Trần Nhật Minh từ “mẫu đời” đến “mẫu tự” văn chương

Thứ Ba, 24/03/2026 14:40

       NGUYỄN VIỆT CHIẾN     

           Những cuộc trà trên căn gác cũ (Nxb Hội Nhà văn, 2024) của Trần Nhật Minh là một tập sách nhỏ nhưng mở ra một không gian kí ức hiện tại giàu sinh khí, nơi mà tiếng ấm nước reo, mùi trà thoảng và nhịp đối thoại bạn bè trở thành cái cớ để người viết nhìn lại con người, thị hiếu, nếp nhà và những chuyển động văn hóa xã hội đương thời. Đặc sắc của tập sách nằm ở chỗ, Minh không “lấy đời làm chất liệu” theo nghĩa chung chung, mà đem đời sống đến gần bằng những mảnh vụn rất cụ thể, từ một khung cửa sổ phố cổ, một chiếc chạn, đến tiếng chảo tóp mỡ xèo xèo, một cái cúi đầu lịch thiệp… rồi từ đó nâng lên thành suy tư về đạo lí, thói quen, kí ức tập thể và thẩm mĩ. Chính nghệ thuật kể chuyện “nhỏ mà không hẹp”, “tản mạn mà chặt” ấy đã làm nên phong cách Trần Nhật Minh.

Không gian trà thoại của kí ức và hiện tại

Ngay ở những trang mở đầu, Minh dựng lại “căn gác cũ” với mái ngói âm dương, sàn gỗ, gió thênh thang như một phông nền ấm áp cho các cuộc trà, nơi giới văn nghệ sĩ ghé thăm, chuyện trò, đọc thơ, tranh luận. Người cha “ít nói, ít tranh luận” đóng vai chủ nhà pha trà, rót nước; đứa con “bỏ cuộc chơi con trẻ ngoài phố về nhà hóng chuyện”, học cách nghe người lớn nói năng “con kiến cũng phải bò ra”, tất cả phác ra một sinh hoạt văn nghệ thân tình, có lễ độ, có hứng thú, và đặc biệt coi trọng việc “nghe - ngẫm - nhẩn nha” trước khi phát ngôn. Tại đây, những gương mặt như Xuân Diệu bước vào căn phòng kí ức với cách đọc thơ “say đắm”, “mổ xẻ” thơ đàn em “chan chát”, góp nên âm sắc nhiều chiều của một đời sống chữ nghĩa còn nóng hổi trong trí nhớ người kể.

Không gian ấy không đóng lại, Minh nhấn một câu làm điệp khúc, biến “cuộc trà” thành mô-típ kết cấu: “Những cuộc trà soi bóng thời gian. Còn nhiều người ghé qua căn gác đó… Theo cha con tôi về nơi phố mới không thể thiếu những câu chuyện bên ấm trà nồng đượm… Và tôi đã dần lớn lên trong âm hưởng những mối thâm tình.” “Cuộc trà” vì thế vừa là cảnh, vừa là nhịp, vừa là cách đứng nhìn đời chậm, kĩ, có đối thoại, có tri âm.

Văn phong của Minh có một cội nguồn kín đáo mà bền bỉ là học đạo làm người từ những người gần gũi nhất. Chân dung “bà tôi - người thầy đầu tiên” kể bà nội thời phong kiến không được cho đi học, phải trèo cây học lén, rồi tự học mà biết đọc biết viết, “đối nội, đối ngoại” đâu ra đó, thuộc và hiểu “chân tơ kẽ tóc” những lời dạy dân gian; bà khéo nhắc “bán anh em xa mua láng giềng gần…”, dạy con cháu “đừng làm theo điều không tốt” nơi xóm giềng. Một kiểu “đạo học chân tay”, học qua lao động, ứng xử, lời ăn tiếng nói… thấm vào văn Minh với đề tài có thể là bữa cơm, là cái chạn, là tiếng bước chân về trên bờ tường rêu, nhưng kết thúc thường mở ra một chuẩn mực xử thế giản dị, kín tiếng.

