PGS.TS Bùi Hoài Sơn sinh năm 1975, là Đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI; hiện là đại biểu chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; đồng thời là Chuyên gia nghiên cứu, hoạch định chính sách về văn hóa, nghệ thuật, phát triển công nghiệp văn hóa, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Đứng trước những vận hội mới của đất nước, với những quyết sách quan trọng cho con đường phát triển Việt Nam trong kỉ nguyên mới trong đó có Nghị quyết số 80 - NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam do Bộ Chính trị ban hành (07/01/2026), Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã có cuộc trò chuyện với PGS.TS Bùi Hoài Sơn, để làm rõ hơn tiềm năng phát triển văn hóa - nghệ thuật, cũng như những điểm mới cùng ý nghĩa của Nghị quyết số 80 với sự phát triển văn hóa Việt Nam.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn
+ Kính chào PGS.TS Bùi Hoài Sơn! Ông là Đại biểu Quốc hội khóa XV, vừa tiếp tục trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại Thành phố Hà Nội. Tôi nghĩ, điều đó dĩ nhiên rất đáng mừng, vì cử tri tín nhiệm, vì sự đóng góp có ích của các đại biểu cho dân, cho nước. Bên cạnh đó, trách nhiệm cũng rất lớn lao, nặng nề. Ông suy nghĩ như thế nào về những trách nhiệm ấy?
- Trước hết, tôi thật sự xúc động và biết ơn sâu sắc trước sự tín nhiệm của cử tri Thủ đô Hà Nội khi tiếp tục giao cho tôi trọng trách là đại biểu Quốc hội khóa XVI. Nhưng đúng như anh nói, đi cùng niềm vinh dự ấy là một trách nhiệm rất lớn. Với tôi, trúng cử không phải là một điểm đến, mà là một lời nhắc nhở nghiêm khắc rằng mình phải sống xứng đáng hơn với lá phiếu của nhân dân, phải làm việc tận tâm hơn, sâu sát hơn, và nhất là phải biến niềm tin của cử tri thành kết quả cụ thể trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Trong bối cảnh năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tinh thần “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh càng phải trở thành phương châm hành động của mỗi đại biểu Quốc hội. Kì họp thứ nhất của Quốc hội khóa XVI cũng được xác định là kì họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ kiện toàn bộ máy lãnh đạo Nhà nước mà còn đặt nền móng thể chế cho cả nhiệm kì mới.
+ Trong tư cách là đại biểu chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, được phân công phụ trách lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; vừa là một chuyên gia nghiên cứu, hoạch định chính sách về văn hóa, nghệ thuật, phát triển công nghiệp văn hóa, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, ông đánh giá như thế nào về thế mạnh, tiềm năng của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam?
- Về thế mạnh, trước hết phải nói rằng Việt Nam có một nền tảng văn hóa rất giàu có. Chúng ta có 54 dân tộc anh em với kho tàng di sản vật thể, phi vật thể, ngôn ngữ, lễ hội, tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian và nghề thủ công truyền thống hết sức phong phú. UNESCO cũng nhìn nhận Việt Nam là quốc gia đa dạng văn hóa, giàu nghệ thuật biểu diễn, giàu truyền thống thủ công và di sản kiến trúc. Đó là một “mỏ vàng mềm” mà không phải quốc gia nào cũng có. Bên cạnh đó, chúng ta có một đội ngũ văn nghệ sĩ đông đảo, tài năng, giàu tâm huyết; có một lớp sáng tạo trẻ ngày càng năng động; có những đô thị sáng tạo như Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò trong mạng lưới sáng tạo toàn cầu. Đặc biệt, khi du lịch phục hồi mạnh, với gần 22 triệu khách quốc tế trong năm 2025, thì văn hóa, nghệ thuật càng có thêm điều kiện để trở thành một phần quan trọng trong trải nghiệm quốc gia và trong định vị hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Tôi nhìn thấy tiềm năng rất lớn của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam trong giai đoạn tới. Đóng góp của công nghiệp văn hóa là tín hiệu tích cực, dù còn cách khá xa kì vọng. Tiềm năng ấy nằm ở việc kết nối sâu hơn giữa di sản với du lịch, giữa nghệ thuật với công nghệ số, giữa sáng tạo trẻ với thị trường toàn cầu, giữa sản phẩm văn hóa với thương hiệu quốc gia. Nó cũng nằm ở khả năng xây dựng các trung tâm sáng tạo, các không gian nghệ thuật mới, các nền tảng phân phối nội dung số, và ở sự chuyển dịch từ tư duy “làm văn hóa để tồn tại” sang tư duy “làm văn hóa để phát triển, để cạnh tranh, để lan tỏa giá trị Việt Nam ra thế giới”. Điều chúng ta cần nhất lúc này là một thể chế đủ mở, một thị trường đủ mạnh và một quyết tâm đủ lớn để biến tiềm năng thành sức mạnh thật sự.
