. TÔ VÂN
“Jazz ở Hà Nội: Ngẫu hứng giữa các thế giới” không phải là câu chuyện về một trường phái hay phong cách âm nhạc; ngược lại, nó tái hiện một cuộc vật lộn để tồn tại và hình thành bản sắc trong một xã hội đang chuyển đổi.
Bạn nghĩ gì về jazz, thể loại âm nhạc mà cho đến nay nhiều người Việt Nam vẫn còn bỡ ngỡ? Kể từ khi xuất hiện và được công nhận ở Việt Nam, chưa bao giờ jazz thuộc về số đông. Kiên trì và nhẫn nại, jazz đã vượt qua rất nhiều rào cản và định kiến để tồn tại, rồi nảy nở trong một không gian vừa đủ để diễn giải âm nhạc và vừa đủ cho những thử nghiệm mới mẻ. Jazz ở Hà Nội: Ngẫu hứng giữa các thế giới (Stan BH Tan-Tangbau, với sự hợp tác của Lưu Quang Minh và Quyền Thiện Đắc, Hiền Trang dịch, Công ty Omega và Nxb Hà Nội, 2025) không chỉ tái hiện toàn bộ tiến trình đó trong lòng một đất nước cũng cuộn chảy những sự kiện lịch sử - chiến tranh bom đạn, kiến thiết đất nước, đổi mới chính sách, mở cửa…, mà còn mở ra các cuộc gặp gỡ ngay trên những đường biên, nơi đầy rẫy sự va chạm giữa Đông và Tây, thủ cựu và cách tân, cấm kị và tự do, chính thống và bên lề, tuân thủ và phá cách…
Trên thực tế, “jazz ở Hà Nội” đã chọn một lối đi khác biệt cho mình, trên những đường biên.
Giữa các thế giới
Nếu nhìn một cách thoáng qua về Việt Nam trước thời kì Đổi mới, người ta sẽ dễ tưởng nhầm rằng đây là một xã hội hoàn toàn khép kín và ở thế biệt lập với bên ngoài. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào những dòng chảy giao lưu văn hóa mà lịch sử đem lại thì “ở một phương diện nào đó, Việt Nam không bao giờ đóng cửa với phần còn lại của thế giới”. Tác động tinh tế của những dòng chảy văn hóa này, đôi khi hết sức tình cờ và ngẫu nhiên, đã góp phần đặt những viên gạch nền móng cho jazz tại một vị trí địa lí cách nơi khởi sinh của nó nửa vòng trái đất. Sự bắt nguồn của jazz ở Hà Nội, do đó, “không thể lí giải đơn giản là do thành phố tái hòa nhập với dòng chảy âm nhạc và văn hóa toàn cầu sau những cải cách của thời kì Đổi mới”.
Bởi những mầm mống của jazz đã xuất hiện tại Việt Nam từ sớm hơn nữa, ở thời điểm tưởng chừng nghịch lí: giữa bom đạn của cuộc kháng chiến chống Mĩ và công cuộc tái thiết đất nước ở miền Bắc. TS Stan, khi ngược dòng thời gian qua các cuộc phỏng vấn, thực địa và khảo cứu tư liệu, đã tìm thấy vết dấu mờ nhạt của jazz trong những biến động lịch sử đó của một đất nước mà bẩm sinh con người vốn đã yêu những làn điệu, tiếng ca. Không rõ đây có phải điểm cộng cho các nghệ sĩ thuộc biên chế các đoàn văn công, ca múa chính trị như Quyền Văn Minh, Lưu Quang Minh… hay không nhưng họ rõ ràng đã có những cuộc tiếp xúc bất ngờ với jazz, trực tiếp và gián tiếp. “Thời điểm đó, mỗi đại đội đều có một chiếc đài bán dẫn nhỏ… Tôi loay hoay để nghe nhạc phát ra trên đủ các dải tần khác nhau… Nhờ đó tôi đã có thể biết thêm một chút về các loại nhạc trẻ đa dạng đang thịnh hành ở miền Nam và nghe thêm một chút jazz” - một kí ức của nghệ sĩ Lưu Quang Minh.
