Văn hoá đọc Việt Nam hiện đại, ở một nghĩa sâu xa, đã mang dấu ấn của Hồ Chí Minh. Người là một tấm gương trong sáng và mẫu mực về việc đọc và vận dụng tri thức từ sách vở. Ở Người, đọc không dừng lại ở tiếp nhận, mà là một quá trình chắt lọc, suy ngẫm và chuyển hoá thành hành động, thành tư tưởng, thành những giá trị có sức lan toả bền bỉ.
Việc lấy ngày 21/4 làm Ngày Sách và tôn vinh văn hoá đọc Việt Nam không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, mà gắn với sự ra đời của Đường Kách mệnh. Cuốn sách này tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc dành cho lớp thanh niên cách mạng đầu tiên tại Quảng Châu (Trung Quốc). Với dung lượng nhỏ, văn phong ngắn gọn, từ ngữ giản dị, dễ hiểu, nhưng ẩn chứa bên trong là sự kết tinh của một quá trình đọc bền bỉ và suy tư sâu sắc. Trong từng trang sách, có thể nhận ra dấu vết của những gì Người đã đọc, đã trải nghiệm và đã chiêm nghiệm. Đó không phải là sự lặp lại tri thức, mà là sự chọn lọc đến mức tinh tuý. Những điều cơ bản nhất, chắc chắn nhất, thiết yếu nhất của lý luận Mác-xít, được chưng cất qua vốn sống phong phú và nhãn quan thực tiễn của Người. Vì thế, Đường Kách mệnh không chỉ là một tài liệu cách mạng, mà còn có thể xem như một kết tinh tiêu biểu của văn hoá đọc Hồ Chí Minh. Người quan niệm, đọc để hiểu, để gạn lọc, và để trao lại cho đời những điều cốt lõi nhất.
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng để mỗi chúng ta soi vào khi nói về văn hoá đọc. Người từng căn dặn: học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Trong hệ thống ấy, việc đọc sách, báo, tạp chí… giữ một vị trí đặc biệt, như một con đường trực tiếp và bền bỉ của tự học. Với Người, đọc không chỉ để tích luỹ tri thức, mà còn là cách rèn luyện tư tưởng, tu dưỡng đạo đức, từng bước hoàn thiện mình để nên người và làm người. Những trang sách vì thế không đứng ngoài cuộc sống, mà trở thành một phần của hành trình sống, hành trình tự giáo dục và tự vượt lên của mỗi con người.

Theo tài liệu Chủ tịch Hồ Chí Minh với miền Nam Tổ quốc - Vàng trong lửa, trước khi ra đi từ cảng Sài Gòn, Hồ Chí Minh đã có mười hai năm sống và đi qua nhiều vùng đất miền Trung, miền Nam: mười năm ở Huế, hơn một năm ở Quy Nhơn, sáu tháng ở Phan Thiết, bốn tháng ở Sài Gòn. Đó không chỉ là những chặng dừng chân của một cuộc đời nhiều biến động, mà còn là hành trình lặng lẽ tích luỹ tri thức. Trong đó, đọc sách là một con đường bền bỉ và thiết yếu.
Từ những năm tháng đầu đời, tinh thần ham hiểu biết qua việc đọc đã sớm hình thành. Năm 1906, khi học lớp dự bị tại Trường Tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên, ngoài giờ học, Nguyễn Tất Thành đã nhờ mượn sách từ Lầu tàng thư của triều Nguyễn để tự đọc. Đến năm 1908, tại Trường Quốc học Huế, dù vốn tiếng Pháp còn hạn chế, Người đã bắt đầu tiếp xúc với sách báo Pháp, kể cả những tài liệu mượn từ các binh lính trong quân đội Pháp. Đó là một cách học vừa chủ động, vừa vượt lên những giới hạn hoàn cảnh.
Khoảng thời gian từ cuối năm 1910 đến đầu năm 1911, khi dạy học tại Trường Dục Thanh (Phan Thiết), niềm say mê đọc sách càng trở nên rõ nét trong Người. Trong khu vườn của gia đình cụ Nguyễn Thông, có một ngôi nhà nhỏ mang tên “Ngọa du sào” nghĩa là nơi “nằm đọc sách mà như du ngoạn trong thế giới hiểu biết”. Chính ở không gian ấy, người thầy giáo trẻ Nguyễn Tất Thành đã dành nhiều thời gian cho việc đọc, mở rộng tầm nhìn của mình qua những “tân thư” của các nhà cải cách Trung Quốc, đồng thời tiếp cận trực tiếp với sách tiếng Pháp. Ngay từ khi còn ở Huế, lịch sử cận đại và đương đại của nước Pháp và Âu - Mỹ đã sớm thu hút tâm trí khao khát tìm hiểu của Người.
