Gầm cầu

Thứ Bảy, 14/02/2026 06:56

Ngày nhà văn Lê Lựu còn sống, ông nhiều lần nhắc nhở tôi: “Cậu viết chán lắm. Lúc có văn thì không có chuyện. Lúc có chuyện thì không có văn. Cơ mà cứ tưởng hỏng thì lại loé lên một cái gì. Hãy nhìn vào cuộc sống đang diễn ra ngoài chợ mà viết may ra…”

Tôi suy nghĩ mãi về câu nói của ông. Quả thực văn chương Lê Lựu là văn chương của tầng lớp cần lao dưới đáy xã hội. Từ cuộc sống ùa vào trang văn, rồi từ trang văn ấy ùa ra cuộc sống. Tôi cũng hiểu ý nhà văn mắng chúng tôi viết thiếu vốn sống, thiếu đi những thứ căn cốt của đời sống xã hội khó mà thành văn chương được. Nhưng con đường của văn chương rất lạ. Càng cố gắng càng bất lực. Càng hùng hục đắp lũy xây thành càng công cốc dã tràng xe cát. Những kinh nghiệm trong đời sống xã hội, những vấp váp và nhiều nỗi cay đắng ê chề mà sao thể hiện trong văn chương vẫn quá đỗi khó khăn. Những gì đặc sắc trong hiện thực đời sống cứ tuột đi vô phương đưa vào trang viết.

Tôi viết đủ các thể loại. Cứ thế một mạch hành quân coi thiên hạ cũng như thể nhà mình, cũng không ít lúc được Lê Lựu khen qua các bạn đồng môn rằng. “Cậu này viết chân dung văn học cũng bợm nhỉ”. Còn về hai môn học chính là truyện ngắn và tiểu thuyết của tôi, ông tuyệt nhiên không có ý kiến gì. Đối với nhà văn đã bước vào U50 như tôi, thế tức là đã bại.

Nhưng những gì của đời sống, nhất là những người dưới đáy xã hội luôn ám ảnh tôi. Cuộc sống hàng ngày đập vào mắt tôi, gây tổn thương với biết bao câu hỏi có lẽ nào tôi không viết ra những điều trông thấy? Truyện ngắn Gầm cầu đã được viết ra như thế, trong những nhịp nghỉ của các tiểu thuyết lịch sử.

Gầm cầu được viết rất mau chóng, tự nhiên, đúng những gì có từ hiện thực, từ nhân vật đến bối cảnh, không gian, thời tiết, những chuyển động bên trong và bên ngoài cứ thế diễn ra như thước phim quay chậm trước mắt tôi. Chi tiết con chó trong Gầm cầu cũng là chi tiết thực. Người đàn ông nơi hốc cầu thậm chí còn có tên tuổi, lí lịch hẳn hoi. Song văn chương là văn chương, Gầm cầu là truyện ngắn, là một khúc đời sống trong gia tài văn chương của tôi với những gì yêu quý, máu thịt, không thể tách rời.

Tuy nhiên, tôi cũng rất hiểu một điều rằng, mọi tác phẩm văn chương, sự hay dở, tính hữu ích, tầm vóc khác nhau của nó đều là do bạn đọc quyết định.

Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI

******************

Người đàn ông cà nhắc trú ngụ dưới gầm cầu sắt. Cây cầu già nua, ọc ạch có từ hơn một trăm năm bắc qua một con đê. Phía dưới um tùm những cây quăng dại bốn mùa nở hoa đỏ như những quả cầu nhỏ mùi hôi hôi, nồng nồng. Lúc rộ mùa, hoa rụng thối lăn lóc đầy mặt đất. Cái hõm cầu như căn hầm nhỏ bị lãng quên đêm ngày hàng chục lượt tàu chạy qua.

Lão ngủ vùi luôn trong cái hốc quen thuộc của mình. Cái hốc ẩm mốc, hôi hám nhỏ hẹp nhưng bắt hơi người rất nhanh. Một con chó hoang tha thẩn đến với lão vào lúc sẩm tối. Lão cho nó ăn thức ăn thừa. Những đêm mưa gió nó thường ngủ lại. Khi trời rét, hơi ấm của lão và của con chó lây thấm sang nhau, nhiều khi chả muốn dậy nữa. Dậy rồi đi đâu? Ngoài kia trời rét, tối xám. Gió bấc từ mặt sông hẹp thổi u u, vật vã suốt đêm. Nền trời xám ngoét, thấp tè.