Từ nếp nhà sang xã hội, Minh nhìn những biến cố thời sự bằng một lăng kính văn hóa. Khi liên tưởng “cái cúi đầu của người Nhật” cúi chào, cảm ơn, xin lỗi với cảnh “dòng xe chen chúc, nhao nhao cướp đường” ở ta, anh không phán xét gay gắt, chỉ “thèm cái không gian nhẹ nhõm” nơi sự nhường nhịn trở thành thói quen đẹp, gợi ý về nền tảng giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội để tránh những “vết trượt” gây nên các vụ án trẻ em khiến người đọc đau lòng. Điểm đáng lưu ý, Minh không biến cái viết thành diễn đàn đạo đức khô cứng, anh nói đến phép lịch sự, nhưng để nó “tự phát sáng” qua một hình ảnh đời thường, một cử chỉ đẹp, một nỗi thèm giản dị.

Một minh họa mẫu mực là bài Thời “tóp mỡ”. Những dòng văn khiến người đọc… đói: “giai điệu mỡ sôi xèo xèo”, “bát cơm nóng rẫy, vùi một thìa mỡ… rưới thêm thìa nước mắm mặn chát”, các giác quan được huy động để kí ức hiện về thành hình khối khi chiếc chạn, thùng tôn đựng gạo, liễn mỡ… là một “bảo tàng sống” của đời sống đô thị thời kham khổ. Nhưng Minh không dừng ở “hoài cổ”, anh ghép quá khứ với hiện tại bằng một cú lia hiện đại “chỉ một cú bấm máy di động, không lâu sau bạn đã có… bánh tóp sẫm vàng chất lượng” để thấy những chuỗi cung ứng và khẩu vị hôm nay đã thay đổi, còn kí ức thì vẫn “ăn” được, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cũng trong mạch ấy, chiếc xe com-măng-ca đi “xin mua rẻ thịt lợn”, cảnh “mổ, chia lợn, eng éc cứa vào màn đêm ngõ phố” như một phóng sự mini được tổ chức bằng chi tiết, nhịp câu và từ tượng thanh, khiến thời bao cấp sống dậy chân thực sinh động.

Ở đầu kia của phổ chi tiết vật chất là chi tiết xúc cảm. Minh viết về những cái nồi, cái chảo “nguyên mùi bồ hóng, dầu hỏa”, đồ đạc vô tri bỗng thành “kí ức”, thành nơi “chưa nguội phai củi lửa, cay cay tròng mắt cuộc đời” như một phép nhân hóa nhẹ tay, khiến đồ vật giữ hộ tình cảm con người qua nhiều thế hệ. Ở đây, người kể không triết lí, anh để vật thể triết lí thay, bằng mùi, bằng màu, bằng cảm giác “ấm lòng”.

Nghệ thuật dòng chảy của tản văn và chân dung

Những cuộc trà trên căn gác cũ không phải một chuyên luận theo chủ đề khép kín, mà là một “bản ghép” gồm tản văn kí ức, chân dung bạn bè, tiểu luận phê bình ngắn, điểm sách, câu chuyện nghề báo phát thanh. Bảng mục lục trải rộng từ Những cuộc trà trên căn gác cũ, Bà tôi - người thầy đầu tiên, Thời “tóp mỡ”, Lòng con ngõ nhỏ đến Xuôi dòng đờn ca tài tử, Tranh luận về nhạc sến…, Chùa trong tâm, Homestay ở núi, Vĩnh biệt Đại tướng…, Hà Nội nhớ Phú Quang… với những lát cắt “địa hạt” văn hóa khác nhau nhưng đều quy về cái nhìn gần gũi, dễ thương lượng với đời sống. Cấu trúc ấy tạo cảm giác “lang thang có chủ đích” khi mỗi bài như một ô cửa, mở ra một mẩu chuyện, một nhân vật, một nhận định.

