. HIỀN TRANG
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Nhà văn đang sống trong một điểm kì dị của văn chương.
Điểm kì dị, theo đúng thuật ngữ vật lí, the singularity, cái điểm quái gở của lỗ đen bóp méo những định luật thông thường, nơi mật độ trở thành vô hạn và kéo đổ các mô hình vật lí hiện đại, cái điểm điên loạn mà Albert Einstein muốn chối bỏ như đứa con hoang sinh ra từ các phương trình của mình. Nhà văn đang sống trong điểm đó, hoặc chí ít, ta đang vượt qua chân trời sự kiện, ranh giới mà bước qua rồi thì không thể quay đầu trở lại nữa, và lao một mạch tới điểm kì dị.

Nhà văn, tất nhiên, với toàn bộ truyền thống cách mạng của nghề nghiệp này, không nói đầu hàng bao giờ. Khi bị đe doạ tước đoạt tư cách làm người viết thì chính là lúc nhà văn đã được trao cho một lí do để viết. Ta viết về chính kẻ đang manh nha cướp đoạt niềm kiêu hãnh của ta. The Maniac của Benjamín Labatut là một cuốn tiểu thuyết như thế, một cuốn tiểu thuyết đo đạc cuộc đời nhà toán học người Mĩ gốc Hungary, John von Neumann, người mà khi nằm trên giường bệnh ở tuổi 53, vây quanh ông là “chuẩn đô đốc Lewis Strauss - chủ tịch ủy ban năng lượng nguyên tử; bộ trưởng quốc phòng; thứ trưởng quốc phòng; các bộ trưởng không quân, lục quân và hải quân; cùng các tổng tham mưu trưởng - tất cả đều chờ đợi một tia sáng cuối, thêm một ý tưởng nữa từ con người đã khai sinh ra máy tính hiện đại, đặt nền tảng toán học cho cơ học lượng tử, viết nên phương trình cho cơ chế nổ bên trong của bom nguyên tử, khai sinh lí thuyết trò chơi và hành vi kinh tế, mở ra kỉ nguyên của sự sống kĩ thuật số, máy tự sinh sản, trí tuệ nhân tạo và điểm kì dị công nghệ, người đã hứa hẹn ban cho họ quyền năng thần thánh để kiểm soát khí hậu trái đất - giờ đây đang dần tàn lụi trước mắt họ, gào thét trong đau đớn, mê sảng, hấp hối, như bất kì con người nào khác” (trích đoạn này là do ChatGPT dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt); và thu thập những manh mối về quá trình ra đời đầy những đường vòng, những khúc ngoặt, những gấp khúc, những mê lộ, những ngã rẽ khác thường để rồi khai sinh ra trí tuệ nhân tạo - những thực thể không có cơ thể vật lí, trôi nổi và dập dềnh trong một vùng không gian khác, vậy nhưng vẫn biết học tập, biết suy nghĩ, biết tạo ra thứ mà ta tưởng các nữ thần chỉ ban riêng ta: khả năng kiến tạo cái đẹp.
Và như mọi lịch sử, lịch sử những cỗ máy trí tuệ này cũng không minh định. Đó là một lịch sử đa thanh, với nguồn gốc không rõ ràng, và ngay cả trong một thế kỉ mà quá trình phát minh và khám phá đều được ghi lại cẩn mật và kĩ càng, dường như vẫn có rất nhiều thứ nằm ngoài khả năng ghi chép của con người, như là cơn mất trí, dù là tạm thời hay dài lâu, của những con người đã ngó thấy sự khải huyền về cõi phi lí của công nghệ.
