Tâm thức thiền trong thơ Văn Đắc

Thứ Hai, 20/07/2026 08:43

. LÊ TÚ ANH
 

Tôi phát hiện tâm thức thiền trong thơ Văn Đắc khi đọc đến bài Một mình trong Văn Đắc tuyển tập(1). Từ đây, tôi buộc phải đọc lại toàn bộ phần đầu. Càng đọc, tôi càng nhận thấy rõ điều mình phát hiện và tâm đắc. Và tôi viết với một niềm hứng khởi mạnh mẽ về thơ ông. Văn Đắc là nhà thơ Xứ Thanh, với hành trình bền bỉ và không ngừng đổi mới để bắt nhịp với thời cuộc. Văn Đắc là nhà thơ không tuổi, nhà thơ thấm đẫm chất thi sĩ từ dáng vẻ đến nội tâm. Sáng tác của ông không chỉ góp phần làm giàu có, phong phú văn học của một địa phương, mà còn góp phần làm cho nền thơ hiện đại Việt Nam thêm dạt dào và rực rỡ.

Thiền là khái niệm biểu đạt nội dung cốt lõi của hoạt động tu hành theo đạo Phật. Mục đích của thiền trong Phật giáo là thanh lọc tâm (loại bỏ tham, sân, si), rèn luyện sự tập trung (định) và phát triển trí tuệ (tuệ) để thấu hiểu bản chất vạn vật (tính không, duyên khởi), dẫn đến sự giải thoát khỏi khổ đau. Thiền Phật giáo gồm hai dạng: thiền định (Samatha) và thiền quán (Vipassana). Thiền định là một phương pháp rèn luyện tâm trí, giúp tâm an định và sáng suốt thông qua việc quan sát hơi thở, tâm tư, thân thể, từ đó loại bỏ phiền não, đạt đến trí tuệ và giác ngộ. Thiền quán là quán chiếu các pháp, quan sát sự vật đúng như thật (thân, thọ, tâm, pháp) để phát huy trí tuệ, thấy rõ sự vô thường và vô ngã. Về cơ bản, thiền Phật giáo hướng tới rèn luyện con người về cả thân thể và tâm trí, sao cho con người đủ sức mạnh để nhìn nhận thấu đáo bản chất của thế giới, tự giải thoát khỏi mọi ràng buộc và luôn giữ sự an lạc trong nội tâm. Tâm thức (Psyche) là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp dùng để chỉ toàn bộ tâm trí con người, cả phần ý thức, tiềm thức và vô thức.

Nói tâm thức thiền trong thơ Văn Đắc là muốn nhấn mạnh đến các khía cạnh của đời sống bên trong, bao gồm trí tuệ, cảm xúc, thái độ... mang tính thiền của nhà thơ được trình hiện trong thế giới nghệ thuật của ông.

Tôi không hiểu Văn Đắc đã tìm đọc sách nhà Phật hoặc tham gia các hoạt động thiền của Phật giáo hay chưa, nhưng từ những gì ông viết, tôi nhận thấy rõ căn tính này. Ảnh hưởng của Phật giáo vào thơ ông không phải ở từ ngữ, hình ảnh, âm thanh… của nhà Phật. Nó thể hiện ở chiều sâu, cũng là tinh thần cốt lõi của hoạt động tu hành Phật giáo: tâm thức thiền. Đó là sức mạnh của trí tuệ và mĩ cảm giúp nhìn thấu bản chất của sự vật, là sự “tự nhiên nhi nhiên” trong cảm xúc thẩm mĩ để giao hòa với thế giới, là thái độ an lạc, tự giải thoát khỏi những ràng buộc bằng sức mạnh của tuệ giác. Bài thơ Một mình ông viết: Muốn tìm vài vuông đất thôi/ Không đi xa để ngồi chơi một mình/ Bao nhiêu hoa cỏ thơm lành/ Đan vào sợi tóc là thành mái che/ Một mình ngồi kể chuyện quê/ Ngổn ngang mây trắng bay về cửa sông. Tuy không phải là bài hay nhất trong toàn bộ túi thơ Văn Đắc, nhưng bài thơ hé lộ một suy nghĩ, đúng hơn là một tư thế - tư thế của người đã trải qua nhiều thăng trầm của đời người và dâu bể cuộc đời, cần một khoảng tĩnh lặng để cảm nhận và tận hưởng trọn vẹn nhất hương vị cuộc đời, để được quay về với bản lai diện mục của chính mình. Đó cũng chính là tư thế làm nên một nét phong cách thơ Văn Đắc.

