VNQĐ kết nối  Nhân vật tuần này

“Tôi trân trọng giá trị của hoà bình”

Chủ Nhật, 12/07/2026 16:10

 Sinh năm 1945 tại Tây Sơn (Bình Định), năm 1954, cậu bé Đậu Văn Hóa lên đường tập kết ra Bắc, trở thành một trong những học sinh miền Nam đầu tiên được học tập, nuôi dưỡng trên miền Bắc theo chủ trương chiến lược của Đảng và Bác Hồ. Đó cũng là điểm khởi đầu của một hành trình trưởng thành đặc biệt, trong tình thương yêu, đùm bọc của đồng bào miền Bắc và sự rèn luyện qua những năm tháng học tập, công tác, quân ngũ. Tự lập từ năm mười tuổi, Đậu Văn Hóa sớm được bồi đắp tinh thần kỉ luật, ý chí bền bỉ, lòng biết ơn và nghĩa tình sâu nặng. Đi qua nhiều vai trò của cuộc đời, từ người lính tăng thiết giáp, giảng viên đại học đến doanh nhân (hiện tại ông là Chủ tịch Tập đoàn Hồ Mây Park), ông vẫn giữ nguyên cốt cách của một người lính: sống có trách nhiệm, luôn hướng về cộng đồng và kiên trì theo đuổi những điều mình tin là có ích cho quê hương, đất nước. Hành trình ấy đã tạo nên chân dung một con người giàu nghị lực, nặng nghĩa tình và chưa bao giờ ngừng cống hiến…

Chân dung người lính, doanh nhân Đậu Văn Hoá, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hồ Mây Park. 

- Thưa ông, đã hơn bảy mươi năm trôi qua, ông còn nhớ điều gì nhất về ngày rời miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954?

+ Lúc đó tôi lên mười tuổi. Hàng ngày chỉ biết chăn bò, lượm củi không biết tập kết là gì. Ba mẹ bảo ra Bắc học hai năm lại về, cố gắng ngoan học giỏi nghe con.

Về sau tôi mới hiểu, tụi tôi ngày ấy là thế hệ học sinh miền Nam được Đảng và Bác Hồ đưa ra Bắc học tập. Hồi đó đâu biết những chuyện lớn lao ấy. Chỉ biết mình phải học cho giỏi để không phụ lòng gia đình và những người đã gửi gắm niềm tin vào mình. Bây giờ nhiều chuyện đã quên rồi, nhưng buổi chia tay và những lời dặn dò hôm ấy thì vẫn còn nguyên trong trí nhớ của tôi.

- Những năm tháng học tập ở miền Bắc chắc hẳn đã để lại trong ông nhiều kí ức sâu đậm, đồng thời cũng bồi đắp nên những phẩm chất đáng quý của thế hệ học sinh miền Nam tập kết?

+ Xa nhà từ nhỏ nên tụi tôi phải tự lo cho mình sớm hơn người khác. Ngoài chuyện học chữ, chúng tôi còn học cách sống. Học tính kỉ luật, học tinh thần tập thể, học cách thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Điều tôi nhớ và suy nghĩ nhiều nhất là tình cảm của đồng bào miền Bắc dành cho học sinh miền Nam. Người ta thương tụi tôi như con cháu trong nhà vậy.

Từ Thanh Hóa, tôi được chuyển lên Tuyên Quang, rồi sau đó về học ở Hải Phòng. Đi đến đâu cũng nhận được sự quan tâm, chăm sóc của thầy cô và bà con địa phương. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ bài thơ Chú đi tuần của tác giả Trần Ngọc viết tặng chúng tôi. Bài thơ đã được in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

...Chú đi qua cổng trường

Các cháu miền Nam yêu mến

Nhìn ánh điện qua khe phòng lưu luyến

Các cháu ơi! Giấc ngủ có ngon không?"

Hồi còn nhỏ nghe thì thấy hay thôi. Càng lớn tuổi càng thấm. Một bài thơ ngắn mà chứa đựng biết bao tình cảm của miền Bắc dành cho tụi tôi. Nay nghĩ lại, tôi viết bài thơ này:

Thuở cháu lên mười

Chú tặng bài thơ

Nay tuổi tám mươi

Tìm chú đâu chú hỡi

 

Cuộc đời như mây khói

Mới đó đã xa xôi

Hải Phòng vẫn còn đó

Ôm trọn tuổi thơ tôi.

