Giải Goncourt: Nghệ thuật chiến tranh văn học kiểu Pháp

Thứ Tư, 15/04/2026 09:55

Vào cuối mùa văn học Pháp, có một địa điểm mà giới xuất bản nói riêng, toàn nước Pháp nói chung sẽ cùng nhau hướng về: Nhà hàng Drouant. Lí do cho điều nói trên không phải vì một lễ hội ẩm thực hay bữa ăn miễn phí, mà bất ngờ thay bởi đây là nơi mà 10 viện sĩ Viện Hàn Lâm Goncourt sẽ cùng nhau nhóm họp để tìm ra người chiến thắng hàng năm.

Tuy phần thưởng chỉ mang tính chất đại diện, thế nhưng doanh số mà nó thúc đẩy đã đưa Goncourt trở thành cái tên được mong chờ nhất trong số 20.000 giải thưởng mỗi năm ở đất nước châu Âu này. Ở phía bề mặt đó là hào quang của người chiến thắng, là doanh thu khổng lồ mà các nhà xuất bản có thể sở hữu, nhưng sâu bên trong, điều gì xảy ra trong các cuộc thảo luận của “Bộ Mười” ấy thì ít người biết.

Trong cuốn sách thú vị này, Pierre Assouline đã họa nên giải Goncourt như một vở bi hài kịch độc đáo.

Vào năm 2012, khi trở thành chủ nhân mới nhất của ghế thứ 10, nhà văn, nhà báo Pierre Assouline đã chấp bút nên cuốn sách Nhà hàng Drouant huyền thoại – Hơn một thế kỉ đời sống văn chương qua giải Goncourt. Đây nguyên là kịch bản của loạt chương trình khắc họa đời sống văn chương Pháp gồm có 6 số, do kênh France Culture thực hiện. Trong đó ông đã truy ngược về hơn một thế kỉ lịch sử của giải thưởng này, để qua từng năm, những gì đã qua sẽ được kể lại, dù là tốt đẹp hay là ngập chìm trong nhiều bê bối cũng như sự vụ.

Liệu có tồn tại “phong vị” Goncourt?

Cấu trúc cuốn sách được xây dựng như thực đơn mà “Bộ Mười” sẽ dùng vào ngày trọng đại. Ở phần đầu tiên, Assouline đã thẳng thắn thừa nhận vai trò của giải thường này. Theo ông, Gouncourt đóng vai trò như “một "buông vang thông tin", một tấm gương phản chiếu vô song và có khả năng khơi dậy sự kết tinh của phương tiện truyền thông mạnh mẽ đến mức không ít lần nó khởi đầu bằng âm điệu nhẹ nhàng của một vở hài kịch đẫm chất văn, nhưng lại kết thúc với giọng điệu đau đớn của một vở bi kịch tâm lí. Tại đó có những cánh cửa đóng sầm, có những cuộc tranh cãi, chia rẽ nội bộ, và có các nhà phê bình thường than thở rằng kết quả vốn đã được định đoạt trước từ lâu. Thậm chí, đã có trường hợp Chủ tịch Hội văn học Goncourt buộc phải khởi kiện những kẻ phỉ báng ra tòa.”

Nhưng điều thú vị là càng được bàn tán, nó càng trở thành sự kiện thu hút chú ý, càng khiến người ta tìm đọc sách nhiều hơn, không chỉ của người đoạt giải mà còn của cả những người nằm trong danh sách đề cử, bởi nhiều hiệu sách sẽ dựa trên danh sách này để trang trí cho các tủ trưng bày của họ. Thậm chí, có thể chính những người không thắng cuộc cũng được chú ý nhờ tiếng vang của sự thất bại. Điều này phần nào cho thấy điều Roland Dorgelès đã từng nhận định: “Giải thưởng phục vụ cho văn học giống như tiếng chuông nhà thờ vang lên nhằm nhắc nhở những kẻ xao nhãng”.

Không gian bên trong nhà hàng Drouant khi giải Goncourt được công bố.