Phát hiện sâu sắc về bản chất của đối tượng

Bắt đầu làm thơ từ những năm 1960, Văn Đắc cũng như nhiều thi sĩ khác đã chứng kiến những năm tháng đất nước đau thương vì chiến tranh. Tuy vậy, khác với nhiều người, ông không chú trọng làm nổi bật sự tàn phá, hủy diệt của bom đạn. Nghĩa là, ông không quan sát sự việc ở biểu hiện bên ngoài, mặc dù ở đó chất thơ vẫn có thể hiện diện trong sự cao cả, vĩ đại, vượt lên nghịch cảnh. Ông phát hiện chất thơ ngay trong cái bình dị, nhỏ bé, thậm chí, giữa hoang tàn, đổ nát:

Cây mơ mới bứng trồng

Nhờ cành bom Mĩ chặt

Bật sáng những mầm xanh

Chiếc chum vỡ mới kê đựng nước

Nhớ mặt giếng xây thao thức một vầng trăng

(Làng sơ tán)

Hay:

Anh bước lạc giữa lòng sâu thành phố

Mưa chiều qua còn đọng nước ổ gà

Chua me đất mọc len vào gạch vỡ

Những khuy hoa năm cánh nở mơ màng

(Em ơi, thành phố)

Những “mầm xanh” của cây mơ “bật sáng” hay những “khuy hoa năm cánh nở mơ màng” của cây me đất không chỉ là sự đâm chồi nảy lộc, là ánh sáng của sự sống mới giữa nơi hủy diệt, chết chóc; mà còn là biểu tượng của sức sống bất diệt không gì ngăn cản nổi - sức mạnh được hình dung từ tâm hồn yêu cái đẹp, trân trọng cái đẹp. Đến lượt mình, sự hiện hữu của cái đẹp, dù nhỏ bé, vẫn có sức động viên mạnh mẽ đối với con người. Văn Đắc thường nhìn hệ lụy chiến tranh và cuộc sống hậu chiến theo cách đó. Đó chính là sự rèn luyện tâm trí để có thể nhìn rõ bản chất của sự sống, quy luật của lịch sử, và trên tất cả, là niềm tin vào chính nghĩa, vào sự thiện lành.

Để có sự thấu thị, Văn Đắc thường tư duy theo chiều sâu, quan sát mọi vật từ ngọn nguồn, khởi thủy của nó. Nhìn thành phố hôm nay, ông hình dung:

Con sông thai nghén

Thai nghén mãi mới đẻ ra thành phố

Thành phố lọt lòng, trố mắt

Chờn chợn tiếng ma tiếng quỷ

Tiếng man dại cười đè lên kính vỡ

Tiếng hụt hơi gánh gồng lam lũ

Khốn khổ

(Thành phố của tôi)

