António Lobo Antunes và sự mê sảng có cấu trúc

Thứ Sáu, 13/03/2026 05:20

Trong sự nghiệp lừng lẫy với nhiều giải thưởng văn chương, António Lobo Antunes là tác giả của hàng chục cuốn sách đề cập đến nền chuyên chính độc tài và di sản thực dân của quê hương mình. Ông vừa qua đời tại Lisbon, thọ 83 tuổi.

António Lobo Antunes năm 1996 tại Paris (Pháp)

Luís Montenegro, thủ tướng Bồ Đào Nha và nhà xuất bản Dom Quixote đã thông báo về sự qua đời trong các bài đăng trên mạng xã hội. Ông được biết đến với những tác phẩm văn học đa tầng, phân tích những rạn nứt trong lòng xã hội Bồ Đào Nha, từ đó trở thành một tượng đài văn chương ở quê nhà nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Trong hơn 30 tiểu thuyết và tuyển tập tác phẩm, Antunes đã khắc họa quá trình phục hồi chậm chạp của Bồ Đào Nha khỏi chế độ độc tài hà khắc của Tổng thống António de Oliveira Salazar từ năm 1932 đến năm 1968, cũng như những cuộc chiến tranh thuộc địa thất bại ở châu Phi. Sự nghiệp của ông được tô điểm bằng nhiều giải thưởng văn học, bao gồm Giải Jerusalem năm 2005 và Giải Camões cao quý nhất Bồ Đào Nha vào năm 2007.

Theo đó, cách tiếp cận táo bạo trong thủ pháp văn chương đã cho phép ông vượt lên hình ảnh của một nhà văn “khó hiểu” đến từ một quốc gia châu Âu “hạng hai” ít được chú ý. Với các nhà phê bình, ông từ lâu là một ứng cử viên nặng kí cho giải Nobel Văn chương, thậm chí nhiều người cho rằng ông xứng đáng hơn cả người bạn đồng hương là José Saramago đã được trao giải vào năm 1998. Trên thực tế, nhiều người thân quen cho biết ông từng cảm thấy có phần cay đắng khi không được xướng tên. Trong văn nghiệp, không quá khó thấy thời gian làm bác sĩ đã cho ông một lăng kính độc đáo để khám phá những thương tổn tâm lí của quốc gia mình. Cụ thể, ông đã phục vụ với tư cách là bác sĩ quân y trong chiến tranh ở Angola suốt 27 tháng, từ năm 1971 đến năm 1973, qua đó đã kịp nhìn thấy ​​sự tàn bạo trong những nỗ lực vô ích của Bồ Đào Nha nhằm giữ vững các thuộc địa châu Phi của mình.

Các tiểu thuyết của ông, đặc biệt là những tác phẩm đầu tay, đã phơi bày không khoan nhượng những sự thật bị che giấu về thói đạo đức giả của xã hội Bồ Đào Nha. Hai tác phẩm trước tiên: Elephant Memory (tạm dịch: Kí ức voi) và South of Nowhere (Phía nam hư vô) đều được xuất bản năm 1979, cùng tập trung vào những trải nghiệm đó. Cả hai cùng mang lại cho ông danh tiếng chỉ sau một đêm tại quê nhà và trên trường quốc tế.

Có sự nghiệp dài rộng, António Lobo Antunes là cây viết được kính trọng ở Bồ Đào Nha nói riêng và châu Âu nói chung.

Những thử nghiệm với hình thức và ngôn ngữ của ông đã thu hút sự chú ý của các nhà phê bình lớn như Harold Bloom và George Steiner. Họ đã xếp ông ở vị trí khá cao trong hàng ngũ các nhà văn hiện đại. Trong đó Bloom coi ông là “một trong những nhà văn đương đại có tầm ảnh hưởng bậc nhất”, còn Steiner thì gọi ông là “tiểu thuyết gia hạng nhất”, sánh ngang với những tên tuổi như Joseph Conrad và William Faulkner.

