. NGÔ VĨNH BÌNH
Thế là tác giả Tuổi thơ im lặng - giải thưởng NXB Hội Nhà văn 1985, đã ra người thiên cổ được 15 năm. Ông mất ngày 29 tháng giêng năm 1993 tại thành phố Hải Phòng.
Hôm đưa ông rời "nhà số 4" (Trụ sở Toà soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 4- Lý Nam Đế- Hà Nội) - nơi ông đã gắn bó cả chục năm trời với những buồn vui, say tỉnh; nơi ông đã ngồi viết những vần thơ lạ lẫm, hồn nhiên cùng những trang văn đầy xúc động về một tuổi thơ, một quê hương lầm than nhưng vô cùng yêu dấu của ông, để về nghỉ hưu, ông rất vui. Ông bảo, hưu thì cũng vẫn phải viết, ở đâu nhà văn cũng vẫn phải viết, không viết thì sao gọi là nhà văn... ! Ông vốn là một người đa cảm, dễ vui mà cũng dễ buồn, say đấy mà tỉnh đấy, cười đấy mà khóc đấy.

Hôm Duy Khán mất, hôm tác giả Tuổi thơ im lặng ra đi trong im lặng rất ít bạn bè hay tin vì thế khi được tin ai cũng lấy làm đột ngột, bàng hoàng và không cầm được nước mắt, thương lắm!. Tôi biết ông còn lắm duyên nợ với văn chương. Trước khi giã biệt bè bạn, vợ con, Duy Khán còn hy vọng tập truyện ký viết về Trường Sa của ông sẽ được xuất bản và tiếp theo Tuổi thơ im lặng sẽ là một tuổi thơ khác không dữ dội nhưng cũng chẳng thể... lặng im - ông bảo vậy.
Nghĩ tới Duy Khán, tôi lại nghĩ tới căn buồng làm việc của ông ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Bây giờ thì căn buồng ấy đã không còn, nhưng những kỷ niệm về nó và chủ nhân một thời của nó thì chẳng thể mờ phai trong tâm trí bạn bè, nhất là các bạn văn ở "phố nhà binh", những người yêu thơ, yêu Duy Khán. Ấy là một buồng xép, rộng 6 mét vuông (vừa đủ kê một chiếc giường đơn dài 2m, rộng 1m, một bộ bàn ghế nhỏ và rải một chiếc chiếu) ở gác 2 - nhà số 4 Lý Nam Đế, Hà Nội. Căn buồng này là nơi nhà thơ Duy Khán đã sống, đã "ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân" cả chục năm ròng; đã say, đã tỉnh và đã viết những trang văn để đời, trong đó có Tuổi thơ im lặng. Cũng chính tại căn buồng này nhà thơ Phạm Tiến Duật đã đề thơ tặng Duy Khán khi đến thăm bạn mới từ quần đảo Trường Sa về. Bài thơ đó như sau:
Một nhà thơ đi sáu nghìn cây số biển
Về ở căn buồng sáu mét vuông
Một ngày đôi chén rượu suông
Văn chương đầy ắp căn buồng con con
Riêng tôi, tôi về Văn nghệ Quân đội muộn nhưng may mắn được ở cạnh phòng ông. Như thường lệ, mỗi sáng ông hay sang gõ cửa phòng tôi mời sang uống trà và thông báo cho tôi biết rằng đêm trước ông đã viết được gì. Khi thì bài thơ, khi thì mẩu chuyện, có khi chỉ là một ý tưởng, một tứ thơ (rất lạ là chỉ nghe tiếng chân bước lên thang gác ông cũng biết là tôi đã tới)
Trà ông pha rất ngon (ông không nói pha trà mà bảo hoà chè) và được rót ra những chiếc chén men da lươn nhỏ xíu. Ông bảo, uống trà không nên uống lấy được, uống thế là tục! Thường thì nơi ở của các thi sĩ rất bề bộn và luộm thuộm, trái lại phòng Duy Khán rất ngăn nắp gọn gàng. Nét tuỳ tiện duy nhất mà tôi thấy được ấy là mấy con số nhà thơ viết lên tường. Có thể đấy là những ngày tháng đáng ghi nhớ, phải nhớ của ông; cũng có thể là số tiền ông nợ bè bạn, bè bạn nợ ông hoặc là số gạo chưa đong, số tem phiếu còn hạn...