+ Thưa ông, đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam (07/01/2026). Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của Nghị quyết này trong bối cảnh văn hóa Việt Nam và thế giới hiện nay?
- Tôi cho rằng, ý nghĩa lớn nhất của NQ 80-NQ/TW (NQ 80) là ở chỗ nghị quyết này ra đời đúng vào một thời điểm có tính bước ngoặt. Đất nước ta đang bước vào kỉ nguyên phát triển mới với yêu cầu rất cao về chất lượng tăng trưởng, về sức cạnh tranh quốc gia, về xây dựng con người và khả năng giữ vững bản sắc trong một thế giới biến động rất nhanh. Trong bối cảnh ấy, văn hóa không thể tiếp tục đứng ở vị trí “đi sau” hay chỉ được xem như một lĩnh vực hỗ trợ, mà phải được đặt vào đúng tầm vóc của nó: vừa là nền tảng, vừa là động lực, vừa là sức mạnh nội sinh của phát triển. NQ 80 đã xác lập rất rõ nhận thức đó khi nhấn mạnh phát triển văn hóa, con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.
Điều rất đáng chú ý là NQ 80 không chỉ nói về văn hóa theo nghĩa truyền thống, mà đặt văn hóa vào toàn bộ tiến trình phát triển đất nước trong điều kiện mới: từ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đến cạnh tranh sức mạnh mềm giữa các quốc gia. Nói cách khác, nghị quyết này không chỉ nhằm “giữ gìn văn hóa”, mà nhằm “phát triển văn hóa” như một lĩnh vực trung tâm của chiến lược quốc gia. Chính vì vậy, ý nghĩa của NQ 80 không dừng ở phạm vi ngành văn hóa, mà mở rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bởi nghị quyết yêu cầu các giá trị văn hóa phải thấm sâu vào chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong một thế giới mà cạnh tranh ngày càng không chỉ bằng tài nguyên, vốn hay công nghệ, mà còn bằng bản sắc, giá trị và năng lực kể câu chuyện của mình với thế giới, thì đây là một định hướng rất đúng, rất trúng.
NQ 80 còn có ý nghĩa đặc biệt ở chỗ nó thể hiện một tinh thần rất tỉnh táo và hiện đại trong nhìn nhận những thách thức của thời đại. Văn hóa Việt Nam hôm nay không chỉ đứng trước nguy cơ mai một một số giá trị truyền thống, mà còn phải đối diện với thương mại hóa cực đoan, lai căng, xuống cấp trong môi trường số, sự xâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa ngoại lai, và sức ép rất lớn từ công nghệ mới. Nghị quyết không né tránh những vấn đề đó, mà đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa trong sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế, giữa bảo tồn và phát triển, giữa đời sống thực và không gian số. Chính cách tiếp cận toàn diện ấy cho thấy đây là một nghị quyết không chỉ có tính tư tưởng, mà còn có tính hành động rất rõ, rất sát với những vấn đề nóng bỏng của đời sống hiện nay.
