Mùa hạ năm 1969, tôi lên đường nhập ngũ, gác lại một tình yêu vô bờ bến với thơ văn cùng những mơ mộng viển vông của thời học sinh để kiên quyết làm một người lính chiến thực sự.
Chỉ một thời gian ngắn sau, đơn vị chúng tôi vào chiến trường.
Có một đêm trên đường vào trận, bỗng bắt gặp một tốp văn công đang đứng ngay nơi lưng núi nơi chúng tôi hành quân qua để đàn hát phục vụ chiến sỹ. Đêm thăm thẳm, chỉ le lói những vì sao, chẳng ai nhìn rõ mặt ai, mà tiếng hát bay lên biết bao thiết tha trìu mến. Bỗng một vần thơ như bản năng vang lên trong tôi: “Níu áo anh lại giữa chặng hành quân/ Là em đấy, lúc xa lại lúc gần/ Đêm tối quá chỉ nhìn ra tiếng hát…”. Đúng là đêm tối quá, chỉ nhìn ra tiếng hát thật.
Chúng tôi cứ đi bập bùng trong tiếng hát, và tiếng hát cứ bay dài theo đoàn quân, cho đến lúc tắt hẳn, chỉ còn những ngôi sao đêm vằng vặc trên đầu... Điều lạ kì là như cũng hành quân cùng tiếng hát ấy, những vần thơ cứ nối dài trong tôi, cho dù tôi đã quyết gác lại tất cả, để quyết làm một người lính chiến thực thụ…
Cho đến lúc chúng tôi đến bãi khách nơi ngã ba biên giới, thì cũng là lúc bài thơ hoàn thành. Tôi bấm đèn pin chép vội ra một tờ giấy, rồi cho vào một phong bì và đề gửi về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 4, Lý Nam Đế, Hà Nội. Trước lúc nhập ngũ, tôi đã có thơ in ở báo Văn nghệ, báo Tiền phong, nhưng lại luôn mong ước nhất là được in thơ ở tạp chí văn nghệ của những người lính. Sáng hôm sau trước lúc hành quân, tôi gửi phong bì cho một đồng chí giao liên nhờ bỏ vào hòm thư gửi về Hà Nội…

Nhà thơ Châu La Việt và nhà thơ Trần Nhương (ở giữa) đến thăm Nhà số 4 - Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ảnh: TL
Ít tháng sau, tôi về chiến đấu tại Khẩu đội 3, Đại đội 11, Tiểu đoàn pháo cao xạ 11 đóng ở Bản Ban (Lào). Giữa chiến hào lửa đạn ngập trời, khi những trận bom vừa dứt, niềm vui tinh thần lớn nhất của người lính chúng tôi là những tờ báo, trang sách truyền tay nhau. Một chiều, tôi được liên lạc viên đại đội là hạ sỹ Cỏn chạy tới đưa một phong bì thư nói từ hậu phương gửi sang. Tôi nghĩ có lẽ là thư mẹ tôi viết cho con, nhưng khi bóc ra, tôi giật mình vì thấy đó là một lá thư từ Văn nghệ Quân đội, kí tên nhà thơ Xuân Sách, ông trang trọng báo tin bài thơ Em gái văn công của tôi sẽ được đăng trong tạp chí số tháng Ba tới đây. Tôi quá mừng rỡ và xúc động nhưng không dám khoe với ai, chỉ suốt đêm áp lá thư ấy vào lồng ngực và nghĩ rằng mơ ước thơ văn của tôi suốt từ tuổi ấu thơ giờ đã thành sự thật, khi tôi thành một chiến sĩ giữa mặt trận, với những vần thơ viết từ chiến hào lửa đạn.