Những chuyện tôi thấy, tôi nghe kể về Duy Khán nhiều lắm, chuyện nào cũng như giai thoại, nghe xong vừa buồn cười vừa thương đến trào nước mắt. Ví như chuyện một đêm mưa thương bác xích lô, ông về nhà lấy cả áo mưa quân trang đem tặng; hay như một đêm uống say quên đường về, hỏi đồng chí công an tên phố không hỏi lại hỏi tên mình, sau khi người ta phân bua rằng, mới về địa bàn, rằng "Duy Khán chắc là phố nhỏ"? đã lẩm bẩm mắng lại: "Duy Khán mà là phố nhỏ?"; và có một lần đèo bạn thơ bằng Honda sơ ý lao lên hè đâm vào gốc cây, thương cây đã bỏ mặc xe, mặc bạn khóc mà rằng: "Thiên nhiên ơi ta yêu người hơn máy móc!"… Còn nhớ, hồi ông viết tập Tuổi thơ im lặng, ông rất vui. Nhà thơ Trần Vũ Mai biên tập viên NXB Tác phẩm mới (nay là NXB Hội Nhà văn) động viên, cổ vũ ông rất nhiều. Bản thảo ông viết trên mặt sau của tập giấy hóa đơn bán hàng dài như vở tập viết của học sinh lớp 1. Chữ ông cũng to, rõ ràng và nắn nót như chữ học sinh. Ông bảo ông viết tập sách mỏng này là gan ruột của ông để tặng quê hương, tặng các con ông là Khánh, Khoa và Khải, tặng các bạn nhỏ, đặc biệt là để tặng những ai đã từng nghèo khó. Là thế nên Tuổi thơ im lặng là tập sách buồn nhiều hơn vui. Ấy là cái buồn của một xóm quê nghèo, một cuộc đời nghèo những năm xưa cũ.
Đó là chuyện Chôn rau cắt rốn, chuyện Bà nội, chuyện Chú mõ, chuyện thằng ăn trộm, hoa bướm, chuyện cái cò cái vạc cái nông, con vàng con vện... Dù là chuyện người chuyện vật đều thương lắm!
Lao xao trong sách Ngữ văn lớp 6 tập 2 là một truyện nhỏ trong những truyện nhỏ được trích từ Tuổi thơ im lặng. Đó thực sự là bức tranh quê một ngày hè rất sinh động với đủ sắc màu, âm thanh; thật quê, thật xưa nhưng mà gần gũi với trẻ nhỏ. Ấy là một thế giới thần tiên đầy hoa thơm (cả làng thơm vì hương của các loài hoa), đầy tiếng chim (bồ các, sáo sậu, tu hú, chim ngói, chèo bẻo, chào mào liếu điếu... cả quạ và diều hâu- khi chúng lên tiếng là giời đất bình yên) và tiếng ca của trẻ nhỏ (những bài đồng dao-toàn chuyện trẻ con). Lao xao, "ngày lao xao, đêm cũng lao xao. Cả làng xóm hình như không ai ngủ, cùng thức với giời, với đất. Tôi khát khao thầm ước: mùa hè nào cũng được như mùa hè này!". Khát khao, mong ước của nhà thơ cũng là khát khao mong đợi của tuổi nhỏ hôm qua, hôm nay và mãi mãi.