Tôi cũng cho rằng NQ 80 mang một thông điệp rất mạnh mẽ: đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho tương lai. Khi nghị quyết đặt vấn đề xây dựng nền văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển, có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại, thì điều đó có nghĩa là chúng ta không chỉ bảo vệ cái đã có, mà còn phải tạo ra những giá trị mới, những sản phẩm mới, những con người mới, những thương hiệu văn hóa mới của Việt Nam trong thế kỉ XXI. Vì vậy, NQ 80 không chỉ có ý nghĩa như một văn kiện của riêng lĩnh vực văn hóa, mà theo tôi, đó là một bản định hướng chiến lược cho sự phát triển bền vững của đất nước, nơi văn hóa được trả về đúng vị trí của nó: linh hồn của dân tộc, chiều sâu của phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia trong kỉ nguyên mới.
+ Có thể nói, từ Đề cương Văn hóa Việt Nam (1943) có tính chất đặt nền móng, đến Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII (1998), Nghị quyết 33-NQ/TW Khóa XI (2014) và NQ 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam (2026), đó là quá trình nhận thức một cách sâu sắc, toàn diện, vừa mang tính lịch sử cụ thể, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng về vai trò, nhiệm vụ, vị trí, sức mạnh… văn hóa trong tiến trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Từ quan sát của mình, ông có thể chia sẻ một số điểm mới, có tính đột phá về quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và giải pháp phát triển văn hóa trong NQ 80-NQ/TW?
- Nếu nhìn theo chiều dài tư duy của Đảng về văn hóa, tôi cho rằng NQ 80 là một bước phát triển rất đáng chú ý, không phải theo kiểu phủ định những gì đi trước, mà là kế thừa trên một tầm cao mới. Từ Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943 với ba nguyên tắc dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa; đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 với định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; rồi Nghị quyết 33-NQ/TW năm 2014 với nhấn mạnh xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, có thể thấy mạch nhất quán là ngày càng nhận thức sâu hơn về vai trò của văn hóa trong phát triển quốc gia. Nhưng đến NQ 80 ban hành ngày 07/01/2026, tư duy ấy đã tiến thêm một bước rất quan trọng: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, cũng không chỉ là mục tiêu và động lực phát triển, mà được xác định đồng thời là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Theo tôi, đây là điểm mới có ý nghĩa đột phá nhất về mặt quan điểm chỉ đạo, bởi nó đưa văn hóa vào vị trí trung tâm của toàn bộ cấu trúc phát triển, chứ không còn nằm ở vị trí “đồng hành” hay “bổ trợ” như cách hiểu khá phổ biến trước đây.
Điểm mới thứ hai là NQ 80 có cách tiếp cận toàn diện hơn, hiện đại hơn và cũng trực diện hơn với các vấn đề của thời đại. Nếu các văn kiện trước chủ yếu tập trung vào xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng con người, thì NQ 80 đặt văn hóa vào trong hàng loạt mối quan hệ lớn của thời đại mới: giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển, đại chúng và bác học, đời sống thực và không gian số, dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số. Điều đó cho thấy NQ 80 là một văn kiện văn hóa nhưng mang tầm của một chiến lược phát triển quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số.
Điểm mới thứ ba là nghị quyết lần này rất rõ về mục tiêu, và đặc biệt là đã chuyển mạnh từ định hướng sang định lượng. Đây là một bước tiến rất quan trọng. Nhiều văn kiện trước đây nêu mục tiêu rất đúng, rất hay, nhưng phần lớn vẫn thiên về định tính, nên khó lượng hóa mức độ hoàn thành và khó quy trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. NQ 80 thì khác. Nghị quyết không chỉ nêu mục tiêu chung đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, mà còn đưa ra nhiều chỉ tiêu cụ thể, như phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa; phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho văn hóa; 100% di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được đưa vào danh mục kiểm kê phải được số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu; 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận thường xuyên, hiệu quả các hoạt động giáo dục nghệ thuật, giáo dục di sản; hình thành từ 1 đến 3 trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài tại các địa bàn chiến lược; xây dựng 5 thương hiệu mang tầm quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, mĩ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm; và có thêm 5 di sản được UNESCO ghi danh. Theo tôi, chính việc lượng hóa mục tiêu như vậy cho thấy tinh thần rất mới của nghị quyết: đã nói là phải làm được, đã đặt mục tiêu thì phải đo được.