Ình ình... ình ình... Lại một đoàn tàu chạy qua. Nhịp cầu chao mạnh, lắc lư, rung giật như có thể đứt gãy bất cứ lúc nào. Con chó choàng mở mắt nghe ngóng rồi lại nhắm mắt lại mơ màng. Lão nằm im nghe gió thổi, tàu chạy. Mắt lão mở nhìn ra phía ngoài. Sông lạnh và tối, chảy khò khè, rác rưởi lập lờ, thê thảm. Những khi hung bạo nhất, nước sông cũng chưa bao giờ cuốn tràn vào được cái hốc nhỏ này. Thỉnh thoảng, vài thanh gỗ mục không biết từ đâu rơi lăn lóc xuống cửa hốc đất. Khi ấy, lão vơ lấy, chất gọn vào bên vách, rét quá thì bỏ ra đốt, khói quẩn vào ngập ngụa. Trong đám khói khét mù, con chó hậm hực cắn rí rách rồi bỏ đi. Nó mặc kệ ông già gàn dở, dốt nát, bệnh tật không đâu tự hun mình. Đêm hôm ấy, y như rằng nó không trở về. Nó đú đởn với mấy ả chó ghẻ lở, hôi hám cho đến sáng. Có khi chúng quấn lại với nhau, quần thảo, rên rỉ rồi hộc lên dưới những bụi quăng dại. Lão không giận con chó. Thỉnh thoảng, nhìn từ trong hốc, lão thấy nơi gốc cây quăng dại, mấy mụ buôn hoa quả ở góc chợ cạnh đó chạy ra tụt quần ngồi núp vào khóm cây. Có mụ chả ý tứ, cứ nồng nỗng, xè xè, vô tư như chẳng có thứ gì cần phải che đậy. Lúc ấy, một phần của lão cũng dần cựa quậy, nó nhắc nhở lão đã lãng quên nó nhưng nó chưa hề lãng quên lão. Nó thúc giục, một thúc giục mơ hồ. Cũng có khi cấp bách đến khó hiểu. Có một dạo, cái con mụ buôn củ đậu cố tình trêu tức lão. Nó liên tục tụt quần ở gốc quăng dại. Con mụ còn trẻ và rất lẳng lơ. Hình như ả để ý đến lão từ trước. Ả cố tình bày ra cái trò oái oăm này, khiêu khích dẫn dụ lão. Tao đây chả đáng tuổi cha chú mày. Lão lầm bầm chửi. Nhưng cái của nợ của lão là quân bất trị, cứ nhấp nhổm không yên. Một hôm, sau khi tụt quần chả có giọt nào, ả tiến thẳng về cái hốc cầu, nơi trú ngụ của lão, tay cầm theo mấy củ đậu. Ả hơi đỏ mặt, nói bâng quơ trách móc: “Bác gì này, bác kiếm cái gì che cửa rả lại chứ, ngượng chết đi được”. Lão nhìn ả, bỗng thấy rạo rực khắp người. Cái dáng của ả, mỗi lần thấy thấp thoáng, nói phải tội, trông hay đếch chịu được. Lão như lên cơn sốt, lắp bắp: “Tôi, tôi...” Ả kia sấn đến, khum người chui vào cái hang, chìa mấy củ đậu ra. Tiếng ả đột nhiên đứt quãng: “Ế... ế ẩm quá cơ... lấy mấy củ ăn... ngọt lắm...” Rồi ả chui hẳn vào, bộ ngực phốp pháp áp ngay vào miệng lão. Lão ú ớ vật ả nằm xuống chiếc chiếu rách. Hì hục một lúc lâu. Ả như kẻ chết khát lâu ngày, suýt nữa làm gãy nốt cái chân lành lặn của lão. Xong việc, ả vấn lại mái tóc, bây giờ mới thấy nó khá dài, hơi xoăn, cứ rối tinh lên, vương đầy những cọng chiếu mục lướp xướp. Rồi ả quày quả rời khỏi cái hang. Hai hôm sau, rồi mười hôm, hai mươi hôm, không thấy ả quay trở lại. Cũng không thấy ả đến chỗ cây quăng dại như mọi lần nữa. Cái con mụ gan cóc tía, liều lĩnh lục lâm ấy không biết đi đâu. Lão nhớ cái mùi nồng nồng của ả. Ả cứ đút đút, day day cặp vú sồ sề, thâm xịt khổng lồ lên mặt, lên mũi, lên ngực lão. Ả đúng là một con beo rừng, một con sói hoang vô chủ. Lão chờ đợi, có những lúc quên hẳn rồi lại nhơ nhớ cái của tội nợ ấy. Thế mà đã mấy năm rồi. Những ả ra gốc quăng dại bây giờ trẻ hơn, chúng nhanh như sóc, nhìn trước nhìn sau là kéo loạt soạt, xanh xanh đỏ đỏ gớm chết. Nhiều lúc cáu gắt vô cớ, lão ném bịch hòn gạch ra. Chúng cũng chả sợ. Toàn những quân cướp đường cướp chợ biết sợ gì ai. Có lẽ chúng không biết trong cái hốc tối tăm này có người, một lão cụt què bẩn thỉu đang hấp hối. Khi ấy, lầm bầm chán, lão lại thở dài, nằm bẹp dí như con chó ốm, có khi hai ba hôm không dậy.