Những trang sách, vì thế, không chỉ là phương tiện học tập, mà còn là cánh cửa mở ra thế giới. Đó là khởi thuỷ để một trí tuệ trẻ tuổi chuẩn bị cho hành trình lớn của đời mình.
Sau khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911, Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều quốc gia, mang theo bên mình một khát vọng lớn và một thói quen bền bỉ: đọc để hiểu thế giới.
Trong những năm ở Pháp (1919-1923), với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, ngoài thời gian lao động để kiếm sống, Người gần như dành trọn những giờ còn lại cho việc đọc sách tại thư viện. Theo tư liệu mật thám Pháp ghi trong Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn từ ngày 9/12 đến 20/12/1919, Nguyễn Ái Quốc đã có tới 14 lần đến Thư viện Sainte-Geneviève. Có những ngày, Người lui tới thư viện đến ba lần, như ngày 12/12/1919: buổi sáng từ 10 giờ đến 11 giờ 30 phút, buổi chiều từ 13 giờ 50 phút đến 14 giờ 45 phút, và buổi tối từ 18 giờ 45 phút đến 20 giờ. Những con số thông tin ấy, khi đặt trong dòng chảy cuộc đời, lại trở nên có sức gợi đặc biệt. Đó là nhịp điệu của một trí tuệ không ngừng tự học, một con người kiên trì tích luỹ tri thức trong âm thầm. Cũng trong giai đoạn từ năm 1921 đến 1923, khi sống tại số 9 ngõ Compoint (Paris), Nguyễn Ái Quốc thường làm việc vào buổi sáng, còn buổi chiều dành cho thư viện hoặc tham gia các buổi mít tinh. Đọc và hành động, tiếp nhận và dấn thân, hai dòng chảy ấy song hành, nuôi dưỡng và soi sáng lẫn nhau trong hành trình tìm đường cứu nước.
Bên cạnh hành trình tự học qua sách vở, Hồ Chí Minh còn chủ động tiếp cận những môi trường đào tạo lý luận bài bản trong thời gian hoạt động ở nước ngoài. Tại Matxcơva, những năm tháng học tập và nghiên cứu đã góp phần hệ thống hoá, nâng tầm những tri thức mà Người đã dày công tích luỹ trước đó.
Trong giai đoạn 1923-1924, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người theo học tại Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông, nơi đào tạo chính quy về chủ nghĩa Mác, công tác tuyên truyền và phương pháp đấu tranh cách mạng. Đến những năm 1934-1935, với bí danh Lin (số hiệu 375), Người tiếp tục học tại Trường Quốc tế Lênin. Sau đó, từ 1936 đến 1938, Nguyễn Ái Quốc làm nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu các vấn đề Dân tộc và Thuộc địa của Quốc tế Cộng sản, một môi trường học thuật chuyên sâu, nơi những vấn đề lý luận được đặt trong tương quan với thực tiễn các dân tộc bị áp bức.
Điều đáng chú ý là, giữa lúc công việc nghiên cứu đang dang dở, trước những chuyển biến nhanh chóng của tình hình cách mạng, ngày 29/9/1938, Người đã rời Viện, bỏ lại bản luận án chưa hoàn thành. Chi tiết ấy không chỉ là một mốc thời gian, mà còn cho thấy một lựa chọn nhất quán: tri thức, dù được tích luỹ công phu đến đâu, vẫn luôn hướng về mục đích cao nhất là phụng sự thực tiễn cách mạng. Một trong những dấu mốc đặc biệt trong hành trình đọc và tự học của Hồ Chí Minh là khi Người tiếp cận Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Vladimir Lenin, đăng trên báo L'Humanité.
Người từng nhớ lại: bài viết “khó hiểu, vì có những từ ngữ mà tôi không biết rõ”, nhưng chính vì thế, Người đã đọc đi đọc lại, kiên trì lần giở từng ý nghĩa cho đến khi thực sự thấu suốt. Và rồi, từ một văn bản lý luận tưởng chừng khô khan, đã bừng lên một nguồn sáng: “Bản Luận cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động đến phát khóc lên…”. Khoảnh khắc ấy không chỉ là xúc động của một người đọc, mà là sự thức tỉnh của một tư tưởng. Từ trang sách, con đường hiện ra rõ ràng đến mức Người đã cất thành lời, như nói với cả một dân tộc: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Và cũng từ đó, một lựa chọn mang tính bước ngoặt được xác lập. Người tán thành Quốc tế thứ ba, tin theo Lê-nin. Việc đọc, ở đây, không còn là tiếp nhận tri thức, mà trở thành một cuộc gặp gỡ định mệnh để một con người tìm thấy con đường giải phóng cho cả dân tộc mình.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi việc tự học qua sách, báo là con đường quan trọng để tích luỹ tri thức và phục vụ thực tiễn cách mạng. Nhưng điều đáng nói hơn, ở Người, đọc không bao giờ đồng nghĩa với tiếp nhận thụ động. Người căn dặn: phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng; đọc tài liệu cần đào sâu, hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu chữ. Trước mỗi vấn đề, phải biết đặt câu hỏi “vì sao”, phải suy nghĩ xem điều đó có phù hợp với thực tế, có thực sự đúng lý hay không. Việc đọc, vì thế, trở thành một quá trình đối thoại giữa người đọc với trang sách, giữa tri thức và đời sống, nhằm đi tới sự hiểu biết chín chắn, không xuôi chiều, không dễ dãi.

