Bác Hồ dùng truyện cổ để giáo dục cán bộ

Chủ Nhật, 04/06/2023 07:34

. NGUYỄN TUYẾT THU

 

Trong thời trung đại hầu như văn học (nhất là văn học truyền miệng) đóng vai trò cơ bản trong việc nâng cao nhận thức, tham gia giáo dục, bồi dưỡng thẩm mỹ cho con người. Các câu chuyện dân gian rất hay thường được dùng để giáo huấn đạo lý. Các nhà tư tưởng cũng thường lấy đó là phương tiện chuyển tải tư tưởng của họ. Đến thời hiện đại, Bác Hồ vẫn lấy đó làm một hình thức giáo dục, điểm đặc biệt là Bác hay dùng những câu chuyện có màu sắc Nho giáo để căn dặn, nhắc nhở cán bộ.

Một câu chuyện ngụ ngôn cổ Trung Quốc có tên “Bạt miêu trợ trưởng”, nghĩa là nhấc mạ lên giúp lúa mau lớn, chỉ sự nóng vội làm hỏng việc: có anh chàng nông dân nước Tống vì muốn cho lúa của mình mau tốt bèn kéo cây lúa cao lên, kết quả là lúa chết. Trong những lời biện luận của mình Mạnh Tử đã từng sử dụng để chế giễu những người đi ngược lại quy luật biện chứng. Hồ Chí Minh dùng ngụ ngôn ấy vào mục đích giáo dục tính kiên nhẫn, chịu khó, tránh chủ quan, nóng nảy: “Nóng nảy là việc gì cũng chủ quan, không điều tra nghiên cứu kỹ lưỡng, vội vàng, muốn làm cho mau, làm ẩu. Thiếu kiên nhẫn, thiếu tinh thần chịu khó.

Như người nông dân nọ: muốn lúa mau cao mau tốt bèn nắm lúa nhổ lên!

Làm việc mà nóng nảy, thì nhất định thất bại”[1].

Lần khác, Bác mượn truyện Tây du ký để giáo dục cán bộ (ở lớp Chỉnh Đảng Trung ương khoá 1 năm 1952 tại Việt Bắc). Bác kể từ khi loài người có đầu óc tư hữu thì sinh ra nhiều thói hư tật xấu. Đường Tăng là một vị chân tu, bản chất tốt, có lòng nhân hậu, có tính khoan dung. Ông ta muốn chống áp bức, nhưng không có đường lối cách mạng dẫn đường. Tin vào sức mạnh cảm hoá của đạo Phật, nên ông tình nguyện đi lấy Kinh Phật để truyền bá. Sau 14 năm trời, tức là qua 5048 ngày đêm, thầy trò Đường Tăng vượt 18 vạn 8 ngàn dặm đường, chịu đựng 81 tai ương để lấy được 55 bộ kinh gồm 5048 quyển. Đó là pho truyện dài, đấu tranh giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa. Còn có thể tìm thấy ở Tây du ký nhiều vấn đề bổ ích nữa. Đường Tăng là một người có lập trường kiên định, có bản lĩnh, tạo được cái “bất biến” để đối phó với cái “vạn biến”.

Còn Tôn Ngộ Không vì không tu hành đạo được nên vẫn còn cái đuôi. Khi Tôn Ngộ Không biến thành cái đình thì cái đuôi ở sau phải hoá phép làm cái cột cờ. Bọn ma vương thấy lạ, tại sao cột cờ ở phía sau đình, phát hiện ra cái đuôi của Tề Thiên Đại thánh nên không bị mắc lừa, không vào đình nữa, nên mưu của họ Tôn bị thất bại. Bác nói tiếp: “Người cách mạng chúng ta nếu không tu dưỡng thì cũng có phen có cái đuôi ấy, dù nhỏ sẽ có ngày gây hậu quả khôn lường”[2]. Quả là dễ hiểu mà lại thấm thía.

Bác kể chuyện cổ để nói thời nay, ví dụ dưới đây Bác giáo dục bản lĩnh của người cán bộ cách mạng.