The Maniac gồm ba phần lớn: mở đầu là thời đại tiền Neumann, với nhân vật chính là Paul Ehrenfest, một nhà vật lí lí thuyết với đóng góp vượt bậc cho cơ học lượng tử dù ông không thể nào chấp nhận được thế giới phi lí mà vật lí lượng tử ngự trị, ông phát điên, giết đứa con trai mắc chứng down, và tự sát; phần hai là lời chứng về cuộc đời của Newmann, người được ban phước và bị nguyền bởi số phận một thiên tài, qua giọng kể của người thân, cộng sự, kẻ thù; và khép lại với thời kì hậu Newmann, cụ thể là một mise-en-scène về cuộc đấu cờ vây lịch sử, nơi Lee Sedol vĩ đại chơi năm ván cờ cùng AlphaGo, thua tới bốn, choáng ngợp trước một nước cờ không có trong bất cứ kì phổ nào mà cỗ máy đã chơi, và suốt những ngày thi đấu, anh gầy rộc đi, không thiếu những cơn mê sảng.
Benjamín Labatut sinh năm 1980, người Chile. Cần phải nhắc tới năm sinh, vì có lẽ đã đến lúc những nhà văn của thế hệ 80 hết trẻ. Hết trẻ nên họ bắt đầu bước vào thời đỉnh cao của nghề tiểu thuyết. Họ bắt đầu viết ra những tác phẩm lớn từ quan sát thời đại của mình.
Văn nghiệp của Labatut được xây dựng từ một nền móng, tạm gọi là một “giả thuyết”: những phát kiến quan trọng nhất của toán học - vật lí đã tạo nên khuôn khổ cho công nghệ hiện đại đều ra đời vào thời điểm hỗn loạn của thế giới, một thế giới của Nazi, của bom nguyên tử. Trong hiện thực, sự ổn định suốt hàng thế kỉ tan vỡ, thế vào đó là những cuộc chiến tranh diện rộng, entropy của bạo lực và cái ác vượt qua mọi ngưỡng tưởng tượng, người ta không còn đoán biết được tương lai. Trong khoa học, thế giới quan truyền thống của Euclid, của Newton đã tồn tại hàng trăm năm, ngàn năm, đột nhiên không còn mang tính phổ quát mà chỉ còn là một trường hợp đặc biệt, và rồi cơ học lượng tử giá đáo, đảo ngược mọi thứ ta từng biết về bản chất vũ trụ quanh mình, đồng thời hé lộ những khả thể cho phép ta tạo ra Sáng thế thứ hai, nơi ta là chúa, và sẽ có những sinh vật mới, sinh ra từ những con số.
Một tác phẩm của Labatut đã được dịch sang tiếng Việt, Un Verdor Terrible (bản dịch của Tôm Giang do Nhã Nam ấn hành: Khi ta không còn hiểu thế giới), tập hợp tiểu luận - truyện ngắn - tiểu luận hư cấu - novella được viết với văn phong có mùi vị Sebaldian, nghĩa là như một toàn thể bị vỡ ra thành trăm mảnh, nhưng việc lắp ghép hàng trăm mảnh sẽ không mang lại cho ta một toàn thể vẹn nguyên như cũ. Đó không phải sự rã đám như trong thế giới của Roberto Bolaño, một nhà văn Chile khác, người cũng tạo ra những lỗ đen, những điểm kì dị trong văn chương, chẳng hạn như thành phố Santa Maria của tiểu thuyết 2666, nơi đặc quánh những vụ án giết phụ nữ, một thành phố cũng đổ sụp vào bên trong chính nó vì trọng lượng quá tải của bạo lực dồn trong một diện tích nhỏ; chẳng hạn như người đàn bà đã khai sinh ra một chủ nghĩa văn chương sớm nở tối tàn, phá huỷ hết những quy cách nghệ thuật, một điểm kì dị di động khiến những hậu bối không ngừng tìm kiếm. Tuy vậy, sự rã đám trong thế giới của Bolaño dù đồ sộ hơn lại không rộng khắp bằng, sự rã đám của Bolaño cục bộ, sự rã đám của Sebald hay Labatut thì gọn gàng hơn (các tác phẩm không quá dày) nhưng lại đi một vòng khắp thế giới. Tận thế của Bolaño cũng khác với tận thế của Labatut. Tận thế của Bolaño nằm trong sự tuyệt vọng, tận thế của Labatut nằm trong những hi vọng: giây phút các nhà khoa học tìm ra một khía cạnh nào đó của bản chất vũ trụ, đó là giây phút họ nắm trong tay quyền năng phá huỷ thế giới, họ là những kẻ “bước đều như những kẻ mộng du tiến thẳng tới tận thế” (trích Un Verdor Terrible/ Khi ta không còn hiểu thế giới). Trong văn chương của Labatut mang tinh thần Sebald, ta đã lỡ mất cơ hội được nhìn thấy thế giới thuở còn nguyên vẹn, đây không phải trò xếp hình nơi sự cắt nhỏ chỉ là một thủ thuật, một trò chơi; không, thế giới đã vỡ thật rồi, các mảnh đã phân tán, và entropy (đại lượng đo lường sự mất trật tự của một hệ thống) thì luôn tăng.
