“Bài học tiếng Hy Lạp” và bài học ngôn ngữ của yêu thương

Thứ Năm, 23/04/2026 13:14

Han Kang, nhà văn đoạt giải Nobel Văn học 2024 nổi bật với những tác phẩm khai thác chấn thương lịch sử và sự mong manh của con người. Tiểu thuyết Bài học tiếng Hy Lạp thể hiện rõ phong cách này qua hai nhân vật mang tổn thương cả thể xác lẫn tinh thần, qua đó phản ánh sâu sắc những nỗi đau âm thầm trong xã hội Hàn Quốc hiện đại.

Trong một lớp học tiếng Hy Lạp cổ chỉ có vài học viên, anh là người giảng viên với đôi mắt đang dần mất đi ánh sáng còn cô là người học trò chăm chỉ nhưng chẳng một lần cất lời dù được ai hỏi đến. Sự im lặng nơi cô dần thu hút anh cho đến thời khắc, cả hai cùng tan vào im lặng, nơi ngôn từ chẳng thể chạm tới.

Bìa của tác phẩm Bài học tiếng Hy Lạp.

Người dần mất đi ánh sáng

Như đã nói, Bài học tiếng Hy Lạp là câu chuyện được kể từ hai ngôi kể, hai điểm nhìn trần thuật. Là cô, người học viên lớp tiếng Hy Lạp cổ bị mất đi giọng nói; và là “tôi”, giảng viên lớp học đó, một người đàn ông nhỏ bé đang dần mất đi ánh sáng trên đôi mắt luôn ẩn sau cặp kính dày.

“Tôi” không có định danh cụ thể, với cô và những học viên khác trong lớp, “tôi” là người giảng viên trầm lặng. Còn với chính bản thân, “tôi” là một cá nhân nhỏ bé, cô độc tới khôn cùng. Một người mang theo vụn vỡ hằn sâu trong ẩn ức kẻ tha phương lẫn nỗi sầu nhân thể về đôi mắt anh chẳng biết khi nào bóng tối hoàn toàn ập đến cùng sự rạn vỡ không thể vãn hồi của mối dây liên kết, đồng cảm tưởng chừng duy nhất giữa anh với thế giới trong quãng thời gian anh sống trên đất khách. Anh, kẻ đã phiêu bạt theo gia đình từ Hàn Quốc tới Đức sống suốt thuở thiếu thời để rồi khi trưởng thành, anh lại từ Đức về với Hàn Quốc như hết thảy đoạn đường dài lang bạt, anh về lại cố hương tìm tới nơi trú ngụ duy nhất, chấp nhận rằng “cái tôi” bé mọn của anh chẳng hề dị biệt.

Nơi đây, chẳng còn ai biết về quá khứ của anh, chẳng còn ai phán xét anh là kẻ “ngoại lai”, cũng không ai biết khiếm khuyết anh đang mang nếu anh không mở lòng. Đây là một nơi đủ để anh trầm lắng sống những ngày bình lặng với một thứ tiếng thuộc về thời quá vãng, “một thứ tiếng đã chết từ lâu, một thứ tiếng không còn giao tiếp được bằng khẩu ngữ nữa” – tiếng Hy Lạp cổ.

Chàng trai vô danh, rời Hàn Quốc tới Đức ngày thơ ấu, mang theo kí ức về quê nhà chỉ qua những trang sách cũ. Rồi từ Đức về lại cố hương khi đã cắt đứt dường như hết thảy mối liên hệ cùng năm tháng xa ngái trên xứ người năm nào. Những lá thư qua lại giữa hai vùng đất xa xôi chẳng đủ khỏa lấp đi không gian tĩnh mịch lẫn căn phòng trống vắng anh sinh sống. Bởi thư đi tới nước Đức hay cũng chỉ là cách để anh trong hiện tại trải lòng với một phần cái “tôi” anh đã để lại trên đất khách, trước ngày đôi mắt vĩnh viễn chìm vào bóng tối? Điều đó thật khó để cắt nghĩa, chỉ biết rằng, trong thực tại này, thứ ngôn ngữ gắn kết chàng trai ấy với đời sống và con người, lại là một thứ ngôn ngữ cổ đại, “đã chết từ lâu.” Thứ ngôn ngữ cũng tựa như song chiếu, phản ánh con người hay rằng, dẫn lối cho những kẻ đồng cảm, tương ngộ.