Không chỉ được thai nghén từ con sông, Thành phố của tôi của Văn Đắc còn được thai nghén từ “thị xã”. Hai chữ “thị xã” ngày nay trở nên xa lạ nhưng đã thân thuộc và rất thân thương với nhiều người. Văn Đắc nhìn thấy thị xã nhiều đổi thay trong những năm đầu đổi mới: Bây giờ thị xã ồ ạt lớn/ Bà chủ rung vai giữa sạp hàng; Phố xá mỗi ngày rộng thêm ra/.../ Bước mãi mà không hết phố nhà (Thị xã). Trong cảm nhận về những thay đổi ấy, Văn Đắc dường như vẫn còn có chút tiếc nuối. Nhưng đến Thành phố của tôi, trước tốc độ chóng mặt của đô thị hóa, ông lại lão thực, thâm trầm hơn trong nhìn nhận. Từ Thị xã thời kháng chiến “ngổn ngang, khấp khểnh” với “cô bé thường ra quét lá vàng”, “ngõ phố như câu thơ dở dang” đến Thành phố của tôi với Đêm thành phố/ Nghe tiếng ống nước róc rách chảy trong tường nhà/ Vòi nước rỏ giọt đầu vú vẫn một tình yêu không giấu nổi, nhưng Văn Đắc đã phác vẽ nhiều biến thiên của thời cuộc. Thị xã bé nhỏ yên bình, thành phố là không gian chia nhỏ, đa chiều, phức tạp. Thị xã là những nét mộc mạc, chân xác; Thành phố của tôi là cái nhìn đi qua thời gian, đầy tính phúng dụ. Với nhiều người, nhất là những người sống ở nông thôn, từng trải qua gian khổ, từng rung động trước điều nhỏ bé bình dị, khi chứng kiến cảnh Thành phố khát lên cao rộng áp chân trời/ Những con đường dựng đứng/ Những mái nhà bắc cầu có thể bị sốc - những cú sốc đa giác quan. Nhưng Văn Đắc thì không, ông quan sát mọi sự thay đổi bằng một thái độ điềm tĩnh đến ngạc nhiên, bởi ông nhận rõ sự vô thường, nhận rõ quy luật của sự tiến triển.

“Tự nhiên nhi nhiên” trong giao hòa với thế giới

Trong tâm thức thiền, Văn Đắc thường không đặt con người ở vị trí trung tâm mà tôn trọng mọi sự sống. Thơ ông có nhiều bài nói về thiên nhiên: Hạt gạo, Tiếng chim sáo, Đồng cỏ, Bãi cáy... Thiên nhiên trong thơ Văn Đắc không phải chỉ là cái cớ để cảm xúc thơ xuất hiện theo dạng “tức cảnh sinh tình”. Thiên nhiên trở thành tâm điểm, thành đối tượng để nhà thơ tìm kiếm, suy tư về cái vĩnh hằng, về những điều vô thủy vô chung. Ở đó, ông phát hiện ra nhiều nghịch lí, mà cũng là chân lí: Ôi, dòng sông đêm sao mà im lặng/ Ta xuống với sông khoát vòng nước sáng/ Mới biết dòng sông chảy mạnh vô cùng/ Mới biết đất này tất cả những dòng sông/ Chảy mạnh vô cùng và cũng vô cùng im lặng (Dòng sông trong đêm); Biển sinh ra bao nhiêu con sóng/ Em ơi, đừng nói sóng bạc đầu/ Biển nghìn đời, biển có già đâu (Biển xanh)...

