Nghề viết trong thời đại truyền thông đại chúng và trí tuệ nhân tạo

Thứ Bảy, 22/08/2026 07:19

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Giá là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, phê bình văn học được bạn đọc biết đến như: Vũ Bằng - bên trời thương nhớ, Đời sống và đời viết, Viết cùng bạn viết, Viết khi tâm đắc, Người khác và tôi… Ở lĩnh vực sáng tác, ông cũng ghi dấu ấn với các tập truyện ngắn: Một ngày nát vụn, Một ngày lưng lửng, Mưa ở Bình Dương, Ai nói & tại sao lại nói như thế… Đặc biệt, ông từng có nhiều năm gắn bó với Khoa Viết văn, Báo chí thuộc Đại học Văn hóa Hà Nội (tiền thân Trường Viết văn Nguyễn Du) trong vai trò làm công tác quản lí và trực tiếp tham gia giảng dạy.

Tạp chí Văn nghệ Quân đội có cuộc trò chuyện với PGS.TS Ngô Văn Giá xoay quanh việc đào tạo, việc học viết văn, viết báo… những thách thức, cơ hội đặt ra trong thời đại bùng nổ truyền thông đại chúng và trí tuệ nhân tạo hiện nay.

- Xin chào PGS.TS Ngô Văn Giá. Tháng 6, lại một mùa tuyển sinh của Khoa Viết văn, Báo chí trường Đại học Văn hóa Hà Nội sắp bắt đầu. Từng có nhiều năm gắn bó với khoa, (từ ngày còn là Khoa Sáng tác và Lí luận phê bình văn học, chưa tuyển sinh ngành Báo chí), ông nghĩ sao về việc hiện nay số thí sinh chọn thi ngành Báo chí lại nhiều hơn (gấp nhiều lần) so với ngành Viết văn? Có phải sức hút của văn chương đang mất dần đi trong xã hội hiện đại?

+ Như chúng ta biết, khoảng mươi năm trở về trước, ngành Báo chí vẫn được trọng dụng, bởi khi ra trường nó có “đất dụng võ”, tức là kiếm được việc làm. Lại thêm cái danh xưng “truyền thông” (trong cặp định danh “Báo chí - Truyền thông”), nên khả năng xin việc tương đối tốt. Ra trường không đi làm báo thì làm tổ chức sự kiện, viết, sản xuất nội dung, làm thông tin nội bộ, làm quảng cáo... Thêm nữa, làm báo chí, nhất là báo hình, nhìn cách thức tác nghiệp, cách xuất hiện trước công chúng, tên tuổi nổi trên mặt báo, thẻ nhà báo cầm tay, đi đến đâu cũng thể như “đi vào chỗ không người”... Tất cả những thứ đó tạo nên hình ảnh nhà báo như người của công chúng; nếu giỏi giang một chút có thể trở thành KOL, “danh nổi như phao, tiếng vang như mõ”. Đó chính là những tác nhân tạo nên việc nhiều học trò đua nhau thi vào ngành báo chí.

Còn bây giờ, câu chuyện đã khác. Một mặt, gần đây, sinh viên báo chí khi ra trường thất nghiệp vô số, do bên cầu đã đủ và thừa, bên cung cứ đào tạo chạy theo số lượng; mặt khác, công cuộc sáp nhập, tinh gọn, tinh giản các cơ quan báo chí trên cả nước đang diễn ra rất quyết liệt, theo đó số lượng nhà báo dôi dư, thất nghiệp rất đáng ái ngại. Vầng hào quang của nghề báo chí ngày nào đang dần phai nhạt. Điều này bắt đầu tác động đến các cơ sở đào tạo báo chí, rõ nhất là đầu vào đã/đang chững lại và giảm bớt.

Tuy thế, lạ lắm, không hiểu do không được tư vấn nghề nghiệp đúng, hay do không nắm bắt được thông tin, số lượng thí sinh thi vào ngành Báo chí vẫn cứ đông. Điều này rất đáng lo. Nó đang đi vào quỹ đạo của sự “khủng hoảng thừa”. Ở Việt Nam mình về cơ bản chưa có ý thức cao về việc chọn nghề, nên người học hay chọn theo cảm tính: đỗ nguyện vọng (NV) 1 thì tốt, không thì sang NV2, không được trường công thì sang dân lập, tư thục; miễn là đỗ đại học, ra trường tính sau, được làm đúng nghề thì tốt, nếu không thì xin làm việc khác... Đại loại như vậy.