Trong các tác phẩm, Antunes thường tránh sử dụng dấu câu, xây dựng cốt truyện rõ ràng và đi theo trình tự thời gian. Giọng văn của các nhân vật được cố ý pha trộn và đan xen, đôi khi trong cùng một đoạn văn hoặc trong cùng một câu. Đơn cử được ví như bức tranh ghép, Fado Alexandrino (1983) - một trong những tác phẩm được đánh giá cao nhất của ông - đã thuật lại những lời thú nhận đau đớn của 4 cựu chiến binh trong các cuộc chiến tranh thuộc địa của Bồ Đào Nha cho một “Đại úy” bí ẩn, người kiên nhẫn lắng nghe từng câu chuyện bi thương. Cuốn sách, theo đó, đã dựng nên những chân dung tập thể về sự vô vọng và nỗi tuyệt vọng không thể nguôi ngoai khi chuyển đổi giữa các người kể: một trung tá bị ám ảnh bởi cái chết của vợ khi ông vắng mặt ở chiến tuyến; một thiếu úy gắt gỏng đã mua và làm cho người tình Mozambique ở tuổi vị thành niên có thai; một người lính trở về Bồ Đào Nha không được chào đón từ châu Phi; và một “sĩ quan truyền thông” tham gia vào những nỗ lực tuyên truyền vô ích của bộ máy quan liêu ở thủ đô Lisbon. Tất cả đều được kết nối bởi các hình ảnh của Antunes.

Ngoài cuốn sách này, ông cũng sử dụng những kĩ thuật tương tự trong các tiểu thuyết lớn khác như The Inquisitors’ Manual (Cẩm nang của những kẻ thẩm vấn, 1996) có nhân vật chính là một cựu bộ trưởng tàn bạo dưới chế độ độc tài của Salazar; và What Can I Do When Everything’s on Fire? (Tôi có thể làm gì khi mọi thứ đang bốc cháy?, 2001), miêu tả những suy nghĩ bất an của con trai một người chuyển giới ở Lisbon. Dẫu vậy, một số nhà phê bình không đánh giá cao kĩ thuật viết của ông. Viết trên tờ The New York Times, cây viết bình luận Dwight Garner cho rằng mặc dù phong cách dòng ý thức của tác giả đôi khi có thể “tuyệt vời”, nhưng What Can I Do When Everything's on Fire? lại vô cùng khó đọc. Vị này cho biết: “Tôi thà dùng kìm bị gỉ để nhổ móng chân còn hơn phải đọc lại 585 trang sách đầy khổ sở đó”. Richard Eder, một nhà phê bình khác cũng của tờ này, thậm chí còn viết rằng Ủy ban Nobel đã đúng khi trao giải thưởng cho Saramago thay vì Antunes.

Trên thực tế, trong giới xuất bản tiếng Anh, các tác phẩm của Antunes vẫn còn khá xa lạ. Richard Zenith, một trong những dịch giả của Antunes, chia sẻ trên tờ The Times Literary Supplement vào năm 1997 rằng cả 4 cuốn tiểu thuyết được dịch của ông đều đã hết bản in ở Anh vào thời điểm đó và có khả năng không được tái bản. Vị này cho biết: “Văn học Anglo-Saxon chỉ thích những câu chuyện hay, được viết đơn giản. Chúng không cởi mở với sự mơ hồ, trong khi văn học Mĩ Latinh thì hoàn toàn trái ngược. Nói gì thì nói, ông ấy không phải một người dễ đọc.”

Sinh thời, Antunes từng nói với Maria-Luisa Blanco - người đã xuất bản một cuốn sách ghi lại những cuộc trò chuyện với ông vào năm 2001 rằng: “Tôi không muốn mọi người ‘đọc’ tiểu thuyết của mình. Tôi muốn họ sống trong chúng, ‘cảm nhận’ chúng, giống như cách người ta cảm nhận một căn bệnh vậy.” Theo quan điểm của ông, việc thiếu một cốt truyện rõ ràng thực ra lại gần với cách mọi người thực sự “sống” cuộc đời mình hơn cả.

