Căn tính dân tộc và toàn cầu hóa trong sáng tạo văn học

Thứ Hai, 23/12/2019 09:25

.MAI VĂN PHẤN

Văn hóa các dân tộc vốn rất đa dạng, thậm chí khác biệt. Trong kỉ nguyên toàn cầu hóa, có hai xu hướng đặt ra: một là, đồng bộ hóa văn hóa, hướng tới nhất thể hóa văn hóa toàn cầu; hai là, đa dạng hóa văn hóa dưới nhãn quan mới. Cả hai xu hướng này đã và đang phát triển, tiếp biến, và cả dung hòa lẫn nhau tùy theo sự vận động của dòng chảy văn hóa mỗi dân tộc, vùng miền. Vậy sự phát triển và tiếp biến của hai xu hướng trên được thể hiện thế nào trong sáng tạo văn học? Quá trình vận động và biến đổi của nó có nằm trong tổng quan phát triển văn hóa, khoa học kĩ thuật, xã hội nói chung? Từ quan niệm thẩm mĩ và kinh nghiệm cá nhân, tôi xin nêu vài ý kiến nhỏ về vấn đề căn tính dân tộc và toàn cầu hóa văn hóa trong sáng tạo văn học hiện nay.

Trước hết, khái niệm căn tính dân tộc trong bài viết này nhằm đề cập những giá trị cốt lõi, tính chất, gốc rễ dân tộc của một nhà văn trong quá trình sáng tạo, hơn là đi sâu khảo sát bản sắc dân tộc của anh ta. Bởi bản sắc dân tộc, ngoài ý nghĩa hạt nhân, đặc tính, còn bao hàm cả sắc thái, cái biểu hiện ra bên ngoài bản chất sự vật.

Diễn tiến của văn hóa toàn cầu trong thế kỉ XX cho thấy, xu hướng phương Tây hóa xuất phát từ một số trung tâm văn minh châu Âu được lan truyền sang châu Á và khắp các châu lục. Cùng với văn hóa, sự phát triển của khoa học tự nhiên và kĩ thuật, mô hình xã hội dân chủ, quyền con người, bao gồm cả quyền chính trị, quyền dân sự và quyền xã hội của một số nước phương Tây đã làm thay đổi đời sống, thể chế của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước Đông Nam Á. Nhìn xa hơn, quá trình truyền bá Kitô giáo chính là một dẫn chứng cụ thể và sinh động về sự lan truyền văn hóa thông qua nhân đức tin. Nó thực sự đã làm thay đổi văn hóa vật chất và tinh thần của nhiều dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Sự thay đổi này được thể hiện rõ nét trong kiến trúc, trong việc làm phong phú thêm ngôn ngữ và phong tục tập quán. Và, đời sống tâm linh của một số quốc gia châu Á, trong đó có đạo Phật cũng được lan truyền sang các nước phương Tây, tạo nên một xu hướng tìm về phương Đông, khám phá những bí ẩn của thế giới tâm linh.

Trong lĩnh vực nghệ thuật, từ đầu thế kỉ XX đến nay đã bùng nổ những cuộc cách mạng từ một số nước châu Âu và Nam Mĩ. Sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại và nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác đã làm thay đổi đời sống tinh thần của nhân loại. Các xu hướng nghệ thuật này khi được thâu nạp vào mỗi quốc gia thường được bản địa hóa từ nội dung đến hình thức biểu hiện, mang một diện mạo khác. Tôi xin dẫn chứng về sự phát triển và biến đổi của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ ca. Nhà thơ Charles Baudelaire (1821-1867, Pháp) quan niệm con người và vũ trụ là một thể thống nhất và ràng buộc bởi những mối liên hệ huyền bí, mơ hồ. Từ thơ của Charles Baudelaire, khuynh hướng tượng trưng được lan truyền và biến thiên sang thơ của Oscar Wilde, William Butler Yeats (Anh), Rainer Maria Rike (Đức), Rubin Dario, Juan Ramin Jiminez (Tây Ban Nha)… Nhưng, khi chủ nghĩa tượng trưng được truyền đến nhà thơ Mĩ gốc Anh Thomas Stern Eliot (1888 - 1965) thì bài thơ dài Đất hoang (The Waste Land) của ông, theo đánh giá của nhà phê bình văn học Anh Andrew Motion là “một trong những bài thơ quan trọng nhất của thế kỉ XX”, đã cho thấy rõ những khác biệt. So với bản Tuyên ngôn tượng trưng của Jean Moreas (9/1886) ở Pháp, ta thấy, thơ của T.S.Eliot đã mang một sắc thái khác, bung rã, huyền hoặc hơn so với các nhà thơ tiền khởi của khuynh hướng này.