So với việc học nghề viết văn ư? Nghề báo có hình thù cụ thể, công việc cụ thể, có thu nhập cụ thể, mang tính ổn định, đo đếm được. Còn nghề viết văn, một loại hình lao động hoàn toàn cô độc, khi viết được khi không, tùy vào tài năng, cảm hứng, tông tạng, thời điểm xuất hiện (điểm rơi )... ; nghĩa là một thứ nghề không rõ hình thù, văn chương tự cổ vô bằng cứ mà, không thể kiểm soát được, không ổn định, sản phẩm không dễ bán, khó sống bằng nghề. Đã thế, con người ta khi bập vào văn chương, cái tôi được kích hoạt, thực tế và tưởng tượng chen/trộn nhau, không ít người viết văn khiến người đời cảnh giác, xa lánh. Bản chất của nghề này không dành cho đại chúng, mà chỉ dành cho đặc tuyển, tinh hoa. Cái bi kịch xảy ra ở chỗ lắm khi nhầm lẫn giữa đại chúng và tinh hoa, đại chúng muốn, tưởng mình là tinh hoa; tinh hoa lại tự rẻ rúng mình thành đại chúng...

Thêm nữa, thực tế cho thấy, để trở thành nhà văn, không nhất thiết phải qua trường lớp viết văn. Họ chỉ cần năng khiếu, sau tự đọc, tự học, khổ luyện, có thể thành tài. Trường lớp là bổ trợ, kích hoạt, thanh lọc, biến năng lực viết có thể nhanh hơn, đỡ mầy mò lâu, đỡ thử sai nhiều. Thế thôi. Trên thực tế, một số sinh viên tốt nghiệp các ngành khác, khi bước vào viết văn, họ cũng rất sớm thành công, sớm nổi tiếng. Ở họ, ban đầu là năng khiếu, sau nữa là đam mê, sau nữa là ý thức học hỏi, trau dồi thường trực. Với người viết văn, ý thức làm nghề và khả năng tự học là vô cùng quan trọng.

Với những lí do đó, số lượng thí sinh thi vào ngành viết văn có xu hướng ít đi cũng là điều dễ hiểu.

- Từng là sinh viên Viết văn khóa 11, tôi thấy những điều ông đưa ra, lí giải hoàn toàn đúng. Nhưng dù sao, chúng ta vẫn phải nhìn thẳng vào hiện thực. Theo tôi được biết, hiện nay trên thế giới, xu hướng của người viết trẻ, người đam mê văn chương là học các lớp Master Class, nơi có các nhà văn hàng đầu như Salman Rushdie, Margaret Atwood… trực tiếp chia sẻ các bí quyết viết lách, các kĩ năng gửi bản thảo đến các nhà xuất bản. Ở ta, theo trào lưu đó, các lớp dạy viết văn, chia sẻ kinh nghiệm viết lách cũng nở rộ. Cái được của các lớp này là diễn ra trong thời gian ngắn, có thể học ở bất cứ đâu với một cái điện thoại, học được những gì (cảm tưởng là) cốt lõi nhất. Người dạy, đồng thời là nhà văn, người viết đón bắt được những gì người học cần để đưa ra cho phù hợp…

+ Đây là xu hướng tất yếu và rất hay. Nó cho phép dạy/học những gì thật cốt lõi, thiết thực, tốn ít thời gian. Tuy nhiên, loại hình lớp này phải là những nhà văn thật giỏi đứng lớp: vừa sáng tác giỏi, vừa có tri thức lí thuyết tốt, ấy là chưa kể đến năng lực truyền nghề. Nếu sáng tác lèo phèo, tri thức lí thuyết văn chương lỗ mỗ, lại thêm bệnh hoang tưởng mà mở lớp thì chỉ có hại cho người theo học. Tôi nghĩ rằng, loại hình lớp học ngắn ngày này rất hay; hiện giờ có vẻ như đang lộn xộn, nhưng nó dần sẽ đi vào trật tự, tức là nó có cơ chế tự sàng lọc. Ai dạy giỏi sẽ có người theo, ai không giỏi sẽ tự bật bãi. Tôi cũng đã có người rủ mở lớp dạy kinh nghiệm viết văn qua online, nhưng tôi thuộc loại lười, nên không dám nhận lời. Tôi cứ nghĩ, dạy trên lớp (face to face) còn vô cùng khó nhọc, nữa là dạy/học online. Nghĩ thế, nên thôi... Mình là anh sư phạm, cả đời dạy học ngay ngắn, nên không dám “phá rào”. Cũng có thể do mình bảo thủ...