Với bút danh C.B, trên báo Nhân dân số 188 ngày 25, 27-5-1954 Bác Hồ viết bài báo Tuyên truyền để giáo dục bản lĩnh cán bộ, nhân dân trước mọi dư luận và nhất là cảnh giác trước mưu đồ “tuyên truyền” của kẻ thù. Tác giả mở đầu bằng một câu chuyện ngụ ngôn Trung Quốc: “Anh Tăng, học trò cụ Khổng, là một người rất đạo đức, được mọi người kính yêu. Một hôm, Tăng đi đốn củi, quá trưa mà chưa về. Một người bà con đến nói với mẹ Tăng: “Nghe nói Tăng vừa phạm tội giết người...”. Mẹ Tăng yên lặng nói: “Chắc là họ đồn nhảm. Con tôi hiền lành lắm, chắc nó không bao giờ giết người”.

Lát sau, một người khác lại nói: “Nghe nói Tăng bị bắt rồi...”.

Bà cụ Tăng bắt đầu lo sợ, nhưng vẫn bình tĩnh.

Vài phút sau, một người khác lại nói: “Nghe nói Tăng bị giải lên huyện rồi...”.

Bà cụ Tăng vất cả công việc và chạy cuống cuồng.

Không ai hiền lành bằng anh Tăng. Không ai tin tưởng anh Tăng bằng mẹ anh. Thế mà vì người đồn qua, kẻ đồn lại, dù không đúng sự thật, mẹ Tăng cũng đâm ra lo ngại, hoang mang”[3]. Tác giả bình luận một câu làm nổi bật chủ đề của ngụ ngôn: “Ảnh hưởng tuyên truyền là như thế”. Nhưng cái đích của câu chuyện là nhắc nhở cán bộ ở bất cứ hoàn cảnh nào (dù bị địch tuyên truyền xuyên tạc) cũng phải vững vàng ý chí, nêu cao bản lĩnh cách mạng để không ngả nghiêng trước bất cứ bão gió thâm độc nào của kẻ xấu.

Ngày 15-7-1950, theo Chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, Đội thanh niên xung phong công tác trung ương đầu tiên được thành lập. Tháng 9-1950, trong một lần đến thăm Liên phân đội thanh niên xung phong 321, Bác Hồ đã tặng mấy câu thơ:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên.

Ngày xưa, bên nước Tàu có câu chuyện Ngu Công dời núi, khi có người hỏi một mình ông thì làm sao xong việc, ông trả lời, đời tôi chưa xong thì đời con tôi, đời con tôi chưa xong thì đến đời cháu tôi. Dân gian coi đấy là bài học về sự quyết chí và kiên trì. Bài thơ của Bác Hồ có mối liên hệ với ý nghĩa câu chuyện trên. Có thể là còn có một ý này nữa: Đấy là ngày xưa, lại là chuyện một cụ già, còn ngày nay là thanh niên thì chuyện "đào núi và lấp biển" cũng "quyết chí ắt làm nên". Bài thơ gián tiếp một sự so sánh, một sự "khích tướng". Hiểu như vậy là vì căn cứ vào hoàn cảnh bài thơ, Liên phân đội thanh niên xung phong 321 đang nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù (thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn) nằm trên tuyến đường huyết mạch từ thị xã Bắc Cạn đi Cao Bằng, họ phải đào núi làm đường, vá đường, khắc phục sự phá hoại do máy bay địch ném bom và lũ cuốn.

Đặc biệt Hồ Chí Minh hay dùng những câu chuyện cổ, những tấm gương trong kho tàng văn hoá Trung Quốc để giáo dục cán bộ nhân dân về đạo đức cách mạng. Đây là bài học cho chúng ta về việc kế thừa những nét đạo lý truyền thống để giáo dục nhân cách con người hôm nay: “Muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày. Người xưa còn biết tu thân, mỗi buổi tối kiểm điểm mình và dùng hai cái lọ đỗ đen, đỗ trắng để ghi việc tốt việc xấu”[4]. Bài học tu thân này đã thật quen thuộc với người Việt: có người tự rèn mình bằng cách vào mỗi tối nghĩ lại trong ngày mình đã làm được việc gì tốt thì bỏ hạt đỗ trắng vào một lọ, việc gì chưa tốt thì bỏ hạt đỗ đen vào lọ kia. Cứ ngày nọ sang ngày kia cố gắng sao cho lọ có hạt đỗ trắng đầy lên. Có lẽ thành ngữ Hán Việt “tu nhân tích đức” có xuất xứ từ câu chuyện này? Câu chuyện cổ thật thích hợp với yêu cầu “cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày”.