Tình cảm của tác giả dành cho đất, cho nước, cho cỏ, cho hoa, cho lúa, cho dòng sông, cho biển, cho rừng… không phải là thứ tình yêu của chủ thể với một thứ khách thể vô tri. Ông hình dung vạn vật đều có đời sống của nó, chỉ là con người có đủ sâu sắc để hiểu hay không. Bởi vậy, ông ngắm, ông nhìn, ông hồi cố, ông suy nghĩ, ông băn khoăn, ông tưởng tượng…, nghĩa là ông huy động mọi giác quan để đời cây được tái hiện rõ nhất: Không biết ai trồng hay cây lớn tự nhiên/…/ Cây già rồi sao lá vẫn màu xanh/…/ Tôi biết cây gạo già từ độ biết chơi hoa/…/ Chừng như cây nhường sức lớn cho đời (Cây gạo già). Và khi cây gạo bị tàn phá bởi bom Mĩ, ta nghe rõ ở ông cảm giác rụng rời: Ôi, cây gạo già vượt bao mùa gió lửa/ Đến hôm nay bom Mĩ chặt ngang người/ Cây gạo ngã, hoa như là máu đổ (Cây gạo già). Nhưng kết thúc bài thơ, bằng cái nhìn tuệ giác, ông đã thấy một kiếp luân hồi, một sự tái sinh: Rồi những ngày qua, những tháng qua/ Đất lại giục những mùa xuân đến/ Tôi mới rõ cây gạo già vẫn lớn/ Từ lòng cây vụt dậy những chồi nghiêng (Cây gạo già). Ở nông trường, ông thấy đồng cỏ hiện diện, gắn bó như một phần sự sống nơi đây: Cỏ cũng phập phồng hơi thở/ Trong vô cùng của đất rễ lo toan (Đồng cỏ). Bước chân đến cửa rừng vào đêm, trước giấc ngủ say sưa của rừng, ông như muốn cả tiếng cười cũng nên nhỏ lại: Dưới xuôi có tiếng ai cười/ Mà nghe động cánh chim trời đâu đây/ Một vùng trời đất ngủ say/ Trăng vơi ngủ với hồ đầy Cát Vân (Rừng ngủ). Có khi, Văn Đắc sẻ chia với cây như với một người tri kỉ tự thuở nào (Hoa lộc vừng). Yêu cây, tôn trọng tự nhiên là biểu hiện quan trọng của đạo đức sinh thái. Đó cũng chính là tinh thần từ bi vô lượng, là sự giác ngộ sâu sắc về giá trị sự sống mà ở trạng thái thiền, bằng sự chiêm nghiệm, suy ngẫm, người ta mới có thể đạt tới. Với Văn Đắc, thiên nhiên không chỉ là nguồn cảm hứng, mà còn là liệu pháp chữa lành và thanh lọc tâm hồn để hướng tới những điều chân thiện nhất. Bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ dường như đang cuốn con người vào vòng xoáy của đời sống thực dụng và chủ nghĩa tiêu dùng. Thơ Văn Đắc hiện diện như lời nhắc nhở về thái độ sống từ tốn, an hòa, tôn trọng vạn vật, rất cần thiết với hôm nay.

Cũng bởi lòng từ bi và tâm thế “tự nhiên nhi nhiên” trong cảm xúc thẩm mĩ, Văn Đắc thấu hiểu và sẻ chia với nhiều cảnh ngộ, nhất là những số phận không may mắn về tình cảm: một người con gái lỡ thì (Muộn màng), một người dì tái giá (Dì tôi), một người từng là tâm điểm thời thanh xuân đến tuổi già trở nên cô đơn, cô độc (Thân gái), một làng con gái với nhiều cảnh éo le: Khi vui ngón trỏ vẽ vời/ Khi buồn ngón ngắn, ngón dài tựa nhau (Làng con gái). Cả một tình cảm không chính danh cũng được ông chia sẻ và thấu hiểu tận cùng (Em xin chị). Thậm chí, hòn đá vọng phu, tưởng vô tri, cũng gợi nên ở nhà thơ sự đồng cảm: Giữa một trời cô độc/ Lẳng lơ đá không chồng (Đá không chồng). Qua những bài thơ như vậy, Văn Đắc cho thấy khả năng dồi dào trong việc biểu đạt nỗi cô đơn, trống trải, thiếu vắng và khao khát thầm kín, mãnh liệt của người phụ nữ. Từ khả năng đó, ông cũng sáng tạo nhiều bài thơ tình đặc sắc, xứng đáng được đưa vào bất kì tập thơ tình tuyển chọn nào của nền thơ hiện đại Việt Nam. Văn Đắc quan niệm rất tiến bộ về tình yêu. Ông không ngần ngại nói chuyện thân xác, thậm chí, có nhiều biểu đạt về cơ thể và các mối quan hệ gối chăn, xúc giác. Tuy vậy, bằng khả năng biểu đạt lão luyện, thơ tình Văn Đắc không rơi vào câu chuyện thân xác thuần túy, thông tục mà kín đáo, tình tứ, giàu tính thẩm mĩ. Các bài Màu nhiệm, Giải thoát, Em đến, Em đã đến, Cảm ơn, Thoáng hiện, Trăng… cho thấy một Văn Đắc đa tình, phong tình, rất say đắm và lãng mạn trong tình yêu. Thi sĩ đến với tình yêu bằng tất cả con người mình. Ngược lại, tình yêu cũng mang đến cho ông nhiều thăng hoa cảm xúc mãnh liệt. Thơ tình Văn Đắc không chỉ là sự giác ngộ sâu sắc về tình yêu, về lẽ đời; mà còn thể hiện khát vọng yêu đương tha thiết, mãnh liệt của nhà thơ.

