng rực rỡ chiếu nghiêng vào bức tranh chiều diễm lệ. Có một chiếc bếp rất đẹp làm bằng tre, trúc, mái lợp dát nứa. Căn bếp không rộng nhưng đầy đủ tiện nghi, nó dành cho những bữa tiệc đơn sơ mà sang trọng giữa thiên nhiên. Từ đây lại chiếc lều tranh rất gần. Khoảng giữa ấy là chiếc bể chứa nước mưa rất lớn được đậy nắp. Nước từ mái tranh theo máng chảy vào bể. Phía xa kia, lẩn khuất trong những bụi lá dong xanh mướt là những chiếc chuồng gà, chuồng chó, chuồng thỏ có mái lợp như những căn nhà nhỏ xinh xắn cho muôn loài. Bác tôi bảo, chỉ có người và một số loài ở hang thôi, còn lại ở chuồng và tự nhiên.
Quả nhiên trên bếp có một chiếc nồi to đang sôi bì bục. Bác tôi đang luộc gà. Bên cạnh là một chõ xôi nếp vừa chín. Bác giục chúng tôi quạt than để nướng con vịt đã ướp cả tiếng rồi. Không có bất kì liên lạc thực tế nào mà bác vẫn chuẩn bị thật chu đáo để tiếp đãi chúng tôi như thế này. Ông tin tôi hay linh cảm thấy?
Bốn ngọn bạch lạp khổng lồ được thắp lên. Những hình vẽ bằng sơn phản quang trên vòm hang tạo ra một không gian huyền ảo tựa cung điện cổ bị đánh thức. Thằng Nam chắp tay lẩm bẩm. Bái phục sư phụ. Bằng giọng điệu nửa say nửa tỉnh nhưng rất đỗi ấm áp, bác kể câu chuyện về cuộc đời bác. Câu chuyện mà ngay cả bố mẹ tôi cũng không hề tường tận.
Ngày xưa, có một chàng họa sĩ lãng tử đầy mơ ước. Trong ba anh em trai, chàng là người thông minh, giỏi giang nhất. Ba mươi tuổi cưới vợ. Một cô gái rất trẻ, vừa mới ra trường, người xứ quan họ Bắc Ninh. Cưới xong nàng mang bầu ngay nên ở nhà, mình chàng lăn lộn kiếm sống. Cái ngành học thư viện, khi ấy tìm việc ở quê rất khó. Mê sách mà học thư viện, học xong không tìm được việc, mới thấm thía. Chàng họa sĩ làm ở phòng văn hóa huyện lương ba cọc ba đồng. Ngày làm cơ quan, buổi tối và cuối tuần làm thuê cho xưởng thiết kế in ấn, sản xuất phông, biển quảng cáo. Tạm coi là nuôi được vợ con.
Một lần, nhân viên nhà mạng đem hóa đơn thanh toán cước điện thoại cố định tới cơ quan, lãng tử hoa mắt chóng mặt với cái hóa đơn mấy triệu bạc, bằng mấy tháng lương văn hóa. Lãng tử phải đôn đáo vay mượn bạn bè để trả. Nhìn vào những cuộc gọi kéo dài cả giờ đến một số điện thoại dằng dặc, chàng xây xẩm mặt mày. Đó là người bạn gái thân của nàng, định cư ở nước ngoài.
Về nhà, chàng nhắc nhở thì nàng nói không biết cước quốc tế lại đắt thế. Bạn thân của nàng bị chồng bạo hành, sợ cô ấy tự tử nên phải gọi để động viên an ủi. Hai người mặt nặng mày nhẹ, nàng hứa sẽ không gọi nữa.
Một lần đi làm về, chàng thấy con trai một tuổi đang gào khóc trong cũi. Còn nàng thì vẫn đang nói điện thoại với ai đó, mắt đỏ hoe, thất thần.
Chàng vứt xe ở sân, chạy vào, giật đứt dây điện thoại bàn. Quát lên. Tại sao còn gọi cô ta hả? Bị đánh thì phải báo cảnh sát chứ? Rồi chàng mang cái điện thoại bàn ra sân đập nát.