Điểm mới thứ tư là giải pháp phát triển văn hóa trong NQ 80 mang tính mở đường cho một mô hình phát triển mới, trong đó thể chế được xem là khâu đột phá. Văn kiện này không chỉ nói đến tăng cường lãnh đạo, nâng cao nhận thức hay phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ, mà nhấn mạnh rất rõ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; phát triển thị trường văn hóa; thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế quan trọng; huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội; đẩy mạnh hợp tác công tư; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia và tăng cường hiện diện văn hóa Việt Nam ở nước ngoài. Chính các nhóm giải pháp này cho thấy một chuyển động rất đáng chú ý: từ tư duy quản lí văn hóa sang tư duy quản trị phát triển văn hóa; từ bảo tồn đơn thuần sang tạo lập hệ sinh thái sáng tạo; từ hỗ trợ hành chính sang kiến tạo thể chế và thị trường.
Theo tôi, có thể tóm lại thế này, NQ 80 là văn kiện mở ra giai đoạn phát triển văn hóa bằng tư duy kiến tạo, bằng chỉ tiêu cụ thể, bằng công nghệ, bằng công nghiệp văn hóa, bằng sức mạnh mềm và bằng kỉ luật thực thi. Đó là bước chuyển từ “nhận thức đúng về văn hóa” sang “tổ chức phát triển văn hóa như một trụ cột chiến lược của quốc gia”. Đó là giá trị đột phá lớn nhất của NQ 80 trong giai đoạn hiện nay.
+ Trong việc phát triển công nghiệp văn hóa, làm sao để thu hút nguồn lực xã hội hóa nhưng vẫn đảm bảo định hướng giá trị, tránh thương mại hóa cực đoan hoặc lệch chuẩn văn hóa, thưa ông?
- Đây là một câu hỏi rất căn cốt của phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay. Bởi nếu chỉ nhấn mạnh xã hội hóa để thu hút vốn, thu hút doanh nghiệp, thu hút thị trường mà thiếu một “khung giá trị” đủ rõ, thì công nghiệp văn hóa rất dễ bị kéo lệch sang logic lợi nhuận thuần túy. Nhưng nếu vì lo ngại thương mại hóa mà co cụm, dè dặt, không mở đường cho khu vực tư nhân, không khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sáng tạo, thì chúng ta lại tự làm chậm đi một động lực tăng trưởng rất quan trọng của đất nước. NQ 80 đã đặt ra tinh thần rất rõ: công nghiệp văn hóa phải trở thành một trụ cột kinh tế năng động, dựa trên sự giao thoa giữa sáng tạo, bản sắc dân tộc và công nghệ hiện đại; đồng thời phát triển văn hóa phải luôn gắn với xây dựng con người, với hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kì mới. Theo tôi, chính sự kết hợp ấy là chìa khóa: mở rộng nguồn lực xã hội, nhưng không buông lỏng định hướng giá trị.
Muốn làm được điều đó, việc đầu tiên là phải xây dựng thể chế “mở” nhưng không “trống”. “Mở” là để doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà đầu tư, quỹ sáng tạo, nền tảng công nghệ có thể tham gia mạnh mẽ hơn vào các lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật. Nhưng “không trống” nghĩa là phải có tiêu chí, có chuẩn mực, có cơ chế sàng lọc, đánh giá và trách nhiệm xã hội đi kèm. Nhà nước không nên làm thay thị trường, nhưng Nhà nước phải kiến tạo luật chơi, xác lập “lằn ranh đỏ” và tạo cơ chế khuyến khích những chủ thể đầu tư vào các giá trị tích cực. Các định hướng gần đây cũng đã nhấn mạnh việc cụ thể hóa chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư vào văn hóa, song song với việc xây dựng hệ giá trị văn hóa kinh doanh và đạo đức doanh nhân. Điều đó cho thấy xã hội hóa không thể chỉ là câu chuyện vốn, mà phải là câu chuyện của văn hóa kinh doanh và trách nhiệm công dân trong lĩnh vực văn hóa.