- Từng là Trưởng khoa Viết văn, Báo chí trong một thời gian khá dài, trong giai đoạn giao thời giữa cách viết/ người viết truyền thống với sự viết/ công bố tác phẩm không còn dựa hoàn toàn vào báo chí, nhà xuất bản mà qua các trang blog, website văn chương, mạng xã hội, ông thấy mô hình trường, rồi khoa dạy viết văn ở ta hiện nay có còn phù hợp? Nếu có thay đổi, sẽ phải thay đổi ra sao khi mà có thực tế “phũ phàng” là sách của người nổi tiếng trên mạng xã hội như Facebook, Tiktok… thường bán rất chạy, với con số vạn bản (điều mà người viết chân chính mơ ước), dù các tác phẩm này đều không được giới phê bình, giới văn chương công nhận. Đấy là dân chủ, tự do hóa văn học hay đang biến văn học thành một dạng sản phẩm thuần giải trí?

+ Tôi nghĩ, việc dạy viết văn giản dị thôi, ở chỗ không phải cứ học viết văn ra là thành nhà văn. Nói như GS. Hoàng Ngọc Hiến ngày còn dạy ở Trường Viết văn Nguyễn Du là chỉ đào tạo ra những người làm nghề viết văn, chứ còn họ có trở thành nhà văn hay không thì phụ thuộc vào chính họ chứ... Ý ông muốn nói, sau khi học xong cái nghề, anh chưa thể là nhà văn được; muốn là nhà văn phải trau dồi tài năng và khổ luyện thì mới hi vọng thành. Cái đích của người học nghề viết văn tựu trung là: được trang bị một nền tảng học vấn trình độ đại học về văn chương và khoa học xã hội và nhân; được tiếp xúc với nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình, nhà trí thức có uy tín, theo đó cảm hứng, tiềm lực, khát vọng sáng tạo được đánh thức; được ý thức sâu sắc về tính chuyên nghiệp của người làm nghề viết văn; được khao khát sáng tạo/công bố tác phẩm để ghi dấu và khẳng định mình; nhờ vậy, hi vọng có thể rút ngắn con đường để dẫn đến thành công.

Tuy nhiên, mô hình dạy, học viết văn hiện nay cũng cần phải thay đổi theo hướng năng động, thực chất hơn, hiện đại hơn. Như ngoài loại hình lớp 4 năm, nên bổ sung loại hình lớp ngắn hạn: 2 năm (văn bằng 2), 1 năm, hoặc đơn vị kì, tháng, tuần... Ngoài mô hình đào tạo cử nhân, nên đào tạo hệ cao học viết văn (tham khảo mô hình đào tạo quốc tế). Trong chương trình, nên bỏ bớt hoặc rút ngắn những môn học xa, ít, hoặc không thiết thực đối với việc đào tạo nghề viết văn. Muốn trở thành nhà văn, người ta không thể không tự học suốt đời. Tăng cường tiếp xúc với các nhà văn có tay nghề cao, có thành tựu và phong cách độc đáo, qua đó học hỏi, tham khảo, rút ra con đường đi cho riêng mình. Thứ nữa, nên đi theo tinh thần viết văn ứng dụng, nghĩa là trang bị, khuyến khích người học những tri thức để có thể làm báo, viết kịch bản sân khấu, điện ảnh, làm truyền thông văn học nghệ thuật, dịch thuật, biên tập văn học... Như vậy, người học sẽ có thêm nhiều cơ hội làm nghề, mở ra những chân trời sáng tạo khác.

Còn ở ý sau, thời đại ngày nay là thời đại của truyền thông đại chúng, nó như một cỗ máy khổng lồ kéo những người sáng tạo vào phục vụ cho nó, nên sản phẩm văn hóa, văn học đại chúng (gắn liền với yếu tố thị trường, dễ đọc, dễ hiểu, nặng về giải trí, mang tính ngắn hạn...) tất yếu lên ngôi là lẽ dĩ nhiên. Do đó, một khi văn hóa đại chúng lên ngôi, nó sẽ đẩy văn hóa tinh hoa (gắn liền với đội ngũ sáng tạo tinh hoa, sản phẩm tinh hoa) lùi vào hàng sau, bên lề, lép vế, thậm chí thất bại (hiểu theo nghĩa ít được đón nhận, ít người mua, ít người đọc). Đây là một thực trạng có tính toàn cầu.