Một buổi tối nằm trong công sự, Chính trị viên đại đội là Trinh Văn Dởn xuống thăm anh em. Bất thần tôi nổi hết gai ốc khi nghe từ chiếc đài Orionton của thủ trưởng Dởn, trong mục giới thiệu tạp chí Văn nghệ Quân đội số mới, phát thanh viên đọc tên bài thơ Em gái văn công của Châu La Việt. Muốn khoe với anh em là thơ của mình mà không dám, vì anh em ở đơn vị chỉ biết tên tôi là Lê Khánh Hoài. Và nói thật, có lẽ tôi khoe cũng chẳng ai tin, vì làm sao mà một thằng lính binh nhất như tôi lại có thể có thơ đăng ở tạp chí Văn nghệ Quân đội uy nghiêm như thế…
Lại cũng một sự tình cờ nữa. Chẳng hiểu sao ít đêm sau, Đại đội phó Hoàng Ngọc Chấp xuống ngủ cùng anh em. Ông cũng có một chiếc đài bán dẫn và rất yêu thơ, nên đến mục Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam, thủ trưởng mở to cho mọi người cùng nghe. Thêm một lần tôi lại nổi hết da gà khi chương trình giới thiệu bài thơ Em gái văn công của Châu La Việt do nghệ sĩ Linh Nhâm trình bày. Khi tiếng sáo, rồi giọng ngâm thơ ngân lên, cả căn hầm như lặng đi, ngay cả tiếng thằng OV10 trinh thám vè vè trên trời cũng câm bặt từ lúc nào... chỉ còn tiếng sáo, giọng thơ và nhịp đập con tim của những người lính giữa chiến trường. Và có lẽ nhịp tim đập mạnh nhất chính là của tôi.
Đã 50 năm. Sau này khi làm tập Mai, pi muôn (NXB Văn học) bao gồm những bài thơ, truyện ngắn tôi viết ở mặt trận, không hiểu sao tôi lại không chọn bài thơ này vào tập. Có lẽ tôi nghĩ nó cũng bình thường, không có gì đặc sắc. Thầm nghĩ có lẽ nó chỉ xứng đáng là một kỉ niệm, là bài thơ đầu mình viết khi vào mặt trận, là bài thơ đầu mình được in ở tạp chí văn nghệ của những người lính mà mình hằng ao ước mà thôi...

Nhà thơ Châu La Việt và các tác phẩm đã xuất bản của ông. Ảnh: TL
Nhưng rồi giờ đây vân vi nghĩ lại, có lẽ chưa hẳn là vậy. Nếu không có gì, tại sao ngày ấy tạp chí Văn nghệ Quân đội vốn rất khắt khe lại in cho mình, nếu không có gì tại sao lại được đưa lên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, lại do một giọng ngâm thơ nổi tiếng ngày ấy là nghệ sĩ Linh Nhâm trình bày? Nếu không có gì thì tại sao nó lại là một nhịp cầu đưa tôi đến với Văn nghê Quân đội mà tôi gắm bó mãi mãi sau này, cho đến tận bây giờ?
Và đặc biệt, nếu không có gì, tại sao đã 50 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ như in từng câu, từng chữ của bài thơ ấy?
Xin chép lại tặng bạn đọc hôm nay…
Em gái văn công
Níu áo anh giữa chặng hành quân
Là em đấy, lúc xa lại lúc gần
Đêm tối quá chỉ nhìn ra tiếng hát…
Anh chàng nào trong hàng ngũ xuýt xoa
Bấm tay nhau tiếng cười chuyền khúc khích
Anh chẳng biết em đứng gần hay xa
Chỉ tiếng hát ùa vào thân thiết…
Giọng em thanh chắc là người em thanh
Ngân cao quá -
em có gầy không đấy
Thương em nhiều qua bom rơi lửa cháy
Em gầy đi cho tiếng hát đầy hơn
Lại nghĩ về những cô gái quê anh
Cô gái quan họ giọng sắc hơn đôi mắt
Câu hát trao duyên cho lúa chín nhành
Mới nghe giọng ngân đã thấy mùa đầy hạt
Rồi một bè trầm nổi dậy giữa hàng quân
Không nhận ra nhau chỉ thấy đầy tiếng hát
Một cánh rừng bay dậy gió rung ngân
Tiếng hát ùa ra từ trăm vòm ngực
Níu áo anh rồi lại để anh đi
Như câu quan họ níu áo người đưa mắt
Anh biết lắm còn nợ em khúc hát
Phải trả cho em bằng những chiến công…
(Đường Trường Sơn 1970)
CHÂU LA VIỆT
VNQD