Trong mạch chân dung, Minh thường chọn một “tư thế” hay “thói quen” để chớp chân dung như ông bạn “chỉ đòi vài bìa đậu, nhâm nhi vài ly”; người làm tạp chí “thẳng căng… nói nhỏ đủ nghe”; hai tính cách “máu thịt” bên ấm trà với vài chấm phá là đủ “lên hình” nhân vật mà không cần tiểu sử dài dòng. Đến “Lời bạt”, một người bạn khác miêu tả chính Minh bằng nhịp điệu “dữ dằn”, “cuồn cuộn”, “bùng lên” tiếng rượu, tiếng cười, tiếng thơ lồng vào nhau cũng là một cách cho độc giả thấy “khí chất” của cộng đồng sáng tạo mà Minh gắn bó: thẳng, bốc, tình, chân, nhưng vẫn sâu và có nghệ thuật “giữ nhịp” câu chữ.

Ở mảng phê bình, điểm sách, Minh có xu hướng “đọc vị” phong cách qua nhan đề, qua một nét bút quyết định “đặt nhan đề lặp lại đầy dụng ý”, “kéo độc giả đi vào trang sách”, “đọc vị xu hướng” cách viết ngắn, gọn, “điểm huyệt”… cho thấy kinh nghiệm nghề báo của anh biết nhìn từ cấu trúc bìa - tít - môtíp để suy ra khí chất tác giả, xu hướng thể loại. Điểm đáng nói là khi bình một tác giả khác, Minh vẫn giữ giọng thân tình, tôn trọng; phê bình, vì thế, không xa lạ với tản văn khi cả hai đều nhằm “kéo độc giả” vào một cuộc trò chuyện nghề.

Minh ưa đặt kí ức cạnh hiện tại, để thấy sự chuyển động của đời sống. Trong Thời “tóp mỡ”, sau khi đi hết “chạn - liễn - com-măng-ca - chia đụng ăn Tết”, anh khép bài bằng một nhận xét “lợn ê chề nhưng… người ta dùng dầu thực vật nhiều hơn” với một cú chốt nhẹ, xác nhận vòng đời vật chất khẩu vị đã dịch chuyển, trong khi kí ức ẩm thực thì… nâng đỡ hoài bão của một thế hệ. Nhà bếp “long lanh” rộng rãi hơn, nhưng cái nồi bồ hóng vẫn được giữ “như vật quý” đối thoại với đời sống tiêu dùng hiện đại và nhu cầu “giữ kí ức” của con người thị dân.

Tính “đương đại” còn nằm ở cách chọn đề tài rộng và cập nhật, từ “đờn ca tài tử”, “tranh luận nhạc sến” đến tưởng niệm Phú Quang, nói lời “vĩnh biệt Đại tướng” với các bài viết không né cảm xúc cộng đồng mà hòa vào nó bằng giọng riêng chân mộc, ấm áp, hiểu nghề. Chỉ cần liếc qua danh mục bài viết là thấy Minh đứng ở giao lộ nhiều loại hình nghệ thuật và sự kiện văn hóa xã hội, luôn tìm một góc tiếp cận nhân tình để nói chuyện thẩm mĩ.

Giọng văn của Minh không “đao to búa lớn”. Anh để câu chữ “pha trà” theo cách chậm, kĩ, thấp giọng. Ở “căn gác cũ”, người cha “ít nói, ít tranh luận, chỉ lặng lẽ” và cái “lặng lẽ” ấy thấm vào nhịp câu, thành những đoạn văn “ngậm” hình ảnh, để dư vị tự lan. Khi cần, Minh chuyển sang nhịp kể nhanh với sự liệt kê và tượng thanh (“eng éc cứa vào màn đêm ngõ phố”), tạo “điểm nổ” nhỏ để đoạn văn có cao trào rồi hạ xuống bằng một câu kết điềm tĩnh.