Có lẽ vì vậy mà tôi và thế hệ học sinh miền Nam lớn lên trên đất Bắc lúc nào cũng thấy mình mang một món nợ ân tình với đất nước, với những người đã cưu mang, nuôi dưỡng mình trong những năm tháng ấy.

- Khi đất nước còn chia cắt, điều gì đã thôi thúc chàng thanh niên Đậu Văn Hóa lựa chọn con đường quân ngũ vào năm 1970?

+ Hồi đó chẳng ai suy nghĩ nhiều đâu. Đất nước còn chiến tranh. Thanh niên đến tuổi thì lên đường. Chuyện ấy gần như rất tự nhiên đối với thế hệ chúng tôi.

Thêm nữa, tôi là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc. Lớn lên trên đất Bắc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân nuôi dưỡng, cho ăn học tử tế. Bên cạnh suy nghĩ mình phải trả cái nợ ân nghĩa ấy cho đất nước thì trong lòng cũng mang nỗi nhớ quê hương và mong muốn có ngày được trở về miền Nam. Đi bộ đội cũng là con đường để mình trọn vẹn hai ước mong ấy. Mình xa miền Nam từ một cậu bé mười tuổi, đến khi trưởng thành thì đất nước vẫn còn chia cắt. Ai cũng mong được góp sức để ngày thống nhất đến nhanh hơn. Vì vậy sau khi học xong là tôi viết đơn xin nhập ngũ. Tôi không thấy đó là một sự lựa chọn đặc biệt gì cả. Đó đơn giản là trách nhiệm của tuổi trẻ và cũng là mong muốn được góp một phần nhỏ của mình vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, để một ngày nào đó có thể trở về trên chính quê hương mình.

- Ông nhập ngũ đúng vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất và được điều về Trường Sĩ quan Tăng Thiết giáp. Lúc này, xe tăng bắt đầu giữ vai trò lớn trong các chiến dịch hiệp đồng binh chủng. Điều đó mang đến cho ông áp lực hay sự háo hức?

+ Lúc nhập ngũ tôi mới học xong Đại học Nông nghiệp. Nói cho đúng là cơ khí nông nghiệp, chủ yếu là máy kéo, máy cày, máy bơm nước phục vụ sản xuất. Khi được điều về Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp làm giáo viên, thú thật là tôi cũng ngợp. Xe tăng, xe bọc thép là những phương tiện quân sự rất hiện đại lúc bấy giờ. Từ động cơ, hệ thống truyền động cho đến các thiết bị kĩ thuật đều phức tạp hơn nhiều so với những gì tôi đã học. Vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì được làm công việc đúng với chuyên môn kĩ thuật của mình. Lo vì thấy kiến thức của mình còn thiếu nhiều quá. Nhưng tuổi trẻ mà, càng khó lại càng muốn tìm hiểu. Ban ngày học, tối về đọc tài liệu, có gì chưa rõ thì hỏi các anh đi trước. Cứ từng chút một như vậy rồi cũng làm được.

Đến năm 1974, tôi được trở lại miền Nam cùng với đoàn cán bộ của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, trực tiếp giảng dạy cho bộ đội về xe tăng T-54 và các loại xe tăng, xe thiết giáp thu được của địch như xe M.113, M.41, M.48... ngay tại mặt trận.

Chiến trường lúc đó đang chuẩn bị cho những nhiệm vụ rất lớn. Mình hiểu rằng nếu anh em nắm chắc kĩ thuật thì sẽ vận hành tốt hơn, bảo đảm tốt hơn cho nhiệm vụ chiến đấu lúc đó. Cho nên hồi ấy không có thời gian để nghĩ đến áp lực nhiều đâu. Chỉ nghĩ làm sao học thật nhanh, làm thật tốt công việc được giao thôi.

- Theo ông, điều gì làm nên bản lĩnh riêng của người lính tăng thiết giáp?

+ Theo tôi là tình đồng đội. Hồi đó lính tăng tụi tôi rất thích bài hát: Năm anh em trên một chiếc xe tăng. Bài hát ấy có câu: Năm anh em mỗi đứa một quê/ Đã lên xe là cùng một hướng... nghe giản dị vậy thôi nhưng đúng lắm. Mỗi người một quê. Người ở Bắc, người ở Nam, người miền Trung cùng nhau trên một chiếc xe, nên khi đã lên xe thì thành anh em một nhà. Trong chiến đấu, mình không thể làm được gì nếu không tin đồng đội. Xe tăng là một tập thể nhỏ, nhưng lại đòi hỏi sự phối hợp rất cao.