Tuy vậy việc có kẻ thắng người thua cũng thường gây ra những sự tranh cãi, và đó vốn là bản chất của các giải thưởng. Trong phần Món chính, Assouline đã cho thấy sự bỏ công tìm hiểu qua một loạt tư liệu phong phú, cũng như khả năng chắt lọc, gắn kết chúng lại trong tâm thế hài hước, từ đó tái dựng lịch sử Goncourt như vở hài kịch trên sân khấu lớn. Qua đó ông cũng phần nào khẳng định những luận điểm quan trọng, rằng thực ra không có một "trường phái Goncourt" nào cả, và đó là điều đáng mừng. Cũng vì lẽ đó, các nhà xuất bản không cần phải điều chỉnh theo một "phong cách Drouant" nào cả, đơn giản vì nó chưa bao giờ tồn tại, mặc cho trí tưởng tượng bay cao bay xa của một số chiến lược gia trong "cuộc chiến văn học". Tại đây Assouline nhìn nhận nỗ lực của “Bộ Mười” ấy đúng như câu nói của Jacques Prévert: "Luôn xuôi theo chiều gió nghĩa là chấp nhận số phận của chiếc lá khô”, khi các giám khảo chỉ đơn giản chọn ra tác phẩm xuất sắc nhất, thay vì chạy theo các trường phái tiền phong tự xưng, hay văn học thử nghiệm, hoặc những cuốn tiểu thuyết bị ảnh hưởng rõ ràng bởi xu hướng thời đại.

Dẫu thế thông qua những người chiến thắng, có thể khắc họa một cách chung nhất từng mốc thời gian của giải thưởng này. Cụ thể, ở giai đoạn đầu, di chúc của anh em Goncourt đã được thực thi vô cùng sát sao, dẫn đến những tiểu thuyết địa phương mộc mạc, phản ánh rõ một nước Pháp trước cơn lũ lịch sử thường được xướng tên. Tuy nhiên khi hai cuộc Thế chiến diễn ra, giải thưởng bắt đầu chuyển sang trao giải cho các tác phẩm mang tính tư liệu, tài liệu hoặc thậm chí là có tính chất sử, phản ánh những gì xảy ra khi bom rơi đạn lạc. Đến giai đoạn bình thường hóa, họ lại trao giải cho những xu hướng gần như khác biệt, từ những tác giả - tác phẩm giàu tính thể nghiệm, đến các tên tuổi cho thấy được sự rộng lớn của khu vực Pháp ngữ, không chỉ trong nội bộ mảnh đất lục lăng mà còn vươn cả sang Canada, bán đảo Scandinavia, Bắc Phi cũng như chuỗi đảo thuộc Caribe.

Điều này thêm một lần nữa phản ánh sự bao quát và dài rộng của giải Goncourt, với sự tiên phong và tầm nhìn đa dạng của các giám khảo. Tuy vậy ẩn sâu dưới những điều này cũng là những xung đột không thôi ngơi nghỉ, khi các viện sĩ trở nên đối đầu trong thị hiếu cá nhân, các ràng buộc với nhà xuất bản, thậm chí là khuynh hướng chính trị cũng như những mối thân tình đã có trước đó. Sau rốt ở vị trí là một viện sĩ thuộc về “Bộ Mười”, dường như Assouline quan tâm hơn đến những chủ nhân trước của chính chiếc ghế mình đang sở hữu, từ đó biến nhà hàng Drouant huyền thoại thành một sân khấu, nơi giải thưởng lớn nhất nước Pháp cũng đồng thời là nghệ thuật chiến tranh văn học kiểu Pháp.

Bê bối nối tiếp bê bối

Những khôi hài ấy có thể nhìn thấy trong nhiều chi tiết, như Assouline hé lộ Judith Gautier - người phụ nữ đầu tiên được bầu vào hội đồng giám khảo năm 1910 - đã bị một giám khảo khác gọi là “con bệnh trịch thượng”, trong khi một bậc tiền bối thì mô tả bà là "một bà già đen đúa, độc ác và thâm độc, đội vương miện bằng hoa hồng như một con bò trên sân khấu". Không dừng ở đó, vào năm 1917, bởi không hài lòng vì “người của mình” không được bầu vào cùng một hội đồng, mà Lucien Descaves đã chọn ngồi một mình mình dưới tầng trệt của nhà hàng Drouant và chỉ bỏ phiếu thông qua một người phục vụ. Sau đó ông thậm chí còn kêu gọi giải tán hội đồng văn học Goncourt bởi theo ông, việc giải thưởng phải trao cho "tác phẩm xuất sắc nhất trong năm" theo như điều khoản trong di chúc của anh em Goncourt là một nhiệm vụ gần như bất khả, bởi chẳng ai có thể đọc được hết tới 400 tiểu thuyết mỗi năm cả…

Không gian bên trong nhà hàng Drouant và Bộ Mười hiện nay của giải Goncourt.