Nhân tiện, Boltzmann, nhà vật lí tìm ra công thức về entropy, cũng là một nhân vật trong chuỗi tác phẩm của Labatut về các nhà khoa học. Và Boltzmann cũng có một số phận thảm thiết. Ông trầm cảm, “treo cổ tự vẫn bằng một sợi thừng ngắn trên khung cửa sổ trong một căn phòng ở khách sạn Ples, trong kì nghỉ hè tại Duino, gần Trieste, khi vợ và cô con gái nhỏ của ông đang đi bơi trong làn nước biển Adriatic êm đềm, xanh ngọc” (trích The Maniac). Nhưng Boltzmann cũng không phải nhà vật lí duy nhất trong thế kỉ XX phát điên. Điên loạn có lẽ là dịch bệnh của giới khoa học gia thời kì ấy, mà cũng không thể khác được, với những gì họ tìm ra. Nhà nghệ thuật bị hư cấu mình sáng tác ra vận vào cuộc đời; nhà khoa học bị sự thật mình khám phá thấy vận vào số mệnh.
Trong bộ phim điện ảnh Đức mang tên Die Theorie von Allem (Thuyết vạn vật) của Tim Timm Kröger, một nhà vật lí trẻ tuổi cùng thầy mình tham gia một toạ đàm đặc biệt trên dãy Alps. Anh đang ấp ủ một công trình kì lạ về thời gian. Nhưng cũng chính trên triền núi Alps, những cái chết bí ẩn bắt đầu xảy ra, và anh dần hiểu rằng tất cả những bí ẩn đó có liên quan đến công thức mà anh đang tính toán. Anh đã nhác thấy một sự thật kì dị, méo mó đang vận hành vũ trụ này. Và sự thật vốn là thứ không nên thấy, không nên biết, chừng nào còn muốn sống trong Địa đàng. Một khi đã thấy sự thật, đã để lộ thiên cơ, thì tất yếu, anh đừng mong bước ra còn toàn vẹn - ai cho con người diện nhan chúa? “Ngươi không thể thấy mặt Ta, vì không ai thấy mặt Ta mà còn sống” (Sách Xuất Hành 33:20). Những kẻ nhìn thấy mặt chúa, và tiếc thay, chẳng phải một gương mặt của vẻ đẹp hài hoà, trật tự, tỉ lệ vàng, mà lại là một gương mặt ác mộng, anh ta tất yếu phải trả giá.