Quá trình phát triển và tiếp biến của văn học, đặc biệt thơ ca, cũng như kết quả của quá trình bản địa hóa các tôn giáo cho thấy, căn tính dân tộc chính là giá trị căn bản làm nên bản sắc riêng của mỗi tác giả trong sáng tạo văn học. Nó cũng chính là căn nguyên cho sự khác biệt, làm giàu có thêm đời sống tinh thần của con người.

Căn tính dân tộc nằm trong mỗi cá thể của cộng đồng, được hình thành và phát triển từ trong lòng mẹ, trong quá trình lớn lên và nhận thức về thế giới xung quanh, trong sự rèn luyện và tích lũy để hình thành tư duy, lối sống, lí tưởng thẩm mĩ… Tác phẩm của mỗi nhà văn được ra đời từ ý thức, tiền ý thức và vô thức của anh ta. Quá trình sáng tạo chính là cuộc truy đuổi giấc mơ bằng ngôn ngữ trong thế giới riêng biệt của nhà văn đó. Nhà phân tâm học người Áo Sigmund Freud (1856-1939) đã viết: “Các nhà văn sáng tạo là những đồng minh quý báu của chúng ta, và các bằng chứng của họ được đánh giá cao, bởi lẽ giữa lưng chừng trời họ biết được nhiều điều mà những triết lí của chúng ta không dám mơ tới”.

Vậy điều gì làm nên giấc mơ cho một nhà văn? Đó chính là tập đại thành các giá trị đặc trưng văn hoá được định hình và phát triển trong đời sống của nhà văn đó. Đời sống ấy chính là những lời ru của mẹ mà thuở ấu thơ anh ta được ấp ủ, là những câu chuyện lịch sử và truyền thuyết, những câu phương ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca mà anh ta đã lấy làm lòng, đến những phong tục tập quán mà anh ta biết được khi trưởng thành… Tất cả đó cùng với những tháng năm sống và sáng tạo mà nhà văn ấy tích lũy và trải nghiệm làm nên nền tảng văn hóa, căn tính dân tộc của anh ta. Căn tính ấy thể hiện những nét độc đáo mà tác giả ở những dân tộc khác không thể có. Có thể nói, căn tính dân tộc cho phép chúng ta nhận diện bản sắc văn hoá, tầm vóc của từng dân tộc, nhận ra diện mạo của từng nhà văn trong hành trình sáng tạo.

Nhưng nói tới căn tính dân tộc là nói tới tính hai mặt của nó, những giá trị cốt lõi và những giá trị tiếp biến. Những giá trị cốt lõi bao gồm những giá trị bền vững, như lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, khoan dung… Những giá trị tiếp biến thể hiện trước hết ở chỗ dân tộc ấy, nghệ sĩ ấy biết loại bỏ những gì không còn phù hợp với xu thế thời đại, tiếp thu những tinh hoa từ dân tộc khác trên tinh thần sáng tạo, hướng đến vẻ đẹp mới mẻ của chân - thiện - mĩ. Những giá trị mới mẻ hôm nay sẽ dần trầm tích thành giá trị cốt lõi mai sau.

Việc đồng bộ hóa văn hóa dân tộc, hướng tới văn hóa toàn cầu là mục đích chung của các nhà văn. Căn tính dân tộc góp phần quan trọng tạo nên dấu ấn riêng độc sáng của tác phẩm. Nó thể hiện ước mơ tự do, bình đẳng và dân chủ của chính dân tộc đã sinh ra và dung dưỡng nhà văn ấy. Nhà văn mang căn tính dân tộc là người mở cửa cho cả thế giới nhìn vào không chỉ thế giới nội tâm của anh ta, mà trong đó, còn hiển thị sống động cả bức tranh lịch sử, bức tranh xã hội đương thời, những khát vọng của cả dân tộc, cộng đồng nơi anh ta đã và đang sinh sống. Nó chính là một “tấm gương” trong “nghìn tấm gương phản chiếu chúng ta” (A Thousand of Mirrors Reflecting Us(1)

 

Hải Phòng, 9/2019

M.V.P

---------

1. Chủ đề của Liên hoan nhà văn quốc tế 2019 sẽ tổ chức tại thủ đô Seoul, Hàn Quốc vào tháng 10/2019.

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nhân vật "Vườn Maria" và số phận của họ

Nhân vật "Vườn Maria" và số phận của họ

Tôi đến nước Đức được hai năm thì nước này thống nhất. Rồi tôi thất nghiệp, khi nhà máy Cộng hoà dân chủ Đức được bán cho Ấn Độ.

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)