Hồi đó ai cũng trẻ, cũng gầy, cũng đen. Bây giờ gặp lại thì ai cũng tóc bạc hết rồi. Có người còn tóc bạc, có người chẳng còn tóc nữa. Nhưng lạ lắm. Mấy chục năm không gặp, ngồi xuống là lại nói chuyện như hôm qua mới chia tay. Càng lớn tuổi tôi càng hiểu rằng tiền bạc hay danh vọng rồi cũng có giới hạn thôi. Còn tình đồng đội thì theo mình đến hết cuộc đời. Đó là tài sản quý nhất mà quân đội đã để lại cho tôi. Tôi cũng tham gia ban liên lạc bộ đội tăng thiết giáp phía Nam. Mỗi năm đến những dịp gặp mặt truyền thống, trong khả năng của mình tôi đều cố gắng đóng góp, hỗ trợ một phần kinh phí để anh em có điều kiện gặp nhau. Cũng không phải điều gì lớn lao đâu. Chỉ là mình nghĩ còn làm được gì cho đồng đội thì làm. Đó cũng là một cách để trả nghĩa những năm tháng đã cùng nhau đi qua.

Bởi vậy nên điều tôi nhớ nhất về binh chủng tăng thiết giáp không phải là chiếc xe tăng, mà là những người đã ngồi cùng mình trong chiếc xe ấy.

Ông Đậu Văn Hoá cùng các đồng đội là lính xe tăng trong một lần gặp mặt tại Hồ Mây Park.

- Là một trong những giảng viên thuộc thế hệ đầu tiên của Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, ông và đồng đội đã xây dựng những bài giảng đầu tiên trong điều kiện như thế nào?

+ Khó khăn nhiều lắm. Hồi đó tài liệu không nhiều như bây giờ. Nhiều loại xe, tài liệu lại chủ yếu bằng tiếng Nga. Muốn giảng cho học viên hiểu thì trước hết mình phải tự học cho thật kĩ đã. Anh em chúng tôi vừa nghiên cứu, vừa dịch tài liệu, vừa biên soạn giáo án. Có những bài giảng hôm nay dạy xong, tối về lại ngồi sửa vì thấy chỗ này chưa hợp lí, chỗ kia cần bổ sung thêm. Ban ngày lên lớp, xuống xưởng thực hành. Tối đến lại ngồi bên đống bản vẽ, tài liệu đến khuya. Tuổi trẻ mà, cực mấy cũng không thấy mệt. Bây giờ nhìn lại, những bài giảng ngày ấy chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Nhưng đó là công sức và tâm huyết của cả một thế hệ cán bộ, giảng viên thời đó. Cho nên ai cũng làm hết lòng, chứ lúc đó chẳng ai nghĩ đến thành tích hay thi đua gì cả.

- Rời quân đội để trở thành giảng viên Đại học Cần Thơ rồi bước sang lĩnh vực kinh doanh, ông đã mang theo những bài học nào của người lính? Nhiều người cho rằng người lính quen với mệnh lệnh, còn doanh nhân phải chấp nhận rủi ro và đổi mới liên tục. Ông thấy hai vai trò ấy có mâu thuẫn với nhau không?

+ Năm 1978 tôi chuyển ngành, về giảng dạy ở Đại học Cần Thơ. Từ quân đội sang giảng dạy, rồi sau này sang làm kinh tế, làm du lịch, công việc thay đổi nhiều lắm. Có lúc chính tôi cũng không nghĩ cuộc đời mình lại đi theo những ngã rẽ như vậy. Nhưng có vài thứ không thay đổi. Đó là tính kỷ luật, trách nhiệm, sự kiên trì và thói quen làm việc đến nơi đến chốn. Người lính được giao nhiệm vụ thì phải tìm cách hoàn thành. Làm thầy giáo cũng vậy. Làm doanh nghiệp cũng vậy.

Quân đội đã dạy tôi rất nhiều điều. Trên chiến trường, chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả lớn. Vì vậy, tôi học được cách chuẩn bị kĩ lưỡng, đánh giá tình hình và kiên trì theo đuổi mục tiêu. Khi bước vào thương trường, những bài học đó vẫn nguyên giá trị. Tôi nhớ những năm đầu làm Hồ Mây khó khăn lắm. Từ ý tưởng đến thực hiện là cả một chặng đường dài. Có những việc tưởng sắp làm được rồi lại phải làm lại từ đầu. Nếu không có sự kiên trì thì chắc tôi đã bỏ cuộc giữa chừng.