Tuy nhiên, thế giới họ rành mạch về chuyện này: đại chúng cứ đại chúng, tinh hoa cứ tinh hoa, không có chuyện nhập nhèm. Để có được sự rành mạch này, vai trò của các nhà phê bình có uy tín là rất quan trọng. Ở ta thì ngược lại, như tôi đã nói ở trên, tác giả đại chúng lại cứ tưởng mình là tinh hoa; tác giả tinh hoa có khi lại tự nguyện biến mình thành đại chúng với lí do hoặc vụ lợi, hoặc thỏa mãn cơn khát nổi tiếng chẳng dễ có... Lòng con người ta như cái thùng không đáy vậy. Tôi nghĩ, một xã hội lành mạnh biết chấp nhận sự tồn tại cả đại chúng và tinh hoa, nhưng không được nhầm lẫn; cả người sáng tác, người đọc, người quản lí không được nhầm lẫn. Để không được nhầm lẫn phải có trình độ hiểu biết nhất định. Khi đó, những nghệ sĩ chuyên nghiệp, chân chính, có khao khát cống hiến sẽ có đất để thi thố sẽ được tôn vinh...

- Ở trên chúng ta đã nói về báo chí, văn chương, đào tạo văn chương tách biệt. Còn một thể loại lai giữa báo và văn là bút kí văn học, là người viết, đa số đều từng viết thể loại này, nhưng để hay, ấn tượng, có được một cái tên trên văn đàn là rất hiếm. Là người từng có nhiều năm giảng dạy báo chí ông nghĩ sao về chất lượng bút kí, phóng sự, ghi chép ở các tờ báo ta hiện nay?

+ Tôi cho rằng, hiện nay các thể loại trong loại hình kí đang có xu hướng nghiêng về thông tấn, coi trọng thông tin, sự kiện, ít chất văn, ít các tính sáng tạo, ít ấn tượng. Ở đây, không phải tôi xem thường kí báo chí (thông tấn). Nó rất quan trọng. Nó có môi trường tồn tại của nó. Điều tôi muốn nói là người viết phải ý thức được một cách tinh tế sự khác nhau và ưu thế cũng như vẻ đẹp của mỗi kiểu dạng đó. Một khi đã đăng các tác phẩm kí trên các báo chuyên văn nghệ, nên xem đó là nơi phô diễn của kí văn chương. Do không ý thức sâu sắc về điều này, nên có người viết kí văn chương lại ra kí thông tấn và ngược lại. Một thời kí văn chương như của Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Võ Phiến, Đỗ Chu... nay còn đâu? Dĩ nhiên cần phải viết khác họ, nhưng cái tinh thần sáng tạo và phẩm giá nghệ thuật nói chung vẫn luôn cần thiết.

Thêm một ý nữa, tôi nghĩ, nếu viết kí tư liệu, bên báo chí họ viết tốt hơn các nhà văn. Đó là sở trường của họ. Cánh nhà văn sẽ có sở trường hơn ở chỗ có điều kiện suy tư, liên tưởng về các giá trị nhân văn lâu bền, về mĩ học và triết học, thể hiện cá tính trong cái nhìn, trong câu chữ... Điều này làm nên sự độc đáo và chiều sâu cho tác phẩm. Theo đó, tác phẩm hi vọng có sức sống lâu bền... Trong bối cảnh các trang mạng xã hội phát triển mạnh mẽ như bây giờ, lại công nghệ AI đang làm mưa làm gió, nếu viết không có cá tính, nghèo trí tuệ, câu chữ không có hơi người thì loại hình kí rất dễ bị mất giá. Cũng xin nói thêm, ngay cả kí báo chí cũng đang có sự thay đổi để thích nghi với bối cảnh mới: tăng cường tính trí tuệ, khả năng phân tích, cá tính người cầm bút. Nên kí văn chương không có lí do gì để đứng yên tại chỗ.