Nàng thu dọn quần áo, bế con đi ngay lúc xẩm tối. Chàng nổi cáu. Có giỏi thì đi luôn đừng có về. Cứ thế, một tuần trôi qua, cuối cùng nàng cũng về. Điệu bộ bơ phờ, mắt quầng thâm nhưng thái độ kiên quyết. Nàng chìa lá đơn li hôn. Lúc đó chàng mới biết, cuộc gọi hôm ấy là từ gia đình nàng. Người anh cả bị tai nạn lao động đã không qua khỏi. Ân hận thì cũng muộn rồi. Hai người chia tay trong im lặng. Chàng bán mảnh đất bố mẹ đẻ chia cho, giao toàn bộ tiền cho nàng tại phiên tòa. Nàng bế con ra khỏi cuộc đời chàng. Chàng trả lại căn nhà hai người đã thuê trước đó ở phố huyện rồi chuyển đến xưởng quảng cáo tá túc. Vài năm sau nữa, chàng nghỉ việc ở cơ quan. Được hỗ trợ và giúp đỡ từ bạn bè, chàng mua được một phần ba ngọn núi này trong dự án phát triển rừng 50 năm. Khoảnh khắc nàng buông lỏng tay cầm điện thoại, nước mắt chảy dài trên má đã khắc sâu vào tâm trí chàng. Ai có thể muốn quên đi quá khứ, chứ chàng thì không. Nghèo khó khiến con người trở nên nhỏ nhen, ti tiện đến nhường ấy. Nhưng đổ lỗi cho hoàn cảnh chỉ khiến con người ta trở nên hèn hạ.
Từng ấy năm, nàng né tránh mọi cuộc gặp do gia đình, bạn bè bố trí. Chàng nhiều lần đứng ở cổng cơ quan nàng, đứng ở cổng trường nhìn con trai tan học, đứng ở ngõ nhà nhìn vào mảnh sân nhỏ đầy đồ chơi của con. Cũng có lần, chàng trèo tường vào, dọn sạch khoảng sân nhỏ, xếp gọn đồ chơi. Một ngày, chàng phát hiện con trai thích vẽ nên quyết định mua tặng con những hộp sơn màu và hộp cọ. Nhưng rồi, ngày chàng tặng quà cho con, cũng là ngày nàng tái giá. Thấy chồng nàng thương quý con trai riêng của vợ như con ruột, chàng không có lí do gì để làm phiền họ nữa.
Bác tôi kể đến đó thì thằng Nam đứng dậy bỏ ra ngoài cửa hang.
Không khí trong hang bỗng tối và trầm xuống. Như thể thằng Nam mới là ngọn lửa lớn nhất. Bác tôi, ánh mắt chất chứa sự hối lỗi, cũng chạy ra ngoài. Có nhẽ ngay từ lúc nhìn thấy thằng Nam, ông đã nhận ra nó. Chỉ là ông không thể biết, tất cả do tôi sắp xếp. Ở đời, làm gì có nhiều sự trùng hợp thế. Bác vẫn tưởng cuộc gặp này là tình cờ. Sự tình cờ đẹp như một giấc mơ. Mà tôi thì không dám làm gì giấc mơ của bác.
Bắt đầu từ năm ba đại học, tôi đã kể cho thằng Dương nghe về việc mình có một người anh họ đang thất lạc. Thằng Dương bảo tôi là tìm người chẳng khó. Chỉ cần tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của bác dâu là xong. Hai thằng ngay lập tức vào việc. Hóa ra anh họ lại ít hơn tôi hai tuổi, sinh viên Yết Kiêu. Cũng phải thôi, vì bác tôi cưới vợ sau bố tôi vài năm. Chúng tôi tìm ra tài khoản cá nhân của Nam và phát hiện mối quan hệ họ hàng của Nam và Tiến. Có vẻ hai thằng rất thân nhau. Chúng tôi tiếp cận thằng Tiến trước. Thật may, thằng Tiến đang tìm phòng trọ. Chúng tôi nói, đang ở phòng bốn người ở nên cần tìm thêm hai người và thằng Tiến nhận lời chuyển đến. Sau ba tháng ở chung và thân thiết, tôi quyết định kể cho Tiến nghe câu chuyện của bác tôi và nhờ nó gọi Nam về phòng trọ sống cùng.