“Dù động cơ là gì, những người học tiếng Hy Lạp cổ cũng có một chút gì đó tương đồng. Tốc độ bước đi và nói chuyện nhìn chung khá chậm, và thường không hay để lộ cảm xúc của mình […] Không khí buổi học cứ từ từ ấm lên rồi từ từ nguội đi bằng sự im lặng và do dự ngại ngùng, bằng những nụ cười thờ ơ đáp lại.”

Như người giảng viên đang dần mất đi ánh sáng mà có lẽ, anh càng nhìn sâu thêm được vào thế giới đơn sắc “ngoài kia”, tiếng Hy Lạp cổ, dẫu là một ngôn ngữ tới từ quốc gia “đã chết” thì thứ tiếng ấy vẫn mang sức sống, mở rộng biên độ với đời sống thực tại này. Nối kết những kẻ mất mát tất thảy, tìm về một mảnh tâm hồn khuyết thiếu ngỡ chừng dần chìm về quên lãng.

Nhà văn Han Kang.

Người đánh mất giọng nói

Song song cùng tuyến truyện của anh, người xưng “tôi” là tuyến truyện về cô, “người phụ nữ” đang dần mất đi giọng nói. Nhưng khác phần truyện về anh, phần truyện về “người phụ nữ” lại xuất hiện ngôi kể thứ ba, người kể chuyện đứng ở điểm nhìn toàn tri khắc họa lên chân dung người phụ nữ với những ẩn ức sâu kín từ thuở ấu thơ mà cô chẳng thể giãi bày cùng ai, kể cả bác sĩ trị liệu tâm lí hay đứa con cô ấp ủ thương nhớ. Bởi ngôn từ đã luôn ám ảnh cô và ngôn từ cũng rời xa cô về tận sâu thẳm cơ thể, tâm hồn, nơi “sâu hơn cả răng và lưỡi” mà cô chẳng thể vực dậy lại được.

Vì rằng, cô đã hiểu thấu tới tận cùng sức nặng ngôn ngữ hay chính bản thân cô vì hiểu thấu như thế nên càng thêm hãi sợ thương tổn ngôn từ gây ra với một kẻ, vẫn luôn hoài nghi giá trị tồn tại như cô? Có lẽ xuất phát từ cả hai khía cạnh ấy chăng?

“Mỗi khi cố bắt đầu một câu, cô lại cảm nhận thấy trái tim già cỗi của mình. Cái trái tim vá chằng vá đụp, khô cằn và không biểu cảm. Càng cảm thấy như vậy, cô lại càng liều mình mà túm chặt lấy từ ngữ hơn.”

Những từ ngữ đã ám thị với cô rằng, vốn dĩ cô đã không thể xuất hiện trên cõi đời này. Thứ ngôn từ xuất hiện trong giấc mơ, vô hình vô dạng, “chẳng có mở màn, cũng chẳng có kết thúc,” tựa ngôn ngữ của cô, tiếng nói của cô, “đã mất đi đôi môi”, “đã mất đi răng và lưỡi”, “đã mất đi cổ họng và hơi thở”, đã rời xa cô trong thăm thẳm hư không của bóng tối ken đặc.

Ngôn ngữ từng mở ra thế giới đầy ấm áp và “thân tình” với ngày thơ ấu của người phụ nữ. Để rồi càng đi sâu về thế giới ngôn từ, càng thâu nhận muôn vàn giọng nói, âm sắc “ngoài kia”, của cả cô lẫn những người xung quanh, thế giới trong trẻo và ấm áp ấy dần rời xa người phụ nữ mang tâm hồn hết sức mong manh, nhạy cảm. Nhạy cảm về chính sự tồn tại của bản thân, khi ngôn ngữ cô phát ra cũng có thể chiếm dụng không gian, khi những âm vọng ngoài kia quá đỗi ồn ào còn con người, kể cả những người thân mang cùng dòng máu, cũng có thể dễ dàng tổn thương nhau tới thế chỉ bằng lời nói.