Những nhà khoa học cơ bản thế kỉ XX được kể trong các tác phẩm của Labatut (một loạt tên tuổi lừng danh nhất), đều là nạn nhân của sự thật. Họ đều thấy bóng dáng phần quỷ phi lí trí trong vũ trụ, và bị con quỷ ấy ám nguyền, theo nhiều cách khác nhau. Không thể hạnh phúc khi đã trông thấy con quỷ ấy. Schwarzschild, Heisenberg, Schrödinger, Boltzmann, Grothendieck, Neumann, Gödel, Ehrenfest, Barricelli, Turing, Mochizuki, De Brogli... Kẻ nhịn ăn đến chết, kẻ chết vì khí độc, kẻ sống cô lập từ chối dùng điện và nước, kẻ sống trong những cơn sốt thường trực của bệnh lao… Kẻ nào cũng hoặc mê mụ, hoặc ghê tởm, hoặc phát cuồng, hoặc kinh hoàng trước những gì mình tìm thấy. Cách duy nhất để sống an thân, như truyện ngắn Khi ta không còn hiểu thế giới khép lại, một nhà toán học, sau khi tiếp xúc những công trình toán học có tính cách mạng của Grothendieck, đã từ bỏ toán học và trở thành một người làm vườn, tâm đắc với câu chuyện về những cây chanh, rằng khi chúng già đi, chúng sẽ chết vì quá sum suê, chúng sẽ chết sau một vụ mùa bội thu, với hoa trái trĩu cành, trĩu cành đến gãy cành, và sau một tuần mặt đất đầy mùi chanh thối - có lẽ người đó đã hiểu rằng con người cũng như vậy, sự phát triển quá độ sẽ chỉ dẫn tới một phong cảnh tiêu điều xộc mùi hôi thối. Nhưng không mấy ai chặn đứng được cám dỗ của sự tò mò với khoa học và phát triển. Những nhà khoa học vĩ đại nhất đã lao vào khoa học như một người chạy nạn lao vào hầm trú ẩn để chống đỡ sự độc ác của chiến tranh, hay, sự độc ác của con người (theo nghĩa đen), để rồi họ bị bắt sống bởi một thực thể còn độc ác, xảo quyệt hơn gấp nhiều lần: toán học.
Bởi toán học hứa hẹn cho ta trở thành chúa. Toán học là kinh thánh, một thứ kinh thánh ta không cần phải nghi ngờ, một thứ kinh thánh không nằm trong những huyền thoại mập mờ mà nằm ngay trên những con số tính toán được, chứng minh được, phải, rất phức tạp, nhưng chí ít, chứng minh được. Toán học là một vị chúa tể bao dung, nó cho phép ta đặt câu hỏi, tò mò, cho phép ta tìm ra nó, thay vì lẩn tránh như những vị thần tối cao khác trong truyền thống nhân học, luôn bắt ta phải tin, và một đức tin tiên nghiệm, tin dù không có sự bấu víu nào, một bằng chứng nào, như ông Job luôn tin thượng đế của ông. Bi kịch của những nhà khoa học bắt đầu từ đó: từ sự tin tưởng rằng toán học là đấng toàn năng luôn đúng, không bao giờ mâu thuẫn, ngẫu hứng, khó đoán như những vị chúa của tôn giáo hay triết học. “Khi ngày càng có nhiều phát hiện mới được đưa ra, người ta dần nhận ra rằng toán học thực ra không có một nền tảng mà ai cũng có thể đồng thuận. Nỗi nghi ngờ dai dẳng ấy - rằng toàn bộ vương quốc của họ được xây dựng trên hư vô - được gọi là “khủng hoảng về nền tảng của toán học”, và đó là cuộc chất vấn sâu sắc nhất đối với ngành này kể từ thời Hi Lạp cổ đại. Cuộc khủng hoảng ấy là một sự kiện kì lạ, có sự tham gia của những bộ óc nguyên bản và sáng suốt nhất trên thế giới. Nhưng khi nhìn lại, tôi thấy nó chẳng khác nào một cuộc truy tìm kiểu Arthur - nơi lí trí vượt quá giới hạn của chính nó, chỉ để rồi nhận ra trong tay mình là một chiếc chén thánh trống rỗng” (trích The Maniac). Hoá ra vị chúa khoa học cũng có một ván cược với quỷ dữ, hệt như vị chúa trong Sách Job. Khoa học, thứ luôn kiêu mạn về sự chính xác của mình, không bao giờ có một phiên bản nào khác của định lí Pythagore như các kinh điển tôn giáo thường có hằng hà sa số dị bản, cuối cùng cũng rất bất định: những hệ tiên đề tưởng như bất khả xâm phạm cũng hàm chứa những mệnh đề không thể khẳng định mà cũng không thể phủ định, và KHÔNG THỂ loại bỏ những mâu thuẫn và nghịch lí ra khỏi toán học. Tư duy lí trí có đường biên của nó. Nhưng điều đó lại không ngăn những nhà toán học khác muốn đi đến tận rìa mép của đường biên ấy, xem có vực thẳm nào ở đó. Từ khao khát rất trong sáng ấy, những bộ khung toán học quan trọng nhất của máy tính, của internet, của điện thoại thông minh, của trí tuệ nhân tạo, và còn những gì nữa có trời mới biết, ra đời.