Nam đã đồng ý. Huyết thống quả là có sức mạnh kì diệu. Chỉ vài tháng sống cùng nhau mà Nam đã đặc biệt quý mến tôi. Nó còn theo tôi về nhà chơi. Đến mức thằng Tiến phát ghen.
Bước cuối cùng của kế hoạch là sắp xếp cho hai bố con gặp nhau. Đó là lí do có chuyến lên núi vào ngày ba mươi tết. Giờ mọi sự đã xong xuôi mĩ mãn. Sao tôi lại không vui nhỉ. Thấy thằng Nam và bác tôi mãi không vào, thằng Tiến bảo để nó đi xem. Dù sao, nó mới là người chịu trách nhiệm chính với thằng Nam. Mẹ nó là chị gái mẹ thằng Nam. Tôi có quyền nghi ngờ thằng Tiến đã tiết lộ mọi chuyện với thằng Nam. Nếu không, khi nghe bác tôi kể chuyện, tại sao nó lại bình thản đến thế.
Thằng Dương thì cứ lẩm bẩm như kẻ tự xưng tội với Chúa ở trong lòng. Thằng Nam biết bác Chương là bố nó từ bao giờ? Tao không tin là đến tận lúc ông ấy kể chuyện nó mới biết. Tôi ậm ừ. Có thể sớm hơn. Từ lúc nó xem bức tượng mẹ nó.
Không thấy ba người quay về. Đến lượt thằng Dương đứng dậy, vào ngách hang lấy ra chiếc đèn pin để trong ba lô rồi rời đi. Tôi tra thêm củi vào bếp lửa. Dọn rửa bát đũa úp vào một chiếc rổ lớn. Dựng chiếc bàn gỗ gọn vào một góc. Muốn giết thời gian, chỉ có đọc sách. Nhưng tôi đã uống quá nhiều. Uống vì vui, vì thấy mình có chút thành tựu nên những con chữ cứ hối hả trôi qua mắt tôi như đàn kiến chạy bão, không đọng lại gì.
Tôi đặt cuốn sách xuống bàn và tiến lại gần những bức tượng. Những cái bóng tượng hắt lên thành hang tạo ra những hình thù vô cùng sinh động. Người ta nói im như tượng. Còn trong không gian này, dưới ánh nến, tất cả những pho tượng đều đang trình diễn một vũ điệu riêng. Có phải, đây chính là nghệ thuật tạo bóng mà bác tôi đã thực hiện để bước qua mấy nghìn đêm cô đơn trong hang tối? Phải chăng, tự giam nhốt mình trong niềm hối hận, nên bác muốn mỗi tác phẩm của mình đều có hai đời sống? Nếu không thì tại sao, tượng con hổ nằm kia, cái bóng của nó lại là một người đàn bà. Hay như bức tượng Chí Phèo say xỉn, bóng nó là chàng Từ Thức hào hoa trước cửa động tiên. Cả những nhà máy, xí nghiệp, đình làng, cây đa, con đò... đều là bóng của những bức tượng đá nhờ sắp xếp mà thành.
Đã mười một giờ đêm, tức là đã một tiếng trôi qua, không thấy ai quay lại. Tôi cầm chiếc đèn pin nhỏ xíu như đồ chơi của mình đi ra cửa hang. Bầu trời đêm ở trên núi sâu thăm thẳm. Vũ trụ rộng lớn mênh mang. Cỏ non trải thảm mềm dưới chân tôi. Tôi thấy mình nhỏ dại như cỏ.
Tôi tìm thấy thằng Dương ở trong lều tranh hình cây nấm. Nó ngồi co ro trên ụ đá dùng làm ghế. Tìm người kiểu này à? Nó vẫn ngồi im như nghĩ ngợi. Có phải thằng Dương sôi nổi mà tôi thân thiết đã hai chục năm trời đây không? Tôi thò tay xoa đầu nó. Nó cầm tay tôi, vứt ra. Bạn để cho tôi yên một chút. Tôi cảm thấy chúng ta đã sai khi lừa thằng Nam lên đây. Nhẽ ra, nên nói cho nó biết trước.