Không chỉ giám khảo, danh tiếng của giải Goncourt còn lớn đến nổi có nhiều nhà văn không ngại thay đổi để thắng giải này. Đơn cử vào năm 1913, để giải phóng mình ra khỏi môi trường luật pháp và kinh doanh vốn là truyền thống gia đình, Roger Martin du Gard đã cố sáng tác một cuốn tiểu thuyết với niềm tin giải Goncourt sẽ thay đổi đời mình, thế nhưng kết quả thì không như ý. Trong khi đó những nhà văn nổi tiếng như Marcel Proust – tác giả của bộ Đi tìm thời gian đã mất hay George Simenon – “ông hoàng” trinh thám cũng không giấu giếm mong muốn của mình. Chẳng hạn Simenon từng nghĩ ra một cuốn tiểu thuyết phù hợp với quan niệm của ông về "hương vị Goncourt" khi nó mang đậm phong cách Balzac và đặt ra một số vấn đề quốc tế có phần đương đại, thế nhưng thất bại sau đó dường như đã phá hủy ông, khiến ông buồn bã viết ngay sau đó: “Tôi phải thú nhận rằng mình đã nảy sinh lòng căm ghét thực sự đối với văn chương và tất cả những gì liên quan đến nó”.

Trong suốt tác phẩm, Assouline cũng dùng nhiều dung lượng để viết về những nhân vật nổi tiếng của văn chương Pháp. Chẳng hạn Henri Troyat – tác giả Miếng ăn nhà người – đã thắng giải thưởng mà chẳng hề biết vì ông cứ nghĩ tiểu thuyết của mình không đủ phẩm chất. Trong khi đó Simone de Beaviour từng rất kỳ công chuẩn bị vì nhiều tin đồn cho biết bản thân sẽ được vinh danh, nhưng rồi bà đã thất bại, dẫn đến lần chiến thắng thật sự thì đã không còn muốn xuất hiện trước báo giới, biểu hiện bằng việc một nữ nhà văn bỗng dưng mất tích giữa lòng Paris. Với Người tình, Marguerite Duras đã trở thành nhà văn có sách Goncourt bán chạy nhất lịch sử, nhưng ít người biết bà từng lên tiếng chỉ trích giải thưởng không trao vinh dự cho mình sớm hơn với Đập chắn Thái Bình Dương chỉ vì khác biệt về quan điểm chính trị, nhưng thật ra bà còn không lọt được vào vòng trong. Ngoài ra đó còn là Julien Gracq năm lần bảy lượt từ chối giải thưởng khi được gọi tên với Bờ Biển Syrtes. Bên cạnh đó ông cũng dành nhiều thời lượng cho những tài năng nhưng không chiến thắng: Celine, Georges Bernanos… cũng như những người từ chối tham gia “Bộ Mười”: Francoise Sagan, Marguerite Youcenar…

Thêm vào những bê bối đó còn là sự cạnh tranh giữa những nhà xuất bản bởi món lợi đặc biệt mà giải thưởng này mang đến. Trong những ngày đầu, 2 ông lớn Grasset và Gallimard chính là những người nắm giữ “thị trường”, làm mọi cách để có thêm nhiều chiến thắng nhất có thể. Sự căng thẳng ấy gay gắt đến nỗi từng có một vở hài kịch đã được sáng tác dựa trên điều này, xoay quanh câu chuyện về một giải thưởng văn học và những gì diễn ra đằng sau hậu trường, từ lúc viết sách đến khi tác phẩm tung ra thị trường. Toàn bộ vở diễn chỉ nói về tiền bạc và những mưu mô, xen lẫn một chút lãng mạn để tạo ra vài hiểu lầm hài hước có chủ đích, qua đó không khó nhận ra hai nhân vật chính chính là Bernard Grasset và Gaston Gallimard - hai người luôn xung đột và tranh giành tác giả của nhau. Qua đó vở kịch như lời nhắc nhở rằng ngành xuất bản ở Paris thực chất cũng chả khác gì một sân khấu kịch, nơi giám khảo, nhà văn và nhà xuất bản gần như điên cuồng lao vào hư vô.

MINH TUẤN

 

 

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)