Trong phần cuối cùng của The Maniac về cuộc đấu cờ vây giữa Lee Sedol và một cỗ máy, Benjamín Labatut đã bắt đầu bằng một thiên truyện cổ của người Trung Hoa về sự ra đời của cờ vây. Vua Nghiêu có một đứa con ngỗ ngược và hiếu sát, Đan Chu. Đan Chu không thích đọc, chẳng thích viết, thứ duy nhất nó thích là giết, giết tất cả những gì trên đường nó đi qua. Lo sợ về đứa con trai của mình, vua Nghiêu đã cầu xin các vị thần cùng với Bàn Cổ chia vũ trụ thành 19 hàng, 19 cột, và rủ Đan Chu đến chơi một trò chơi xem ai giành được nhiều lãnh thổ hơn. Ai giành được nhiều lãnh thổ hơn, kẻ đó sẽ thống trị vũ trụ.
Sau đó, Labatut mô tả về cuộc đời kì thủ bậc nhất Lee Sedol, đâu đó cũng có nét của một Đan Chu: ngang tàng, kiêu ngạo, trẻ con. Và cả người tạo ra AlphaGo cũng thế, Hassabis - nhà khởi nghiệp, nhà phát minh, một kì thủ - cũng là một kiểu Đan Chu.
Con người đều là những Đan Chu. Rất có thể chúng ta chỉ đang ở trong một ván cờ nơi Đan Chu chơi với Đan Chu, nhưng luật cờ lại không do chúng ta tạo nên. Chúng ta mong muốn trở thành thần thánh của thiên niên kỉ mới, tiếm quyền những thượng đế cổ xưa. Chúng ta đang tạo ra những thứ mà thượng đế cũng không tạo ra được, chúng ta đang tạo ra Sáng thế bằng thần khí của mình, với những cỗ máy biết suy nghĩ, biết chơi cờ, biết làm ra cái đẹp, như đúng tiên tri của John von Neumann, và nếu ông còn tiếp tục đúng, thì một ngày nào đó, những cỗ máy sẽ sinh sản, hệt như chúng ta. Nhưng rất có thể tất cả cũng chỉ nằm trong một hoạch định lớn lao hơn của vũ trụ, rằng con người, rồi cũng như vườn chanh, nếu chúng ta không chết vì chiến tranh toàn cầu, vì dịch bệnh, vì thảm hoạ, thì đến một lúc, ta sẽ chết vì chính hoa trái của mình, và chết không phải vì chúng ta dốt nát, mà chết vì chúng ta quá thông minh.
Thế thì quay lại câu hỏi đầu tiên: Nhà văn biết làm gì đây, trong thế giới đang kề cận một điểm kì dị? Mặc dù có thể không có một câu trả lời thấu đáo và đúng trọng tâm, nhưng có thể, rất có thể thôi, rằng nghề nghiệp ấy sẽ tiếp tục tồn tại, bởi nhà văn thì chưa bao giờ quá thông minh, không bao giờ quá chính xác, không bao giờ có tham vọng về sự chính xác, và vì thế không có một thế giới nào sẽ diệt vong vì văn chương phát triển vô hạn. Khi không có sự vô hạn, thì điểm kì dị sẽ bị vô hiệu hoá. Văn chương là một hi vọng nhỏ của chúng ta.
H.T
VNQD