*

*         *

Chiều chạng vạng, trời xám ngoét, gió bấc từ mặt sông ù ụ thổi về phía cầu. Trong hốc, từ hôm qua, lão chưa rời khỏi đó. Lão nằm co quắp, rên rẩm một mình. Đã mấy hôm liền, con chó hoang bỏ đi đâu không quay về. Có những hôm vớ bẫm, nó tha về cho lão nguyên chiếc giò bò, chắc thuổng được đâu đó trong chợ. Lão bóc chiếc giò, dùng con dao nhỏ cắt ra, chia phần cho nó. Chán chê, lão gói lại để sâu trong hốc. Hôm sau, từ sáng sớm, nó đã ư ử đòi ăn. Đồ phù thuỷ cướp ngày, nhớ gớm. Lão xắt cho nó một khoanh, lục sục loanh quanh tìm nước uống. Cái chai nhựa chỉ còn một ngụm nhỏ, sạn cát kinh người. Lão tợp nốt ngụm nước cuối cùng rồi lười nhác co mình rúc sâu vào cái hốc. Con chó hoang chén xong miếng giò chạy biến đi đằng nào, chắc đang rửng mỡ tìm mấy ả chó cái. Lão nằm trong yên ắng, lại nhớ đến con đàn bà khốn kiếp. Hình ảnh bộ ngực đồ sộ của ả chịn cọ vào mắt vào mồm lão hiện về. Lão nuốt nước bọt. Cái con beo rừng hổ cái ấy sao khỏe gớm thế. Hôm ấy suýt nữa nó làm gãy nốt cái chân lão. Mà sao lúc ấy nó thì thầm vào tai lão những câu tục tĩu nhăng cuội mất dạy thế nhỉ. Không biết đã có chồng chưa? Con này chắc chả ông chồng nào trụ nổi vài năm trên mặt đất. Cù đinh thiên pháo trốn vào tận cái hốc quỷ quái này nó còn không buông tha cho. Mỗi lần ả đến, bao giờ cũng nhanh chóng áp sát vào người lão. Lão ép mình trên người ả, hân hoan sờ soạng. Lão thấy cặp mắt phấn khích của ả sáng rực trong đêm tối. Chưa chi ả đã rên ư ử như chó cái. Bàn tay nung núc của ả quấn siết rồi vỗ vỗ lão như ru nựng một đứa trẻ con. Con chó không chịu được cảnh ấy sủa lên au ảu rồi lặng lẽ biến đi. Người đàn ông vật lên vật xuống như con tàu trong bão. Những lúc ấy ả hay cười ré lên trong tiếng thở phì phò của người đàn ông. Rồi tất cả chìm trong đêm tối. May mà mỗi lần xong việc con mẹ cũng biến đi đằng nào chứ cứ liên tục thế chắc lão cũng kiệt quệ mà chết.