An lạc, tự giải thoát khỏi những ràng buộc bằng sức mạnh của tuệ giác

Hiểu đời và hiểu rõ mình, Văn Đắc nhiều lúc lấy mình làm đối tượng để hài hước, bông đùa. Nhưng ngay trong giọng bông đùa, ta vẫn thấy một chân dung người thơ rất thâm hậu:

Lắm lúc tôi đi rối rít với đường làng

Bọn trẻ hò reo: A, ông Đắc. Ông Đắc

Lắm lúc tôi im lì như đống rơm

Cứ óng ả với trăng vàng, trăng bạc

Có cụ già vò tôi ra tâm sự

Đến bây giờ hương lúa vẫn còn bay

...

Bọn trẻ lớn lên, cụ già đi vãn hết

Có con chim nhớ mùa, tìm hạt

Nhận ra tôi ngơ ngác lá trong vườn

(Làng ơi)

Tình cảnh của nhà thơ tuy không giống Hạ Tri Chương đời Đường trong Hồi hương ngẫu thư, nhưng cảm giác lạc lõng, cô đơn tuổi xế chiều giữa quê hương thì có sự đồng điệu. Trong tiếng cười nhẹ nhàng, ta cảm nhận được chiều dài của thời gian đời người với thắm thiết tình đời và sự gắn bó nặng sâu cùng quê hương xứ sở. Với Văn Đắc, dù đi đâu, gặp ai, ngắm cảnh gì, thì những người thân như mẹ, em, con, dì, người hàng xóm… và quê hương xứ Thanh với làng Yên Vực, núi Ngọc, núi Rồng, cửa Thần Phù, dòng sông Mã, Thành Nhà Hồ… vẫn mãi gắn bó như máu thịt. Ông vẫn Đứng ở chiều Phan Rang/ Mà nhớ về Thanh Hóa (Ở Phan Rang gặp bạn), vẫn luôn tự hào “tôi người Thanh Hóa” với Cái khuôn đúc sẵn của trời/ Đã xoay đủ cách vẫn trồi tôi ra. Sự bất biến về bản chất, cốt cách của một người phải chăng cũng hình thành chính trong tinh thần kiên trường rèn luyện thân tâm, để ngày càng trở nên rắn rỏi và mạnh mẽ.