Viết xong mỗi truyện nhỏ của Tuổi thơ im lặng dường như ông vui hơn, hoạt hơn và uống cũng nhiều hơn. Những lúc say, ông bảo cuốn sách này là "đứa con ngoài kế hoạch" của ông! Đứa con "ngoài kế hoạch" chẳng ngờ dăm năm sau đó chào đời lại được hoan nghênh nhiệt liệt. Tôi nhớ bấy giờ không có một tờ báo nào có trang "Văn hóa - văn nghệ" lại không có bài về "Tuổi thơ im lặng". Nhà thơ Đỗ Trung Lai, công tác ở báo Quân đội nhân dân gọi tập sách là "Văn chiêu hồn" của một thời, của một vùng. Duy Khán khoái lắm. Ông nói, "kinh thật, chẳng rõ sức mạnh nào lại có thể giúp ông và đồng bào ông vượt qua được cái thời khổ đau ấy".
Sau khi cho xuất bản Tuổi thơ im lặng, người ta gọi Duy Khán là nhà văn nhiều hơn là nhà thơ. Một đồng nghiệp bậc đàn anh của Duy Khán phát biểu: "Chỉ bằng Tuổi thơ im lặng thôi, Duy Khán cũng có thể đứng vững trên văn đàn của văn học hiện đại nước nhà", ngẫm ra đúng vậy. Ông đã có tới bốn tập thơ, vào nghề văn cũng bằng thơ, vậy mà lại "làm bàn" ở văn xuôi!
Công bằng mà nói, với ba tập thơ Trận mới, Một tiếng xamakhi (in chung với Phạm Ngọc Cảnh), Tâm sự người đi, Duy Khán cũng có chỗ đứng nhất định trên thi đàn những năm trong và sau chiến tranh chống Mỹ, trong đó có những bài, những câu lạ lùng, lấp lánh bởi chất hồn nhiên. Chẳng hạn như khi đến Lạng Sơn anh viết:
Tôi đến đây như là ung dung
Ngỡ ngàng vui khi gặp đất đầu cùng
Và vào Cà Mau viết tiếp:
Có bao giờ gặp gỡ thế chăng?
Đường về nhà em qua cầu bằng đước
Chỉ đôi cây mà vẫn xênh xang
Dắt tay nhau nhịp nhàng
Hay:
Đất Mường Khương đâu phải của chúng mày
Ta đứng thì mát ta ngồi thì say...
Ấy là tuổi thơ "nghĩ gì viết nấy", không bài trí, không "làm hàng”, dây cà dây muống, nhưng đọc kỹ thấy có hồn, có lòng và đôi khi lóe sáng như một sự linh diệu. Sự lóe sáng, linh diệu ta gặp ở bài Chợ chiều - một bài thơ, theo tôi là hay nhất của thơ Duy Khán.
Bây giờ thì tác giả Chợ chiều và Tuổi thơ im lặng đã đi vào cõi lặng im, đã ra người thiên cổ!. Cái căn buồng con con đầy ắp văn chương ngày nào và ngay cả chủ nhân của nó nay đều đã không còn, nhưng Tuổi thơ im lặng chưa hề im lặng và Biển thức vẫn thức, vẫn chờ... !
Nhớ anh, nhớ những kỷ niệm về căn buồng 6 mét vuông của anh năm nào lại càng tiếc cho Biển thức- tập bút ký của Duy Khán viết về chuyến đi Trường Sa của ông mà tôi đã được đọc; ấy là một tập bản thảo viết tay trên thếp giấy khổ 5 hào 2 để ngang giống như cuốn sổ của dân kế toán thời bấy giờ. Biển thức kể lại cuộc hành trình ra quần đảo Trường Sa của một nhà thơ với tất cả những gì đã thấy cùng những cảm xúc lạ lùng và với một tình yêu quê hương tưởng như không có bờ có bến...Không hiểu tập bản thảo ấy giờ phiêu bạt nơi nào, còn chăng hay đã đi cùng tác giả của nó về cõi vô biên?
Tôi viết những dòng kỷ niệm nhớ về nhà thơ Duy Khán cũng như là một lời nhắn tìm tập Biển thức của ông với hy vọng một ngày nào đó sẽ tìm thấy, sẽ được xuất bản hoặc chí ít cũng được đưa vào bảo tàng của Hội Nhà văn như một di cảo của một nhà thơ hiện đại.
Thập Tam trại, mùa hè 2008
NGÔ VĨNH BÌNH
VNQD