Đang nằm nghĩ vớ nghĩ vẩn bỗng nhiên có tiếng hò hét ở đâu ầm ầm kéo đến. Cả tiếng đàn ông, cả tiếng đàn bà. Một cuộc săn đuổi ráo riết. Có tiếng chạy rào rào, huỳnh huỵch về phía cái hốc. Rồi một bóng đen nhỏ, ướt lướt thướt, tập tễnh, lảo đảo dưới chân cuống cuồng chui tụt vào trong hốc. Mùi cống rãnh, mùi máu me tanh tưởi sộc lên. À, bọn kia săn quân chết vạ này. Chưa hiểu đầu cua tai nheo thì lũ người tay dao, tay gậy đã xộc đến đứng quây trước cửa hang. Một ả chống nạnh, tay kia cầm cái đòn gánh dài quá khổ, gào lên sưng sỉa: “Lôi cổ ra đánh chết bỏ mẹ nó đi. Quân trộm cướp!”. “Thôi đi, cẩn thận cái mồm”. Tiếng một gã đàn ông rin rít: “Nhà của lão cụt đấy. Con chó chắc là của lão. Dây vào lũ cụt què thương tật rách việc lắm. Lão lu loa ăn vạ ra đấy còn buôn bán gì”. “Về thôi”. Mấy người lao xao chỉ trỏ đại khái muốn biến đi. Mụ béo nhìn xeo xéo vào trong, thấy một đống bùng nhùng và cặp mắt trắng dã trố dại của lão già. Con chó sợ quá đã chui tít phía trong. Mụ léo nhéo chửi bới gì đó nhưng đột nhiên tàu đến. Tàu đếch gì mà dài thế không biết. Ồn ĩ bụi bặm không sao chịu nổi. Hết tàu cũng là lúc bên ngoài đám đông đã giải tán chẳng còn ai. Còn một mình, mụ hậm hực bỏ đi.

Ngoài trời nhọ nhẹ mặt người. Trong cái hốc đã tối hẳn. Gió ở dưới sông lại u u thổi trên tàn cây quăng dại cội cành trơ khấc, run rẩy dưới nền trời xám ngoét đang sập xuống. Bây giờ lão mới lần mò vuốt ve con chó. Nó vẫn còn run cầm cập không biết là rét quá, đói quá hay sợ quá. Một cẳng chân sau be bét máu. Chắc con mụ béo đã giáng đòn thù xuống đó chứ ai. Khốn khổ thân con. Lão quên cả mùi tanh hôi đang nồng nặc lần tìm cái áo bông cũ nhặt từ mùa đông năm ngoái giở ra đắp cho con chó. Con chó rên ư ử. Trong bóng tối, những giọt nước mắt chó chảy ra, đỏ khé, đông đặc, nhớp nháp như máu xuống bàn tay lần sờ của lão. Lão sờ vào vết thương của nó. Xương gà, da chó. Rồi sẽ chóng lành thôi. Ở với lão bấy lâu nay, nó đã nhiều lần bị người ta đuổi giết, băm vằm, đánh đập. Toàn những đòn chí tử mà vẫn gượng dậy được. Nếu là lão, chắc đã ngỏm củ tỏi rồi. Thôi nín đi con. Để ta đi kiếm cái gì cho con lót dạ. Chắc đói lắm mới đến nông nỗi này. Ừ, ta vẫn còn một ít tiền đây. Lát nữa ta ra phố mua cho con bát phở nóng. Ta biết con thích ăn phở lắm. Phở bò có nhiều nước con ăn cho mát ruột mát gan, chóng lành lặn. Nào, chịu khó nằm một mình, con nhé. Và đừng khóc. Khóc lóc chả ích lợi gì đâu. Đấy, con cứ nhìn vào tấm gương của ta. Đã bao nhiêu năm nay không một cớ gì khiến ta rỏ một giọt nước mắt. Cứ thế nhé, con ngoan.