Tôi tìm thấy thằng Tiến trong căn bếp gỗ. Nó mở toang cửa và nhóm cho riêng mình một ngọn lửa, đang hơ tay như người già. Lửa ở đây khác gì lửa trong hang? Nói xong câu ấy, tôi vừa quay người định rời đi thì thằng Tiến kéo tay tôi lại, nhân nhượng. Thôi, để tao nói thật. Những vết sẹo trên chân, đùi thằng Nam mà mày thấy đó, là do dượng nó làm.
Tôi thấy hàm mình cứng đờ lại. Cây đèn pin bé xíu với chút ánh sáng không bõ bèn gì so với sự mịt mùng của đá núi, cây cối và dây leo. Tôi đi xuống núi. Tới chỗ chúng tôi dừng chân ngắm hoa đỗ quyên cổ thụ lúc chiều, tôi thấy thằng Nam đứng dựa lưng vào vách đá. Hai tay nó giấu trong túi áo nỉ. Thật ra, lúc này, cũng khoảng mười ba độ thôi. Không rét quá. Mà sao nó cứ như cục băng vậy. Tôi bắt đầu nghi hoặc. Tôi nắm vai nó lật ra và lia đèn vào vách đá. Tôi thấy dòng kí hiệu thứ tư vừa được khắc bằng mũi dao. Nét khắc trùng khớp với ba dòng trước.
Tôi ngửa cổ bật cười. Cười chảy nước mắt. Tôi đã tính toán gì thế này. Hóa ra, thằng Nam, trước đó, đã ba lần lên núi. Chỉ là lần này hai người mới gặp nhau. Nó mới thật sự bước vào thế giới của bố. Có nhẽ, nó đã tha thứ cho bác tôi từ lâu. Những bức tranh về hoa bách hợp, đỗ quyên và những ngôi nhà Mường, bầu trời đỉnh núi... để đầy góc riêng của nó. Và những vết sẹo ở chân, đùi nó nữa. Là sự trừng phạt của dượng nó dành cho một kẻ phản bội. Ông ta đã nuôi nó lớn, chăm chút nó mỗi ngày vì rất yêu mẹ nó. Mà nó lại đi tìm cha đẻ. Tất cả đều chứng tỏ, ba thằng chúng tôi chẳng hiểu gì về nó. Tôi liên tưởng tới một bài thơ tứ tuyệt mà nó dùng bốn năm để viết lên đá, nhưng không muốn ai hiểu.
Tôi lững thững bước sau thằng Nam. Tôi muốn soi đèn cho nó. Dù tôi biết, trong lòng nó luôn có một ngọn lửa cháy sáng.
Đã đến giao thừa. Bốn anh em chúng tôi bị nhốt bên ngoài cửa hang. Không hiểu sao, bức tường liễu lại có thể di chuyển cả hai mét chiều ngang, che kín cửa hang như một sự ngụy trang cầu kì, lãng mạn. Chúng tôi là khách, không thể tự ý mở cổng mà vào. Quan trọng là cái cánh cổng được bọc bằng lớp liễu sao mỏng manh kia, không phải là để đóng mở kiểu thủ công.
Thằng Tiến lẩm bẩm. Màn trời chiếu đất là có thật anh em ạ. Nó vừa dứt lời thì bức tường liễu đã từ từ chạy về chỗ cũ. Bác tôi thật là một kì tài. Ông chính là thần đèn trong mắt tôi. Khoảnh khắc ấy, từng chùm pháo bông đồng loạt nở rực rỡ trên bầu trời giao thừa. Dưới trời là cỏ non và chúng tôi. Bác tôi như một ông chủ nhà hào phóng cầm sẵn bốn bao lì xì đứng đó, nét mặt hân hoan, như chưa từng bước ra khỏi giấc mơ đoàn viên.
Lần đầu tiên tôi gọi Nam bằng anh. Anh vào xông hang đi. Chúng tôi yểm trợ phía sau. Thật ra, Nam bị ánh sáng trong hang hút vào thì đúng hơn. Đi qua bác tôi, Nam nhận một bao lì xì, giơ lên vẫy vẫy. Tôi đi cuối cùng, nhận quà của bác. Trên tay bác tôi còn một bao lì xì có vẽ hình con ngựa. Nét vẽ rất quen…
T.N.H
VNQD