*

Antonio Lobo Antunes sinh năm 1942 ở thủ đô Lisbon, có cha là giáo sư thần kinh João Alfredo de Figueiredo Lobo Antunes và mẹ là Maria Margarida Machado de Almeida Lima. Ông là anh cả trong gia đình có 6 anh em, một trong số đó nổi danh với tư cách là bác sĩ và đại sứ Bồ Đào Nha tại Vương quốc Anh. Antunes, theo đó, có một tuổi thơ khá gò bó trong tầng lớp thượng lưu của giới tư sản Lisbon, trong cái mà ông gọi là “được bảo bọc quá mức, gần như mang tính bộ lạc”. Thành phố ven biển buồn tẻ, tàn tạ nơi ông sống cả đời thường hiện lên như một bối cảnh u ám trong các tác phẩm sau này. Không dừng ở đó, cha mẹ ông là những người có học thức nhưng lại giữ khoảng cách về mặt tình cảm với 6 người con trai. Ông kể trong cuộc phỏng vấn với tờ Le Monde vào năm 2005 rằng mình và mẹ chỉ có “mối quan hệ rất hình thức”.

Khi trưởng thành, sự gần gũi giữa ông và cha trở nên căng thẳng. Cụ thể, khi Antunes xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay, cha ông đã nói: “Nó đầy thiếu sót như là tác phẩm của kẻ mới chập chững viết lách”, do đó mà hai người không còn trao đổi về sách vở nữa, dù một người em sau này kể lại cha ông có nói rất hâm mộ mình. Năm 1959, Antunes bắt đầu theo học ngành y tại Đại học Lisbon, tốt nghiệp bác sĩ, trước khi nhập ngũ và kết hôn vào năm 1970. Năm 1973, ông trở về từ Angola để hành nghề bác sĩ tâm thần tại Bệnh viện Miguel Bombarda ở Lisbon, đồng thời viết tiểu thuyết vào ban đêm. Ngay từ đầu, những gì đã kinh qua trong chiến tranh ở Angola và các vết sẹo mà nó để lại đã trở thành động lực chính trong tác phẩm của ông.

Theo lời Antunes, chiến tranh là một hố đen tàn bạo, nơi các sĩ quan Bồ Đào Nha thản nhiên rút súng lục và xử tử những phiến quân bị bắt, hãm hiếp người châu Phi dưới họng súng của mình và không để lại gì ngoài nỗi tuyệt vọng. Những đứa trẻ sinh ra trong chiến tranh cũng còi cọc và không thể thích nghi với cuộc sống bình thường ở Bồ Đào Nha sau này. Ông nhớ lại trong cuộc phỏng vấn với tạp chí The Paris Review năm 2011 rằng: “Tôi chỉ muốn trở về an toàn. Tôi nhớ chúng tôi đánh dấu từng ngày mà mình còn sống! Tôi đã nói chuyện với những người từng tham chiến ở Việt Nam, ở Algeria... và tôi hiểu họ gần như hoàn toàn.” 3 cuốn sách đầu tiên của ông đề cập đến những cựu chiến binh bị ám ảnh bởi chiến tranh, và chiến tranh cũng là chủ đề chính trong các tác phẩm sau này. Trong số những tiểu thuyết được xuất bản gần đây nhất của ông có Until Stones Become Lighter Than Water (Cho đến khi đá còn nhẹ hơn nước, 2016) mà bằng văn xuôi thử nghiệm, Antunes đã khám phá những dư chấn của cuộc chiến tranh Angola.

Là một nhà văn từng hành nghề tâm thần học, ông muốn tác phẩm của mình phản ánh những biến động khó lường của tâm trí con người. Điều ông đang cố gắng thực hiện là “đưa bản thân vào trạng thái gần giống như mơ, để ‘cảnh sát nội tâm’ hạ thấp cảnh giác” như chia sẻ trên tờ Le Monde vào năm 2005. Ông giải thích rằng chính “sự kiểm soát” đó đã “ngăn chúng ta suy nghĩ theo cách phi Descartes” và lí giải cho niềm tin về tính phi tuyến tính trong nhận thức của con người. Việc loại bỏ những ràng buộc đó cho phép Antunes “nắm bắt thế giới ‘như nó vốn có’, trước khi gán nó vào các phạm trù nhận thức xã hội của mình”. Với Antunes, đó là “sự mê sảng có cấu trúc” mà ông suốt đời theo đuổi.

LINH TRANG dịch theo The New York Times

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)