Nói đoạn, lão vuốt vuốt lưng con chó rồi lục sục tìm chiếc gô nhựa sứt sẹo, khom mình chui ra khỏi cái hốc tối tăm tập thễnh bước đi. Ngoài trời, điện thành phố bắt đầu le lói sáng. Với lão, cuộc sống lúc này thật thanh bình, mọi thứ vô cùng đơn giản. Lão không phải đối diện với những suy nghĩ lùng bùng. Lúc này đây, lão có mỗi nhiệm vụ đi mua phở cho người bạn, người đã làm cuộc sống của lão bớt tẻ nhạt. Vẫn biết trong cuộc mưu sinh kẻ kiên cường thì tồn tại, kẻ ốm yếu bị diệt vong. Số phận của lão và con chó cũng không khác thế. Sự phân công vai trò cũng chỉ tính đại khái, vấn đề là làm sao để lão và nó vui vẻ chìm đắm trong thế giới nhỏ bé của mình. Đau khổ và vui sướng cũng chỉ tự biết với nhau. Đã bao nhiêu lâu nay, cuộc sống diễn ra theo tiết tấu chậm chạp tự nhiên như thế. Cái góc tối gầm cầu vẫn chưa bị người ta phát giác. Có những lúc lão tưởng mình nằm trên đồng cỏ xanh rờn, lão và nó đuổi nhau trên cánh đồng dưới ánh mặt trời. Ả béo không biết tại sao thon thả và dịu dàng đang ở nhà chuẩn bị bữa tối. Ả mỉm cười đi đến gỡ tấm áo mưa ướt rượt của lão, miệng xuýt xoa. Con chó cũng chạy ra, nó ăng ẳng vẫy đuôi mừng tíu tít. Bỗng có ánh chớp lóe lên loằng ngoằng. Rất nhanh, ảo ảnh mau chóng kéo đi. Lão đi dưới làn mưa lắc rắc trên đường phố. Mưa bắt đầu thấm ướt người. Những giọt nước chảy xuống miệng mằn mặn, nồng nồng mùi mồ hôi của mái đầu lâu ngày không tắm gội. Lão khẽ thè lưỡi liếm. Không hiểu sao, lúc nào lão cũng cảm thấy khát, cho dù đang bước đi dưới những cơn mưa. Mưa lạnh thấm vào tận tâm can. Lão luôn cảm thấy sự liên hệ mơ hồ giữa bản thân, con chó và trời đất. Lão cần mẫn bước trên đường phố lấp xấp nước với những suy nghĩ đứt nối không liền mạch.

*

*           *

Cô ả bợm bãi bán củ đậu trở về. Hôm ấy trời mưa. Mưa đông rả rích. Bầu trời sũng nước, cái khoảng trống trước hốc nhà, những vũng nước nhỏ tù đọng dềnh lên. Một mình lão và con chó chán ngủ lại thức. Người và chó đều đói nhưng lười nhác không muốn rời cái hốc. Thực ra là vô vọng tìm kiếm một cơ may ai đó sẽ cho ăn trong lúc mưa gió như thế. Thỉnh thoảng lão cũng có tiền nhưng mấy hôm nay thì chẳng xu dính túi. Đang meo móp thì ả đến, xuất hiện thình lình, không báo trước. Ả đã quá thạo đường đi lối lại chốn này. Thoạt tiên ả lép nhép vạch quần, xè xè một lúc rõ lâu. Lão lắng tai nghe tiếng xè xè quen thuộc. Cái nết ấy của ả, có lẽ chỉ mình lão biết. Con chó dù tinh nhạy đến mấy cũng không biết. Lạy giời! Ả đã trở về ư? Lão cười thầm, chợt nhớ tới những trò vớ vẩn. Ngoài cửa, bóng đen đã xịch đến, rùm ròa, ướt sũng, thở dồn dập, hơi nước phả ra mờ mịt. Con chó thấy người chẳng những không sủa còn rúc vào trong. Lão he hé mắt, khẽ nhỏm dậy. Cái bóng rùm ròa ập tới. Ả nói những gì gì. Hình như ả mắng mỏ lão, thông báo vắn tắt một giấc mơ nào đó của ả. Như là một sự xót thương khi ả mơ thấy người ta xóa sổ chỗ này, phá đi cây cầu, tiêu diệt lão và con chó ốm yếu, què quặt. Ả thấy như thế là không được, là bất công, mới bỏ cả hàng hóa từ miền ngược lặn lội về đây. Thế mà, tiên sư chúng nó. Về đây thấy mọi thứ vẫn thế, yên bình, nhếch nhác. Chả có ai tiêu diệt ai. Chỉ ả là xốc nổi, ngu ngốc, cả tin. Ả tơn tớn chỉ vào mặt lão đang ngơ ngác, mắng người tình của mình mấy câu rồi cứ thế đứng ngây ra. Trong khoảng không gian chật chội, bộ ngực đồ sộ của ả dí sát mặt lão. Cái mùi hôi hôi, nồng nồng lại bốc lên. Lão co người ngồi dậy, gạt con chó sang một bên, thẳng tay phát vào mông nó một cái đau điếng. Con chó quắc mắt gầm ghè sự đối xử đột ngột khó hiểu của người bạn. Lão trừng mắt, giơ cao tay. Theo bản năng, nó hiểu rằng phải biến khỏi đây càng nhanh càng tốt. A lê hấp, con chó gầy trơ xương cum cúp lao vào màn đêm mưa lạnh cũng là lúc đôi kia đổ vào nhau mê mải. Ngoài trời rả rích mưa. Tiếng tàu ùng ình dội từ xa đến. Hai trái tim mê mải đập thình thịch, rồi nhịp một khoan thai, có những lúc tưởng như ngừng đập trong hốc tối.