Theo tôi, giải pháp quan trọng tiếp theo là phải chuyển từ tư duy “quản lí theo sự vụ” sang tư duy quản trị hệ sinh thái văn hóa. Tức là không chỉ phát hiện sản phẩm phản cảm, có biểu hiện lệch chuẩn rồi mới xử lí, mà phải tạo một hệ sinh thái trong đó cái đúng, cái đẹp, cái có chiều sâu được hỗ trợ mạnh hơn. Muốn vậy, cần có cơ chế đặt hàng, đồng đầu tư, quỹ hỗ trợ sáng tạo, giải thưởng nghề nghiệp uy tín, chính sách bản quyền đủ mạnh, dữ liệu thị trường minh bạch, và hệ thống phân phối hiện đại để các sản phẩm văn hóa có giá trị sống được bằng thị trường. Khi sản phẩm tử tế không sống nổi còn sản phẩm gây sốc lại dễ lan truyền, thì lỗi không chỉ ở thị hiếu công chúng mà còn ở cấu trúc thị trường. Bởi vậy, xã hội hóa muốn đi đúng hướng phải gắn với bảo vệ bản quyền, nâng chuẩn thẩm mĩ xã hội và tạo lợi thế cạnh tranh cho những sản phẩm mang bản sắc, có giá trị giáo dục, có chiều sâu nhân văn.
Cuối cùng, tôi nghĩ rằng công nghiệp văn hóa là “công nghiệp”, nhưng trước hết vẫn là “văn hóa”. Hiệu quả kinh tế rất cần thiết, nhưng không thể là thước đo duy nhất. Một bộ phim, một chương trình biểu diễn, một sản phẩm thiết kế, một không gian sáng tạo hay một lễ hội văn hóa không chỉ tạo doanh thu, mà còn tạo hình ảnh quốc gia, tạo môi trường thẩm mĩ, tạo lối sống, tạo ảnh hưởng xã hội. Vì vậy, muốn thu hút nguồn lực xã hội hóa mà không rơi vào thương mại hóa cực đoan, phải giữ được nguyên tắc này: lợi nhuận cần đi cùng trách nhiệm văn hóa; đầu tư cần đi cùng định hướng giá trị; sáng tạo cần đi cùng bản sắc; và hội nhập cần đi cùng bản lĩnh. Khi chúng ta thiết kế được một thể chế như vậy, thì khu vực tư nhân sẽ trở thành đối tác quan trọng cùng Nhà nước xây dựng một nền công nghiệp văn hóa vừa hiện đại, vừa giàu bản sắc, vừa có sức cạnh tranh, vừa không đánh mất phần hồn của dân tộc.
+ NQ 80 một lần nữa nhấn mạnh: “Xây dựng thế trận văn hoá gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng”. Trong chủ trương chiến lược này, các văn nghệ sĩ - trí thức trong Quân đội đóng vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, thưa ông, làm thế nào để đội ngũ văn nghệ sĩ Quân đội vừa phát huy vai trò chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng trong việc xây dựng thế trận văn hoá gắn với quốc phòng, an ninh; vừa sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật, có sức lay động sâu sắc, đủ sức “miễn dịch” trước các luồng thông tin xấu độc, mà không rơi vào khuôn mẫu, khô cứng, xa rời đời sống và công chúng?
- Theo tôi, để đội ngũ văn nghệ sĩ trong Quân đội thực hiện tốt sứ mệnh đặc biệt này, điều quan trọng nhất là phải bắt đầu từ một nhận thức đúng về vị trí của họ. Họ không chỉ là những người làm nghề trong môi trường quân đội, mà trước hết là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, đồng thời cũng là những nghệ sĩ đích thực mang trách nhiệm sáng tạo ra cái đẹp, cái chân thật và cái cao cả cho đời sống tinh thần xã hội. NQ 80 đã đặt rất rõ yêu cầu “xây dựng thế trận văn hóa gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng”, và Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt cũng nhấn mạnh phải xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bồi đắp hệ giá trị, tăng sức đề kháng của xã hội trước những yếu tố độc hại trên không gian mạng. Trong tổng thể ấy, văn nghệ sĩ quân đội có một vị trí rất đặc biệt, bởi họ vừa đứng trong lòng đời sống chiến đấu, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc, vừa có điều kiện phản ánh những chiều sâu rất thật, rất xúc động, rất giàu lí tưởng của người lính Việt Nam hôm nay.