Quân đội còn dạy tôi một điều nữa, đó là không có việc lớn nào làm được một mình. Trong đơn vị phải dựa vào đồng đội. Ra ngoài xã hội cũng phải dựa vào tập thể, vào những người cùng chung chí hướng. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy những gì học được trong quân ngũ đã giúp mình rất nhiều sau này. Nói vui vậy chứ, hồi làm Hồ Mây nhiều người bảo ông Hóa gan quá. Tôi cười thôi. Mình từng là lính tăng thiết giáp, chuyện khó quen rồi. Khó thì làm lâu hơn một chút, chứ đâu phải khó là bỏ.

Theo tôi, hai vai trò này không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau. Người lính cần kỉ luật nhưng cũng phải linh hoạt trước tình huống thực tế. Doanh nhân cũng vậy. Bí quyết của tôi là luôn giữ tinh thần học hỏi, dám nghĩ, dám làm và không ngại khó khăn. Thành công không đến từ may mắn mà đến từ sự kiên trì và niềm tin vào mục tiêu mình theo đuổi.

- Ông đã đến với núi Lớn như thế nào và ông đã nhìn thấy điều gì ở đây mà người khác chưa nhìn thấy? Ý tưởng nào đã đưa đến sự ra đời của Hồ Mây Park?Từ những năm tháng gắn với xe tăng đến khi xây dựng Hồ Mây Park , ông có thấy một sợi dây nào nối liền hai chặng đường ấy không?

+ Tôi đến với núi Lớn trong một lần khảo sát và bị thu hút bởi vẻ đẹp đặc biệt của nơi này. Từ trên đỉnh núi có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố Vũng Tàu, biển xanh và những cánh rừng tự nhiên. Khi đó, nhiều người chỉ nhìn thấy một vùng núi hoang sơ, nhưng tôi nhìn thấy tiềm năng để tạo nên một không gian du lịch độc đáo, nơi con người có thể hòa mình vào thiên nhiên mà vẫn được trải nghiệm các dịch vụ hiện đại. Từ ý tưởng đó, Hồ Mây Park dần hình thành.

Nếu nói có một sợi dây nối từ người lính năm xưa đến người làm Hồ Mây hôm nay thì có lẽ đó chính là sự bền bỉ. Đánh trận cũng có trận thắng trận thua. Làm công trình cũng phải mất nhiều năm mới thành chứ. Nhưng cả hai đều cần một điều đó là không được bỏ cuộc giữa đường.

- Khi bắt đầu xây dựng Hồ Mây Park, điều gì là trở ngại lớn nhất, và trong suốt hành trình xây dựng, đâu là thời điểm khó khăn nhất mà ông từng trải qua?

Khó khăn lớn nhất là niềm tin. Khi dự án mới bắt đầu, nhiều người nghi ngờ khả năng thành công vì địa hình phức tạp, hạ tầng còn thiếu và nguồn vốn đầu tư rất lớn. Có những giai đoạn công trình triển khai chậm, áp lực tài chính nặng nề, nhưng chúng tôi vẫn kiên trì. Thời điểm khó khăn nhất là khi phải vừa đầu tư hạ tầng vừa thuyết phục đối tác, nhà đầu tư và xã hội tin vào tầm nhìn của mình.

Nhiều người nghĩ làm du lịch chắc nhẹ nhàng hơn làm lính. Không phải đâu. Ý tưởng làm Hồ Mây Park tôi ấp ủ từ những năm 2000. Tôi cứ nghĩ phải làm một cái gì đó để người dân và du khách có thể lên đây ngắm biển, ngắm thành phố. Năm 2003, chúng tôi thành lập công ty. Hồi đó có bảy cổ đông cùng góp vốn tham gia. Ai cũng hào hứng, ai cũng có nhiều kì vọng. Nhưng khi bắt tay vào làm mới thấy khó khăn nhiều hơn mình tưởng. Thủ tục kéo dài, cơ chế còn nhiều vướng mắc, hết việc này lại đến việc khác phát sinh. Có những lúc dự án gần như đứng yên suốt mấy năm trời. Do khó, nên một số anh em cổ đông lần lượt rút lui. Tôi cũng hoang mang lắm. Bởi lúc ấy thật sự rất khó khăn, không phải ai cũng đủ điều kiện để theo đuổi một dự án kéo dài năm này qua năm khác mà chưa biết ngày nào thành công.