Khi hai kẻ nhân tình tỉnh dậy vì bụng đói cồn cào cũng là lúc con chó ở đâu trở về. Nó đang nhẩn nha chén một khúc giò bò vừa khoắng được. Hai kẻ kia mở mắt. Con chó gầm ghè, gục gặc giấu khúc mồi vào xó tối. Người đàn ông đẩy ả đàn bà sang một bên, quờ tìm cái áo cho ả rồi ngồi dậy, làm một động tác ra hiệu. Con chó gừ gừ chằm chằm nhìn hai người. Người đàn ông lẩm bẩm câu gì đó, giọng mơn trớn dỗ dành. Con chó gục gặc đầu rồi nhích người, quặp tảng mồi chén dở tha lại phía người đàn ông. Người đàn ông nhìn con chó trìu mến, tay vuốt vuốt tấm lưng ướt mềm nước mưa của nó, tháo những dây dợ quấn xung quanh khúc mồi, một tay thò vào phía trong lôi ra con dao nhỏ. Mắt người đàn ông lóe sáng. Rất thuần thục, lão cắt cho nó miếng mồi nham nhở đang gặm dở. Con chó nhìn đôi bàn tay thuần thục và con dao nhỏ loang loáng. Nó có vẻ thờ ơ với miếng mồi được chia. Thực tế là từ đêm, nó đã chén no kễnh. Người đàn ông và người đàn bà hì hụi chia nhau khúc mồi con chó tha về. Đã rất lâu, hai người mới có một bữa ngon đến thế. Có lẽ cả hai vừa dốc sức nên đói. Vừa nhồm nhoàm nhai nuốt, người đàn ông vừa quờ tay tìm chai nước uống. Chai nước méo mó cạn từ tám hoánh. Cả hai nuốt khan nhìn con chó đã rúc mõm vào hai chân trước ngủ khìn khịt. Người đàn bà ăn mặc phong phanh gãi sồn sột. Ngứa toàn thân. Ngứa không chịu nổi. Ả lục sục đứng dậy đi ra khỏi cái hốc cầu, vừa giật tung cái áo đập lạch phạch vừa tiến vào đêm tối, mặc kệ người đàn ông đang lầm bầm chửi rủa và con chó đã ngủ. Ngoài trời vẫn lắc rắc mưa.

Khi lão đang thiu thiu thì có tiếng lạch xạch bên ngoài cái hốc. Chẳng khó khăn gì lão đoán ngay là ả. Chắc ả quên cái gì. Có khi ả muốn dặn dò lão điều gì trước một chuyến đi xa. Ban nãy, lão loáng thoáng nghe thấy ả chửi rủa một giấc mơ nào đó. Hình như là ả mơ thấy lão và con chó bị người ta đuổi khỏi chỗ trú ngụ ấm áp này. Dù gì cái hốc cầu cũng đã lưu giữ những hình ảnh tình tự giữa ả và lão. Còn hơn thế, cái hốc cầu là căn nhà cuối cùng của lão. Ả lặn lội trở về như thế khiến lão cảm động. Cũng đã lâu, kể cả con chó cũng không còn khiến lão cảm động nữa. Thế mà ả lại bực tức khi thấy lão và con chó vẫn bình yên. Lão lục cục cười trước sự dớ dẩn của ả. Có lẽ ả ghen với con chó. Lão bất giác cố nén tiếng thở dài. Ả đã lù lù áp sát ngay trước mặt lão.