Nhưng muốn làm được điều đó, tôi nghĩ, không thể chỉ kêu gọi bằng tinh thần trách nhiệm. Cần tạo ra một môi trường sáng tạo thật sự chuyên nghiệp, cởi mở và giàu trải nghiệm sống. Điều làm nên sức lay động của một tác phẩm nghệ thuật không phải là khẩu hiệu, mà là sự thật đời sống được chưng cất bằng tài năng và chiều sâu nhân văn. Văn học, nghệ thuật về người lính đang có một xu hướng rất đáng chú ý: hình ảnh quân nhân hôm nay không còn chỉ hiện lên trong chiến tranh hay thao trường, mà còn trong cứu hộ cứu nạn, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo, tác chiến không gian mạng, ứng phó thiên tai, bảo vệ dân trong những hoàn cảnh cam go nhất. Chính đời sống phong phú ấy là chất liệu vô cùng lớn cho sáng tạo. Vì vậy, văn nghệ sĩ quân đội phải được sống sâu trong đời sống bộ đội, đi nhiều hơn, ở lâu hơn với đơn vị, với biên giới, hải đảo, với các nhiệm vụ mới của quân đội hiện đại, để tác phẩm của họ không bị “đúng về lập trường nhưng mỏng về nghệ thuật”.
Theo tôi, nghệ thuật muốn tránh khuôn mẫu, khô cứng, thì phải đặc biệt tôn trọng quy luật của nó. Nghệ thuật tuy phục vụ nhiệm vụ chính trị, nhưng không thể thành công nếu chỉ dừng lại ở minh họa nhiệm vụ chính trị. Một tác phẩm có sức “miễn dịch” trước thông tin xấu độc không phải vì nó lên gân hay áp đặt, mà vì nó chạm được đến trái tim con người, khơi dậy lòng yêu nước, danh dự, nhân cách, niềm tin và sự xúc động chân thành. Người đọc, người xem hôm nay rất tinh, rất nhạy. Họ không tiếp nhận lâu những gì giáo điều, một chiều, xa lạ với đời sống thật. Bởi vậy, văn nghệ sĩ quân đội cần được khuyến khích đổi mới bút pháp, mở rộng đề tài, tiếp cận người lính như những con người sống động với lí tưởng, trách nhiệm, cả những trăn trở, hi sinh và vẻ đẹp đời thường. Khi nghệ thuật đi vào chiều sâu con người, thì sức mạnh tư tưởng của nó sẽ bền hơn bất cứ lời kêu gọi khô cứng nào.
Và cuối cùng, theo tôi, phải xây dựng được một hệ sinh thái hỗ trợ cho văn nghệ sĩ quân đội: từ đào tạo, bồi dưỡng lí luận và nghiệp vụ, đến cơ chế đặt hàng tác phẩm lớn, giải thưởng xứng đáng, không gian lan tỏa hiện đại và chuyển đổi số mạnh mẽ trong báo chí, xuất bản, biểu diễn của quân đội. Thực tế, hệ thống báo chí và hoạt động văn học nghệ thuật quân đội những năm gần đây đã có nhiều đổi mới, trong đó có việc phát triển đa nền tảng, đổi mới cách tiếp cận công chúng. Đó là nền tảng tốt. Nhưng điều cốt lõi hơn cả vẫn là phải trao cho văn nghệ sĩ quân đội niềm tin sáng tạo: tin rằng họ có thể vừa kiên định về lí tưởng, vừa tự do trong tìm tòi nghệ thuật; vừa là người lính giữ trận địa tư tưởng, vừa là nghệ sĩ làm rung động lòng người. Khi hội tụ được cả hai phẩm chất ấy, họ sẽ không chỉ góp phần xây dựng thế trận văn hóa gắn với quốc phòng, an ninh, mà còn tạo ra những tác phẩm thật sự sống lâu trong lòng công chúng, như những “pháo đài mềm” của niềm tin, của cái đẹp và của bản lĩnh văn hóa Việt Nam.
+ Xin cảm ơn PGS.TS Bùi Hoài Sơn đã tham gia trò chuyện
VNQD