Một thói quen tu từ đáng chú ý là phép “đối chiếu - viễn chiếu” khi đặt một cử chỉ (cúi đầu) ở xã hội khác cạnh một thói quen (cướp đường) ở ta, đặt một chiếc nồi cũ cạnh một gian bếp mới, đặt “bánh tóp” mua online cạnh “liễn mỡ chiến lược”. Nhờ đó, văn Minh vừa có “mùi”, vừa có “độ sâu” (ý nghĩa), giữ được vẻ độ lượng, chỉ gợi vấn đề để người đọc tiếp tục suy nghĩ.

Đọc hết tập sách, ta thấy một “hồ sơ” về người viết là một nhà báo, phát thanh viên trọng chi tiết, trọng tình, biết ơn người đi trước, biết kiềm chế tốc độ của mình bằng kỉ luật nghề. Những dòng Minh nhắc đến “cuộn băng cối… những chương trình phát thanh đầu tay”, những đồng nghiệp “đã nâng đỡ, tỉa tót” và lời tự nhắc “cách trả nợ tốt nhất… là lại tiếp tục… để Tiếng Nói Việt Nam xuôi dòng không đứt quãng” cho thấy một đạo đức nghề khi không phô trương, chỉ lặng lẽ làm tốt phần việc của mình.

Ở tầng bạn bè, “Lời bạt” vẽ Minh “uống dữ dằn”, “cuồn cuộn”, “bùng lên”, “hát, đọc thơ”…, khí chất sôi nổi ấy đối lập thú vị với giọng văn điềm đạm trên trang viết; nó giải thích những trang chân dung tưởng niệm của Minh luôn ấm áp, nhiều nghĩa, vì chúng được viết bởi một người “ở trong cuộc”, biết yêu và biết tiễn biệt đúng mực.

Trong mĩ học của Những cuộc trà trên căn gác cũ, “trà - nhà - người” là vòng điệu lặp, ở đâu có ấm trà, ở đó có nhà; ở đâu có nhà, ở đó có người; và ở đâu có người, ở đó có câu chuyện, đôi khi là một giai thoại thơ ca (Xuân Diệu), đôi khi là một nền cũ xưa (nhạc sến, đờn ca tài tử), đôi khi là một biến cố cộng đồng, đôi khi chỉ là một góc nhà bếp. Mỗi vòng lặp đưa thêm một lớp nghĩa, như nước thứ hai, thứ ba của ấm trà nhạt hơn vị, nhưng đượm hương hơn. Chính sự “mở” ấy - mở đề tài, mở cảm xúc, mở kết cấu - làm cho tập sách có sức “đọc thành nhiều lần” mà không cũ.

Những cuộc trà trên căn gác cũ là một minh chứng thuyết phục cho cách viết “nhỏ mà sâu”. Lấy vài chi tiết đời sống làm mũi khoan, Minh xuyên qua lớp bề mặt náo động để chạm đến lõi nhân tính và mĩ cảm cộng đồng. Căn gác cũ với khách văn nghệ, bữa cơm tóp mỡ thời bao cấp, chiếc nồi bồ hóng, cái cúi đầu nơi xứ người, lời dặn của bà nội…, tất cả vừa là “mẫu đời” vừa là “mẫu tự” cho một mĩ học tản văn đương đại vừa giàu xúc giác, trọng đạo lí mềm, vừa thấm hương đối thoại, và lúc nào cũng mở ra một nhịp “soi bóng thời gian” bên ấm trà nóng.

Đọc Minh, ta thấy rõ một nhà văn, nhà báo đặt nhân tình lên trên luận thuyết, đặt chi tiết lên trên khẩu hiệu, đặt trò chuyện lên trên diễn ngôn một chiều. Và có lẽ, đó chính là chỗ riêng trong phong cách Trần Nhật Minh khi anh kể chuyện đời nay bằng kho từ vựng của kí ức và phép lịch sự của đối thoại với thứ văn chương bình tĩnh, mộc mạc mà bền hơi như hương trà rót qua nhiều nước vẫn thơm.

N.V.C

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)