Nhờ rèn luyện được tâm an định, giữ vững cốt cách con người trước mọi sự đổi thay, kể cả sóng gió, Văn Đắc luôn có được thái độ hết sức điềm tĩnh trong nhìn nhận/quán chiếu thế giới xung quanh. Vậy nên, khi nhìn thấy “những biệt thự vừa nhập tịch vào đô thị”, ông vui vẻ “dừng lại ngắm nhìn” (Ngọn gió đồng quê). Trong khoảnh khắc, nhiều mâu thuẫn, xung đột “diễn ra” và đã lần lượt được giải quyết: từ chỗ trong đầu hiện ra nhiều câu hỏi và những cuộc “tranh cãi rắc rối” đến chỗ “cái đầu đa sự cứng cỏi của tôi mềm xuống, mê đắm mơ màng” sau khi nghe chủ nhà giải thích về nguồn gốc bụi hoa găng, lồng chim chào mào mỏ vàng, mùi ổi chín; từ chỗ “ông chủ đang tuổi trung niên vồn vã mời tôi vào” và đưa đi thăm nhiều vẻ đẹp khác lạ đến “bỗng, có tiếng khóc rất to… thì ra đó là tiếng kêu cứu chạy lũ trong chiếc tivi hiện đại”, ông chủ vội tắt ti vi, “bất thần, tôi đứng dậy, chào ông ra về”; từ chỗ “tôi bị bóng mát của ngôi biệt thự quyến rũ, đánh úp” đến “tôi đi trong phố như đi trong ngọn gió đồng quê mang tiếng chim và hương mùa ổi chín” (Ngọn gió đồng quê). Diễn biến chồng nối của các xung đột khiến bài thơ trở nên đầy kịch tính. Nhưng phía sau vẻ gay cấn bề mặt, ta nhận thấy nhiều Phật tính ở bề sâu. Phật tính được thể hiện trong những từ ngữ hài hước, dí dỏm biểu đạt sự điềm nhiên, nhẹ nhõm như: “dừng lại ngắm nhìn”, “tranh cãi rắc rối”, “cái đầu đa sự cứng cỏi của tôi”, “đám sen thoát chết”... Phật tính trong tinh thần từ bi, lòng trắc ẩn trước sự sống của tự nhiên và con người bị đe dọa. Phật tính trong thái độ khoan hòa, lắng nghe, chia sẻ..., nhưng trên hết, là sự bình thản, an nhiên, tự giải thoát khỏi những cám dỗ vật chất, thảnh thơi sống với thiên nhiên, với kí ức tuổi thơ, với phần đời sống tinh thần cao khiết của con người. Văn Đắc đã trở thành một người thơ trong tinh thần đó. Đạo Phật có câu “Kiến tính thành Phật”. Với cái nhìn thấu suốt về bản chất cuộc sống và về chính mình, Văn Đắc như đã vượt lên cái “tự ngã”, vượt lên mọi sự biến động vô thường để đạt tới cái “siêu ngã” - cái ngã mang tinh thần “vô úy”.

Nhìn chung, có một tâm thức thiền xuyên suốt các chặng đường sáng tác thơ của Văn Đắc. Nếu ở chặng đầu là tình yêu thiên nhiên, là cái nhìn bình tĩnh, lạc quan trong hoàn cảnh chiến tranh, thì càng về sau, tâm thức thiền càng thể hiện ở chiều sâu với nhiều biểu hiện đa dạng. Thay đổi về tư tưởng khiến thơ Văn Đắc cũng dần chuyển từ bút pháp lãng mạn sang tượng trưng. Nhạc tính và khả năng cảm nhận, biểu đạt những khía cạnh nội tâm bằng nhiều giác quan làm cho thế giới nghệ thuật của Văn Đắc ngày càng phong phú, sâu sắc và hấp dẫn. Nơi ông, tâm thức thiền được hình thành từ sự lắng nghe và thấu hiểu, từ sự rèn đúc trí lực và cảm xúc để vượt lên những giới hạn của chính mình và mọi sự chi phối. Và nếu nói thơ là người, thì điều đó cũng phù hợp với con người ông như tôi thấy. Văn Đắc ít nói, hay cười, cái cười hồn nhiên của một thi nhân đã đi qua nhiều thăng trầm, hạnh phúc được trở về thời thơ ấu của đời người.

L.T.A

1. Văn Đắc (2024), Văn Đắc tuyển tập, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)