Quan điểm ấy cũng được Người nhấn mạnh trong Sửa đổi lối làm việc: lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế; lý luận nếu không gắn với thực tiễn thì chỉ là lý luận suông. Dẫu có đọc hàng ngàn, hàng vạn cuốn sách mà không biết vận dụng, thì cũng “khác nào một cái hòm đựng sách”. Ở đây, văn hoá đọc không dừng lại ở tri thức, mà đạt tới một yêu cầu cao hơn: đọc để hiểu, để suy nghĩ, và cuối cùng là để hành động, một cách đọc vừa tỉnh táo, vừa gắn bó sâu xa với đời sống.
Từ những trải nghiệm đọc và cách đọc của Hồ Chí Minh, có thể thấy văn hoá đọc không phải là một thói quen phụ trợ, mà là nền tảng tinh thần hình thành tư duy, nuôi dưỡng nhân cách và định hướng hành động. Đặt trong bối cảnh hôm nay, điều ấy càng trở nên có ý nghĩa đối với đội ngũ văn nghệ sĩ, những người sống và sáng tạo bằng chính đời sống tinh thần của mình.
Trong một thời đại mà thông tin trở nên dày đặc và việc đọc tưởng như dễ dàng hơn bao giờ hết, văn nghệ sĩ lại đứng trước một thách thức khác, đọc nhiều nhưng không sâu, tiếp nhận nhanh nhưng thiếu chiêm nghiệm. Nếu không có một nền tảng đọc đủ vững, sáng tác dễ rơi vào cảm tính, lặp lại, hoặc vay mượn những lớp ý tưởng mỏng. Vì thế, văn hoá đọc, trước hết, phải được hiểu như một quá trình tự bồi đắp nội lực. Đọc để làm giàu vốn sống tinh thần, mở rộng biên độ cảm nhận, và làm sâu sắc hơn cái nhìn về con người và thế giới.
Từ tấm gương của Hồ Chí Minh, có thể gợi ra một cách đọc cần thiết cho văn nghệ sĩ hôm nay: đọc có chọn lọc, đọc với tinh thần độc lập, và đọc trong sự đối thoại không ngừng với thực tiễn. Đó không phải là việc tích luỹ tri thức theo chiều rộng, mà là một hành trình đi vào chiều sâu. Mỗi trang sách đều được suy ngẫm, thử thách và chuyển hoá thành trải nghiệm nội tâm. Văn chương, suy cho cùng, không được làm nên từ những điều đã đọc, mà từ những gì đã được “sống lại” sau khi đọc. Một văn nghệ sĩ thực thụ không chỉ là người viết, mà còn là một người đọc bền bỉ. Họ đọc để lắng nghe những tiếng nói khác mình, để vượt ra khỏi giới hạn của kinh nghiệm cá nhân, để nhận ra những tầng sâu của đời sống mà trực giác khó chạm tới. Nhưng cũng như Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, đọc không phải để lệ thuộc. Nếu thiếu đi sự độc lập trong tư duy, người viết dễ bị cuốn theo những hệ hình có sẵn, đánh mất giọng nói riêng, thứ cốt lõi làm nên giá trị của sáng tạo.
Ở một tầng sâu hơn, văn hoá đọc còn là văn hoá của sự tự rèn luyện. Đọc không chỉ để viết hay hơn, mà còn để sống đúng hơn, hiểu người hơn, và giữ cho mình một độ lắng cần thiết giữa những xao động của đời sống hiện đại. Có thể nói, trong hành trình sáng tạo, mỗi cuốn sách là một cuộc gặp gỡ và chính cách chúng ta đi qua những cuộc gặp gỡ ấy sẽ quyết định chiều sâu của tác phẩm.
Tấm gương Hồ Chí Minh không chỉ là một khối lượng tri thức đã được tích luỹ, mà là một thái độ đọc: tỉnh táo, kiên trì, gắn bó với thực tiễn và luôn hướng tới giá trị sống. Với văn nghệ sĩ hôm nay, giữ được thái độ ấy cũng chính là giữ được một nền tảng bền vững cho sáng tạo, để văn chương không chỉ là biểu đạt, mà còn là kết tinh của đời sống một cách sâu sắc hơn.
THUỲ CHI
VNQD