“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, lịch sử đã sắp xếp cuộc gặp gỡ của những trái tim yêu jazz ở lằn ranh sinh tử của chiến trường. Các màn hòa âm ngẫu hứng của những nghệ sĩ đoàn văn công với vài cố vấn Cuba ở Quảng Trị lúc rảnh rỗi trên “những giai điệu thịnh hành ở Cuba như La Paloma và Simon…, mặc dù các giai điệu này đều thân quen nhưng mấy vị này đều chơi ra kiểu âm thanh hoàn toàn khác! Thực tế, họ đang chơi jazz Cuba…” - thứ âm nhạc mà sau này các nghệ sĩ Việt Nam mới biết là kết hợp sâu sắc nhạc jazz Cuba gốc Phi (Afro-Cuban jazz), dân ca Cuba, âm nhạc cổ điển. Lưu Quang Minh, nghệ sĩ khởi đầu sự nghiệp biểu diễn với chiếc phong cầm (accordion) phục vụ chiến trường, đã thực sự được “sờ chạm” vào dòng âm thanh tươi mới và phóng khoáng này.
Việc lội ngược dòng kí ức của các nghệ sĩ rồi đặt nó vào bối cảnh rộng lớn hơn của quốc gia và cục diện thế giới đã trao cơ hội cho TS Stan tái phác họa một bức tranh sống động về thời kì mà “những quan điểm phê phán jazz xuất hiện khi cả nước đang trải qua quá trình tái thiết và thống nhất tư tưởng cùng hệ thống quản lí kinh tế hai miền”. Tuy nhiên, những người nghệ sĩ khao khát những giai điệu mới mẻ đã trân quý những bộ sưu tập đĩa than bị bỏ lại sau ngày thống nhất đất nước hay những chiếc đĩa than jazz Đông Âu mà bạn bè, người quen mang về từ khối xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đó cũng là thời kì Quyền Văn Minh may mắn vượt qua được định kiến ý thức hệ - “Thứ âm nhạc kì lạ ông nghe là gì vậy? Có phải ông đang nghe nhạc tư bản Mĩ không thế?” - để được nghe và tập chơi jazz một cách hợp pháp như với cách mình vẫn làm với nhạc đỏ.
Rõ ràng, “sự lưu chuyển của con người và những hiện vật âm nhạc, được chấp thuận từ ý thức hệ của khối XHCN” đã khiến cho “Việt Nam không hoàn toàn tách khỏi dòng lưu chuyển toàn cầu của jazz” và những tiếp xúc bé nhỏ cũng đủ sức thổi bùng lên những đốm lửa. Bằng nhiều con đường và nhiều cách tiếp cận khác nhau, jazz đã thầm lặng có mặt trong đời sống âm nhạc của một đất nước đang bước vào giai đoạn kiến thiết sau thống nhất, với nỗ lực của các nghệ sĩ tiên phong trong các đoàn văn công, ca múa nhạc - “mỗi khi có thể, họ lén đưa vào chương trình một chút jazz”.