Không nói một lời, ả khẽ vẫy lão ra sát bên ngoài. Lão xục xịch lê tấm thân tàn tật rời khỏi con chó đang khụt khịt ngủ tiến về phía ả. Trong đêm tối, lão nhìn rõ ả tay cầm một cái bao tải, mắt ả sáng rực lên. Ả thì thào: “Bán quách con chó. Được vài trăm đấy”. Lão rùng mình, khẽ rụt người lại, hai cánh tay lỏng khỏng sức tàn huơ huơ hàm ý như muốn nói: Đừng làm thế mình ơi! Nó là bạn tôi, bao nhiêu năm nay tôi nương tựa vào nó. Như đọc được suy nghĩ của lão, ả khẽ rít qua kẽ răng: “Còn con này thì sao? Bỏ cả hàng hóa đi hàng trăm cây số về với các người thì sao? Bây giờ một xu không còn để ngược. Đấy! Tính thế nào thì tính”. Lão ớ người. Lão không ngờ sự thể lại diễn biến như thế. Thì lão có cần gì ả về đâu. Nhớ nhung mộng mị rồi cũng qua đi chứ thiếu con chó khác gì giết lão. Bao nhiêu năm nay nó trung thành với lão, bây giờ ả bắt nó đi khác gì giết dần giết mòn lão. Lão nhìn quanh quất. Nhưng không có tiền ả cũng không đi được. Còn hàng hóa vốn liếng ở đâu đó của ả thì biết làm sao. Không cho ả bắt con chó, ả cứ nằm lì ở đây cũng đến chết đói cả nút.

Thấy lão im lặng, ả xấn lên, vừa than vãn vừa nhiếc mắng: “Khổ thân tôi chưa! Lại đi tiếc một con chó. Rõ loại tham lam bạc ác. Rõ quân đầu đường xó chợ”. Vừa nhiếc mắng, ả vừa tiến về phía con chó đang ngủ. Tay ả khum khum nắm chặt miệng chiếc bao tải dày, đen thui, thùng thình như áo choàng thần chết. Ả cố hết sức, gần như nín thở tiến sát con chó đang rúc mõm vào cái áo bông rách khụt khịt ngủ. Bằng một cú chụp bất ngờ, ả chồm cả người lên con chó, chiếc bao tải gớm ghiếc như chiếc nơm đen ngòm úp sụp xuống.

Sau giây phút kinh hoàng, hoảng loạn, con chó đã thôi giãy giụa. Nó không hiểu chuyện gì xảy ra nhưng bản năng mách bảo nó đã gặp tai họa. Với sự dạn dày sẵn có, với sự quỷ quyệt của một con quỷ chuyên đi ăn cắp, rình mò, tháo chạy, trốn tránh lũ người tinh ranh ở ngoài chợ, nó hiểu tình cảnh nguy hiểm của mình. Nó nhận ngay ra hơi thở nồng nồng của mụ béo. À thì ra là mụ. Cả lão già nữa. Chúng đã phản lại nó. Vừa uất hận vừa điên loạn, bằng bản năng của loài cầm thú trong bước đường cùng, con chó dùng hết sức bình sinh oằn mình thoát ra khỏi cái bụng nung núc mỡ, đồng thời ngoặp hàm răng bén nhọn vào cổ tay lần lẫn đang bấu chặt miệng chiếc bao tải day mạnh.

Một tiếng ối ré lên trong hốc tối. Ả béo buông tay. Một luồng điện chạy thốc buốt đến tận óc. Ả ngã ngửa ra sàn đất ẩm mốc. Tay còn lại buông ra nắm chặt vết chó ngoặm đang bắt đầu chảy máu. Ả hộc lên, tru tréo cũng là lúc con chó vùng thoát khỏi chiếc bao tải tử thần. Nó phóng thẳng ra ngoài, cái đuôi cụp xuống kéo thành vệt ngoằn ngoèo trên đám bùn nhầy nhụa.

*

*            *

Lại một mùa đông nữa qua đi.

Trong suốt mùa đông, ả đàn bà không một lần trở lại.

Sau trận ấy, phải đến ba tuần con chó mới quay về cái hốc cầu.