Người phụ nữ đi tới tận cùng thế giới ngôn từ, người phụ nữ đã phong kín cái tôi cá nhân sau sự thinh lặng và người phụ nữ đã gắng gượng tìm lại cái tôi đó trong một thứ ngôn ngữ xưa cổ thời quá vãng. Tất thảy, tạo nên một bóng hình vô định lay động trong dòng chảy tiểu thuyết Bài học tiếng Hy Lạp, dần chìm vào bóng tối hư vô nhưng vẫn luôn khắc khoải, khao khát ánh sáng, cả niềm giao hòa giữa con người với con người. Hay chăng, là cảm xúc về một bản thân đang tồn tại mà sự tồn tại ấy, chẳng hề vô nghĩa.

Nơi ánh sáng và tiếng nói giao thoa

Nếu như trong tiểu thuyết Trắng về sau, sắc trắng là chủ đạo khi Han Kang khắc họa không gian hữu hình lẫn không gian hưu vô, nội tâm, kí ức… mỗi cá nhân thì với tiểu thuyết Bài học tiếng Hy Lạp trước đó, sắc đen trở thành mảng màu chủ đạo xuyên suốt, phủ trùm lên tác phẩm.

Sắc đen hiện hình trên chính phục trang người ta mang; đi tới cả từng ngóc ngách căn nhà thiếu vắng ánh sáng; dần bao phủ trong đôi mắt người mờ đục. Sắc đen cũng gắn liền với bóng tối, màn đêm; với kí ức con người nhiều vụn vỡ, thương tổn; với những giấc mơ hay sự thinh lặng thăm thẳm không lời, ngay khoảnh khắc người ta nhìn sâu vào đôi mắt nhau mà nhìn thấy bóng hình bản thân trong con người mắt đen của đối phương và ngược lại. Sắc đen ấy, phải chăng còn như biểu tượng cho khoảng đen trong định danh của những con người không tên mà Han Kang khắc họa trên trang viết Bài học tiếng Hy Lạp?

Nhưng có lẽ, khi sắc đen càng thêm thẫm sâu trên từng con chữ thì những tia sáng nhỏ bé len lỏi trong tâm thức con người, vào khoảnh khắc cuộc sống lại càng thêm ý nghĩa. Và bản thân người ta, dẫu như đang dần chìm khuất vào bóng tối, cũng chưa khi nào ngừng khát cầu ánh sáng. Tựa như người phụ nữ, trân trọng “ánh nắng rọi xuống mảnh sân” trong kí ức thơ ấu khi lần đầu tiếp xúc với ngôn từ. Tựa như người giảng viên tiếng Hy Lạp cổ, vẫn ngày ngày níu giữ lấy ánh sáng của cuộc sống một người bình thường. Và tựa như hai cá nhân bé mọn giữa một xã hội hiện đại trong muôn vạn âm thanh ồn ã ngoài kia, đã đến với nhau giữa khoảng không bình yên thinh lặng riêng có của hai người.

“Thế giới này là ảo, và sống là đang mơ – khi ấy tôi đột nhiên lẩm bẩm như vậy.

Nhưng máu vẫn chảy và nước mắt vẫn tuôn rơi.”

Như con người vẫn khát cầu yêu thương và sự sống. Cũng như Han Kang, đã luôn hướng ngòi bút về những kiếp người nhỏ bé mà tìm thấy sự giao thoa của ánh sáng cùng tiếng nói nơi họ trong hình thức tác phẩm đan xen nhiều loại thể, giàu tính thơ, tính nhạc. Bài học tiếng Hy Lạp, có lẽ cũng là bài học cho tiếng nói bập bẹ của những cá nhân mà giọng nói đang dần biến mất giữa muôn tiếng xao động ngoài kia.

MỌT MỌT

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)