Jazz đã xuất hiện trong lòng một đất nước đang trên đường phục hồi kinh tế và bước sang thời kì Đổi mới, nhưng để thoát khỏi thân phận bên lề, jazz cần được chính danh. Cũng tương tự các đồng nghiệp Đông Âu “phải lèo lái qua một vùng ranh giới bấp bênh giữa nhạc jazz như một thứ nhạc đại chúng giải trí thuần túy và nhạc jazz như một loại hình nghệ thuật cao cấp”, Quyền Văn Minh và Lưu Quang Minh đã nhẫn nại và khéo léo từng bước đưa jazz vào không gian công cộng lẫn học thuật dưới cái mũ “nhạc nhẹ quốc tế”. Bởi như tâm sự của Quyền Văn Minh, “ở Việt Nam, muốn tiến một bước thì phải lùi hai bước”. Còn theo chia sẻ của Lưu Quang Minh, họ phải trải qua “một cuộc đấu tranh thực sự, đầy tranh luận và phản đối cả từ cấp trường lẫn cấp bộ…, phải đấu tranh nhiều vòng nữa ở cấp bộ để được phê duyệt” chương trình đào tạo jazz. Tại sao họ phải “đấu tranh” như vậy? “Nếu jazz không được dạy ở nhạc viện thì có lẽ nó sẽ tồn tại ở Hà Nội, nhưng chỉ xoay quanh vài cá nhân đam mê jazz… Song jazz sẽ không phát triển như hiện nay, không được nhìn nhận như một loại hình nghệ thuật nghiêm túc yêu cầu sự đào tạo bài bản và rèn luyện chuyên tâm”.
Một lãnh thổ âm nhạc mới đã được lập nên nhưng trên vùng đất ấy, jazz Việt có đủ sức tạo ra một tiếng nói, một hình hài riêng?
Đi tìm bản sắc jazz Việt
Không chỉ có “jazz ở Hà Nội”, trong cuốn sách này còn có nhiều thế giới và không gian mà người ta có thể khám phá: thế giới jazz của khối các quốc gia XHCN, thế giới của những biến chuyển xã hội và chính trị rộng lớn hơn, thế giới của những cá nhân bé nhỏ và ứng xử của họ trong xã hội và thời cuộc ấy, thế giới của những cái mới rụt rè gõ cửa và thế giới của những bảo thủ kiên định… Tất cả không tồn tại riêng rẽ mà chồng lấn và giao thoa, tạo nên những khuếch tán vật chất và tinh thần, giúp chúng vượt khỏi lằn ranh đã được phân định. Những điều này cũng đưa “jazz ở Hà Nội” vượt thoát khung khổ của một cuốn sách thuần túy lịch sử âm nhạc, rọi chiếu những cái nhìn mới mẻ vào một câu chuyện âm nhạc, văn hóa và xã hội tưởng chừng như người Việt Nam nào cũng có thể thấu tỏ.
Cái hay của sự chồng lấn không gian ấy đem lại cái nhìn sâu sắc và trực diện hơn vào thế giới nội tâm của các nghệ sĩ jazz Việt Nam mà hiếm khi được phơi sáng trong một cuốn sách lịch sử âm nhạc cũng như những cuốn sách phi hư cấu khác. Giữa những dòng chảy thời cuộc và dòng chảy xã hội, những nghệ sĩ ấy đều là những phận người bé nhỏ đặt trong nhiều khung khổ khuôn phép xã hội và bị ràng buộc bởi nhiều bổn phận. Tuy nhiên, trước hết, họ là những người nghệ sĩ luôn khao khát cái mới mẻ, sẵn sàng mở rộng đôi tai lắng nghe âm thanh từ không gian khác và sau rốt là tạo ra thứ âm thanh mê hoặc và tràn đầy năng lượng của riêng mình. Điều đó đã thôi thúc những người nghệ sĩ thế hệ đầu như Quyền Văn Minh đưa jazz ra ngoài không gian công cộng rồi tạo dựng cho jazz một chốn đi về, một dạng “thánh địa” jazz: Minh’s jazz club. Nếu Nhạc viện Hà Nội, với tư cách một thiết chế xã hội có thể đem lại nền tảng kĩ thuật cho các nghệ sĩ jazz thì chính những sân khấu biểu diễn như Minh’s jazz club chứng kiến nghi lễ trưởng thành của họ, đưa họ trở thành nghệ sĩ thực thụ. Không có không gian ấy, họ có thể biểu diễn ở những địa điểm thương mại thuần túy - những khách sạn hạng sang như Metropole, nhà hàng cao cấp như Majestic… “Nhìn chung, các địa điểm thương mại này không muốn chúng tôi biểu diễn thứ âm nhạc phức tạp hay ồn ào quá. Đó là một môi trường âm nhạc tương đối gò bó, xét riêng về jazz… Chúng tôi không thể chơi thứ jazz mình thích”, nghệ sĩ jazz piano Vũ Tú Cầu nhớ lại.