Nhiều người hỏi tôi có nản không. Nói thật là nản chứ. Tôi cũng là con người mà. Nhưng rồi nghĩ lại, người lính có một cái tính là đã quyết rồi thì cố mà làm. Quan trọng là đừng bỏ cuộc. Thế là từ năm 2003 đến năm 2010, chúng tôi cứ từng bước tháo gỡ khó khăn. Và đến ngày nhìn thấy cáp treo vận hành, nhìn thấy khách tham quan lên Hồ Mây Park, tôi mới cảm thấy những năm tháng ấy không uổng.

Hồ Mây Park (địa chỉ: 1A Trần Phú, Phường 1, Bãi Trước, Vũng Tàu) là tâm huyết của người lính, doanh nhân Đậu Văn Hoá. 

- Điều gì làm Hồ Mây Park khác với nhiều khu du lịch khác? Có công trình nào ông xem như “đứa con tinh thần” của mình?

+ Ngay từ đầu, tôi không muốn Hồ Mây Park chỉ là một khu vui chơi giải trí. Tôi mong muốn nơi đây trở thành một không gian kết hợp giữa văn hóa, lịch sử, sinh thái, và nghỉ dưỡng. Điều làm Hồ Mây Park khác biệt là sự hòa quyện giữa thiên nhiên của núi rừng với cảnh quan biển đặc trưng của Vũng Tàu. Bên cạnh đó, đến đây du khách cũng sẽ gặp những không gian đặc biệt gợi lại lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, gặp những không gian văn hoá đặc trưng, hay thấy được những công trình giải trí hiện đại giữa một khu thiên nhiên được bảo tồn. Trong số các công trình, tôi đặc biệt tâm huyết với hệ thống cáp treo và việc bảo tồn mảng xanh tự nhiên trên núi. Đó là những công trình thể hiện rõ nhất triết lý phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Mỗi khi nhìn thấy du khách vui vẻ tận hưởng cảnh đẹp, tôi lại nhớ đến những năm tháng chiến tranh gian khổ. Sự đối lập ấy khiến tôi càng trân trọng giá trị của hòa bình. Nếu ngày xưa chúng tôi chiến đấu để bảo vệ đất nước thì hôm nay tôi mong muốn góp phần xây dựng quê hương ngày càng đẹp hơn và mang lại niềm vui cho mọi người.

- Có cảm giác rằng, dù ở cương vị nào, ông cũng mang theo cốt cách của một người lính để sống và làm việc. Sau tất cả những chặng đường đã đi qua và những nỗ lực đã dành cho quê hương, đất nước, ông nghĩ đâu là sứ mệnh lớn nhất của cuộc đời mình?

+ Tôi nghĩ đơn giản thôi. Thời chiến thì người lính cầm súng bảo vệ đất nước. Thời bình thì mỗi người tiếp tục góp sức xây dựng đất nước theo cách của mình. Người làm thầy giáo, người làm kỹ sư, người làm doanh nghiệp. Công việc khác nhau, nhưng trách nhiệm với xã hội thì giống nhau.

Tôi may mắn được đi qua nhiều chặng đường. Từ một cậu bé miền Nam tập kết ra Bắc, rồi đi bộ đội, làm giảng viên, sau đó tham gia làm kinh tế, làm du lịch. Đến tuổi này rồi, tôi thấy điều quý nhất không phải là mình có bao nhiêu tài sản hay đạt được bao nhiêu thành công. Những thứ đó rồi cũng qua đi. Điều làm tôi vui là nhìn thấy những việc mình làm vẫn còn có ích. Hồ Mây Park mỗi ngày vẫn đón khách tham quan. Vẫn có người lao động đến làm việc, có thu nhập để nuôi gia đình. Thỉnh thoảng gặp một học trò cũ hay một đồng đội cũ, nghe họ nói vẫn nhớ đến mình là tôi thấy vui rồi.

Cuộc đời ai rồi cũng sẽ đi qua. Nếu sau này người ta còn nhớ đến mình như một người sống tử tế, làm được vài việc có ích cho quê hương, cho cộng đồng và không quên nghĩa tình với đồng đội thì với tôi như vậy là đủ, là mãn nguyện rồi.

NGUYỄN VŨ thực hiện

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)