Bác Hồ nói chuyện về hội hoạ thật thấm thía: “Vẽ rất quan trọng, Bác gần tám mươi tuổi rồi mà Bác còn nhớ hình ảnh ông Tử Lộ đội gạo nuôi mẹ trong sách giáo khoa ngày xưa. Nhân dân ta rất thích tranh vẽ, nhưng có những bức vẽ không ai hiểu gì cả. Hình như mấy chú vẽ cho mình xem chứ không phải vẽ cho quần chúng…”[5]. Ít nhất có mấy ý nghĩa sau toát ra từ ví dụ này: Một là, “Nhân dân ta rất thích tranh vẽ”, do vậy “Vẽ rất quan trọng” trong việc tuyên truyền giáo dục. Hai là nhắc nhở mọi người về “đạo hiếu”. Ba là những bức vẽ phải chân thực, giản dị, dễ hiểu, phù hợp với trình độ thưởng thức của người xem.

Đầu tháng 6-1968, Bác Hồ làm việc với Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng về việc xuất bản loại sách Người tốt việc tốt. Người nhắc nhở: “Chú có biết người xưa đã có những cách giáo dục sâu sắc như thế nào không? Chú còn nhớ những chuyện Nhị thập tứ hiếu không?

Bác gần tám mươi tuổi mà vẫn còn nhớ chuyện ông Lão Lai, vợ chồng Quách Cự, chú bé Hán Lục Tích... hiếu thảo với cha mẹ như thế nào…”[6].

Đây là bài học cho chúng ta hôm nay về việc “Học tập cách giáo dục của ông cha ta” nhưng phải gắn với hoàn cảnh của thời đại mới. Bác Hồ đã phát triển chữ “hiếu” ở ngày xưa là “chỉ có hiếu với bố mẹ”, còn ngày nay chữ “hiếu”, ngoài nghĩa gốc phải mở rộng thành “trung với nước, hiếu với dân”.

Những câu chuyện trên đây bật toát ra những bài học cho hôm nay: Một là cần đào sâu vào truyền thống, nhất là truyền thống giáo dục đạo lý để giáo dục thế hệ trẻ hôm nay. Hai là phát huy mạnh mẽ, sâu sắc hơn nữa chức năng giáo dục của văn học. Ba là, giáo dục cần được thông qua các hình tượng cụ thể, nhất là các hình tượng văn chương nghệ thuật sẽ hấp dẫn người học hơn!

N.T.T


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8. Nxb Chính trị Quốc gia 2011, tr 342.

[2] Nhiều tác giả (1999). Bác Hồ - con người và phong cách, Nxb Thanh niên, tập 4, tr 5.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8. Sđd, tr 490.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15. Sđd, tr 671.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15. Sđd, tr 666.

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15. Sđd, tr 673.

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nguyên mẫu trong hai truyện vừa đầu tay viết cho thiếu nhi của tôi

Nguyên mẫu trong hai truyện vừa đầu tay viết cho thiếu nhi của tôi

Khi viết cuốn Những tia nắng đầu tiên tôi đã hóa thân vào các em nhỏ học sinh lớp 6 của năm học 1969 - 1970 ở Hà Nội... (LÊ PHƯƠNG LIÊN)

Bà Minh của tôi

Bà Minh của tôi

Sống ở Hà Nội, trở thành một công dân có hộ khẩu đến nay đã hơn hai thập kỉ, nhưng chưa bao giờ tôi có cảm giác mình thuộc về Hà Nội... (ĐỖ BÍCH THÚY)

Đồng đội là nguyên mẫu trong các sáng tác của tôi

Đồng đội là nguyên mẫu trong các sáng tác của tôi

Có nhân vật chỉ là dáng dấp của nguyên mẫu, có nhân vật là nguyên mẫu đã sống và chiến đấu cùng tôi, suốt những năm tháng ở rừng... (VŨ NGỌC THƯ)

Hai nhân vật - một nguyên mẫu

Hai nhân vật - một nguyên mẫu

Mở cuốn “Nhật kí chiến trường” trong đó có những trang ghi chép về H, có cả địa chỉ gia đình H, tôi đã tìm đến địa chỉ ấy... (LÊ HOÀI NAM)