Vật lộn để tồn tại, thậm chí trải qua thời điểm biểu diễn cho “cái bàn, cái ghế”, câu chuyện jazz Việt và cuộc tìm kiếm bản sắc của nó trong thế giới rộng lớn của jazz toàn cầu cũng như không gian văn hóa Việt cũng chính là câu chuyện của từng nghệ sĩ. Trong cuộc kiếm tìm bản sắc ấy, họ đặt cho mình những câu hỏi: Làm thế nào để jazz “làm phong phú và đổi mới” những di sản âm nhạc Việt Nam? Làm thế nào để nắm bắt được và truyền tải những ý nghĩa sâu sắc và tinh tế của âm nhạc cổ truyền, của văn hóa Việt trong những giai điệu ngẫu hứng và kĩ thuật ngoại lai? Liệu việc xây dựng một dòng chảy jazz Việt trong lòng thế giới chỉ thuần túy là nhặt lấy một giai điệu dân ca quen thuộc rồi đưa nó vào một khuôn dạng, một hình thức hòa âm mới? Jazz đã mở ra không gian sáng tạo mới cho các nghệ sĩ Việt nhưng họ có thể kể câu chuyện gì cho thế giới? Các nghệ sĩ thế hệ đầu như Quyền Văn Minh, Lưu Quang Minh tìm thấy “một sức mạnh biểu đạt cái tôi trong nghệ thuật jazz”, giúp đem đến sự tự do cho “mỗi cá nhân mang ra thế giới một cuộc đối thoại đa tầng giữa văn hóa Việt và những nền văn hóa khác, giữa cái tôi và xã hội rộng hơn”. Trong khi đó, Quyền Thiện Đắc, nghệ sĩ thuộc thế hệ thứ hai, sau những cuộc va đập trực diện với jazz Thụy Điển và jazz Mĩ, cũng nhận ra rằng “dẫu tinh hoa jazz Việt vẫn có thể được chắt lọc từ những ảnh hưởng của dòng nhạc dân gian Việt nhưng thách thức là đưa thứ âm thanh ấy đi xa hơn sự tưởng tượng nhị nguyên (jazz và dân ca), để dung chứa được những sắc thái riêng của mỗi cá nhân trong bối cảnh sự đa dạng liên tục thay đổi trong một thế giới toàn cầu hóa”. Việc bị mắc kẹt trong sự minh họa văn hóa dân tộc và sử dụng một cách thô sơ giai điệu dân gian, với những nghệ sĩ jazz, cuối cùng có thể khiến họ “mãi đi vay ý mượn tưởng từ chỗ này chỗ khác và chẳng bao giờ tìm được tiếng nói riêng, tiếng nói của cá nhân mình”.
Sự phản tư dằn vặt, đào sâu suy nghĩ để trả lời những câu hỏi cốt yếu ấy của các nghệ sĩ jazz đã cho chúng ta thấy, nếu dòng chảy jazz được thúc đẩy bằng các thiết chế xã hội thì chính các nghệ sĩ là người đem lại cho nó sức sống và bản sắc. Việc bước vào thế giới nội tâm của họ, hiểu được những suy nghĩ, quan điểm âm nhạc của họ trao cho chúng ta những chi tiết tinh tế và sắc thái đa dạng hơn trên nền những phác dựng ban đầu. Rõ ràng, với các nghệ sĩ jazz, sự tự do biểu đạt của âm thanh, cái tuôn trào ngẫu hứng và phiêu lãng của jazz cũng như cái di sản tinh thần sâu sắc và dung chứa của văn hóa Việt Nam đã đem lại cho họ cơ hội lớn hơn: “Jazz mang tới cho người ta một không gian rộng lớn để biểu đạt bản thân… Tôi nghĩ rằng với mỗi nghệ sĩ biểu diễn, việc phát triển một bản sắc âm nhạc sâu sắc là một hành trình riêng tư… Chơi jazz, mỗi người chơi là một người độc tấu, theo nghĩa mỗi cá nhân đều có cơ hội nói lên điều gì đó trong giai điệu”, theo nghệ sĩ piano Bạch Ngọc Vượng, một người thường biểu diễn ở Minh’s jazz club.