Nó trở về vào buổi đêm. Lúc ấy lão còn thức. Lão đang nhớ nó thì nó về. Mới đầu còn e dè, cảnh giác. Sau thấy chỉ có mình lão, nó sán đến. Trời! Nó bị ai đâm một nhát vào mông. Máu ra ướt đẫm. Hôm ấy lão còn nắm cơm từ chiều, có cả muối vừng.

Lão lập cập giở nắm cơm ra.

Ngoài trời, gió sông ù ụ thổi...

Lại một mùa đông nữa đến.

Người đàn ông tập tễnh dưới gầm cầu bỗng có triệu chứng khác thường. Lão liên tiếp mất ngủ, suốt đêm ngồi bó gối đợi tiếng tàu. Không hiểu tại sao, những con tàu dường như lười biếng hay sai lệch với sự chờ đợi của lão. Đôi khi chúng lướt đi không gây ra tiếng động. Con chó dường như ngày càng mệt mỏi và già nua. Nó lười nhác không tha về những khúc mồi béo bở như xưa nữa. Cũng có thể những người trong khu chợ đã trở lên tinh ranh và quỷ quyệt hơn. Con chó linh cảm đời sống của nó sắp kết thúc. Nó ngồi lặng lẽ như chủ nó, đôi tai nghễnh ngãng hong hóng những chuyến tàu rời rạc. Thỉnh thoảng, nó đưa mắt nửa van xin nửa thương hại nhìn người đàn ông đang rên rẩm. Cũng khá lâu mụ béo không mò đến. Có thể ả đã vớ được một món hời nào đó hoặc có thể ả đột nhiên gặp một tai nạn vẫn thường xảy ra như cơm bữa. Cái hốc cầu bắt đầu nhạt hơi người.

Người đàn ông lờ mờ nhận ra điều đó từ cặp mắt mỏi mệt của con chó ốm. Lão không còn một xu nào trong túi khả dĩ nghĩ đến cái gì nhét vào cái dạ dày rỗng. Lão nhìn con chó vẻ oán trách và thúc giục người bạn. Mi hãy lên đường đi. Hãy kiếm một cái gì về đây, nào anh bạn. Con chó đưa mắt ra ngoài, trời đang xám lại. Gió từ mặt sông u u thổi thốc vào những thanh gỗ tạm bợ che chắn cửa hốc. Mắt người đàn ông chợt rực lên. Con chó hơi rụt người lại trước loé sáng ấy. Lão ranh mãnh nhìn người bạn già nua tội nghiệp. Một suy nghĩ khác chợt len đến. Sức vóc tàn tạ của lão không đủ sức giết con vật đáng thương kia. Có một cái gì đó chính lão cũng không hiểu giữ lão lại. Người và chó nhìn nhau trong một không gian đặc quánh. Hai ánh mắt chạm, trân trối. Đột nhiên con chó rùng mình đứng dậy. Nó gom chút hơi tàn lê ra khỏi cái hốc, đi vẹo vọ trong màn sương lạnh. Trời tối sẫm, không có một chuyến tàu nào chạy qua. Đã hàng tháng nay, không có vật gì rơi xuống cái hốc. Hay là mọi người đã quên cái hốc cầu này. Mấy ả sồn sồn cũng không ra gốc quăng dại nữa. Ả béo đã mấy năm không quay trở lại. Cỏ cây được thể mọc um tùm rậm rạp. Những quả quăng dại đỏ như quả cầu nhỏ rơi xuống đất vỡ nát hôi thối trong đám phân chó. Lão ngồi im lặng, hơi thở khò khè yếu ớt. Không biết bao giờ con chó quay lại. Nó có quay lại không? Lão chưa bao giờ mất niềm tin vào nó. Hồi nó còn đú đởn với mấy ả chó cái, nhiều lúc lão đánh nhưng nó luôn biết điều tha về khi khúc giò khi cái bánh mà người hoặc súc vật đã gậm nham nhở, thậm chí đã bốc mùi nhưng vẫn gây hứng thú cho lão. Bây giờ có lẽ nó cũng như lão, không còn đủ sức màng đến những thúc giục của bản năng. Ánh điện trên cầu phụt tắt.

Ngay cả những giấc mơ, nó cũng không còn đến nữa.

Đã quá nửa đêm, con chó vẫn chưa trở về.

Cũng chẳng có chuyến tàu nào chạy qua.

Lão miên man suy nghĩ và chờ đợi

P.V.K

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)