Từ thế giới rộng lớn hơn và bao trùm hơn của thế sự hay của xã hội, chúng ta từng bước đặt chân vào thế giới của jazz, và hơn thế, thế giới nội tâm của những người nghệ sĩ và thấu hiểu họ cũng như thấu hiểu từng cung đoạn thăng trầm của jazz thông qua các tương tác, ứng xử mang đậm chất cá nhân.
Jazz Việt sẽ như thế nào nếu không có họ? Có lẽ là bất khả, bởi chính những con người đam mê đó đã truyền sức sống cho jazz Việt và ngược lại, jazz Việt đem lại cho họ một lẽ sống ở đời.
*
* *
Trong lời nói đầu cuốn sách đầu tiên về jazz Việt, Chơi jazz ở Việt Nam: Quyền Văn Minh và nhạc jazz Hà Nội, được ra mắt vào cuối năm 2022, TS Stan đã cho rằng: “Câu chuyện về nhạc jazz ở Việt Nam phức tạp và nhiều màu sắc hơn, với sự tham gia của nhiều nhạc sĩ khác, nhất là khi dòng nhạc này được định hình ở khúc ngoặt của thiên niên kỉ mới; bởi vậy chủ đề này xứng đáng có một phân tích riêng”.
“Phân tích riêng” mà ông đề cập tới bốn năm trước, nay đã thành hình Jazz ở Hà Nội: Ngẫu hứng giữa các thế giới với độ phức tạp và đan cài lớp lớp bối cảnh thời cuộc, khuôn mẫu ý thức hệ, sự chuyển đổi xã hội nhưng vẫn vừa đủ chỗ cho những cá nhân nhỏ bé. Một lần nữa, thế mạnh của cách tiếp cận dân tộc học tự sự (auto-ethnography) và đồng nghiên cứu (co-research) cho phép khai thác sâu hơn “tiếng nói người trong cuộc” qua câu chuyện cuộc đời (life story) của họ. Sự linh hoạt “phân vai” kể chuyện, khi là TS Stan, khi là đồng tác giả Lưu Quang Minh, Quyền Thiện Đắc, không chỉ làm thay đổi góc nhìn mà còn giúp thấu tỏ một cách chân thực trải nghiệm sống của từng nghệ sĩ trong những bối cảnh xã hội và thời cuộc cụ thể. Do đó, như nhận định của GS, TS Nguyễn Văn Chính (Khoa Nhân học và Tôn giáo, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), “những câu chuyện này tự nó giúp chúng ta hiểu được câu chuyện lớn hơn và sâu hơn về đời sống văn hóa và sự biến đổi văn hóa - chính trị - xã hội ở Việt Nam”.
Sẽ còn rất nhiều điều được gợi mở từ câu chuyện học thuật hay câu chuyện âm nhạc này - qua bản dịch tiếng Việt đẹp lịch lãm của dịch giả Hiền Trang mà TS Stan cho là hay hơn bản gốc - nhưng có lẽ, cái đẹp sống động của kí ức và jazz Việt vẫn luôn nhắc nhở chúng ta rằng, dẫu ở bối cảnh thời cuộc nào thì trong mạch ngầm văn hóa đất nước vẫn luôn róc rách chảy một thứ dòng chảy khác, dòng chảy văn hóa của những người dám đi ngược dòng
T.V
--------
Tài liệu tham khảo: Dân tộc học tự sự, Nguyễn Văn Chính, Nxb Hà Nội, 2023.
VNQD