- Nhắc đến cái tôi, rồi cái AI, quả thật nó là thách thức cho bất cứ một tòa soạn, một cuộc thi nào ở thời điểm hiện tại. Như bên Nhật, cuộc thi thơ ngắn tồn tại 20 năm đã buộc phải hủy bỏ vì người chấm không phân biệt được đâu là người, đâu là AI, sẽ khó có sự công bằng giữa các thí sinh. Thậm chí, ban tổ chức cuộc thi đó đang cân nhắc đến việc tổ chức thi, người thi sẽ phải sáng tác tại chỗ. Ông nghĩ sao về sự sáng tác trong thời đại AI hiện nay khi mà tất cả mọi sự “khó nhằn” đều dồn về phía biên tập viên?

+ Quả thật đây là một thử thách lớn đối với các biên tập viên, các tòa soạn hiện nay. Giá như người viết dám trung thực dán nhãn cho tác phẩm (người viết, có sử dụng AI, AI viết và người sửa) thì biên tập đỡ vất vả. Cái nguy là một số người viết chơi trò tháu cáy, lập lờ đánh lận con đen. Trên thực tế, những ngày vừa qua, không ít tờ báo đã để lọt lưới sản phẩm AI viết - những sản phẩm lạm dụng AI một cách thiếu tự trọng. Khi tôi đọc văn học, đến lúc phát hiện có dấu vết AI, người tôi bỗng cảm thấy rã rời, và ngay sau đó bỏ luôn không đọc nữa.

Để tránh được điều này, các biên tập viên trước hết phải nâng cao... trình độ AI, để cao tay phát hiện các trường hợp lạm dụng AI. Sau nữa, nếu chịu khó để ý trong khi đọc sẽ dần hình thành một thứ gọi là trực giác nhận biết tốt. Và nên có thái độ mạch lạc với những sản phẩm như vậy. Một điều đáng ngại nhất hiện nay là mặc dù cảm nhận được một số văn bản có sử dụng AI, nhưng chúng ta không có khả năng lập án, không xác quyết được. Có thể, chỉ bằng cách đối thoại trực tiếp với những người làm ra nó, hồi cố cái quá trình mà anh, chị ta tạo ra sản phẩm, trò chuyện về những thứ được coi là trải nghiệm cá nhân, về các thủ pháp có tính kĩ thuật, bếp núc... may ra mới khẳng định được. Tôi là người tham gia giảng dạy mấy môn viết văn cho sinh viên, tôi vẫn thường làm như thế, nhưng rất tốn công tốn sức... Viết văn, cả văn hư cấu và phi hư cấu (lưu ý, không nói đến nghiên cứu, phê bình) nếu lạm dụng AI, sẽ là cách tự bào mòn, tự làm rỗng cảm xúc, năng lực tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, cá tính sáng tạo của mình - một cách tự hủy diệt tay nghề. Tôi thấy có người ban đầu viết rất khá, sau sử dụng AI và đánh lừa được độc giả, được đà sử dụng mãi thành quen, đến bây giờ viết cái gì cũng dùng AI, cả cái comment cũng dùng AI. Thế là danh xưng nhà văn ở họ đã bị tiêu tán dần. Người ta không tin và không đọc những gì họ viết nữa.

- Xin phép ông được hỏi riêng tư một chút. Có điều tôi vẫn thắc mắc từ xưa, là từ một người làm nghiên cứu, giảng dạy văn học, cơ duyên nào đưa ông đến với sáng tác, cụ thể ở đây là truyện ngắn. Liệu ông có ấp ủ dự định gì dài hơi hơn nữa không, như tiểu thuyết chẳng hạn?

+ Điều này cũng từng có người hỏi tôi. Thực ra lí do rất giản dị thôi. Ngày bé, và ngay cả khi đi học đại học, tôi đã mê viết văn. Tôi từng viết đủ thứ: thơ, truyện ngắn, kịch bản, kí... Nhưng tất cả bất thành. Sau do gắn với công việc giảng dạy đại học, buộc phải nghiên cứu, tôi mới tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu phê bình. Dừng ở lĩnh vực này, tôi cũng có vài thành tựu khiêm tốn. Nhưng đến khi về giảng dạy ở môi trường viết văn, cái khát vọng âm thầm sáng tác bỗng trỗi dậy. Thế là tôi lại cầm bút viết truyện ngắn. Viết cho thỏa cái khao khát bất thành thời trẻ. Cũng thêm cái ý này nữa: dạy ở khoa sáng tác, sinh viên gần như toàn phần sáng tác, tôi cũng muốn cùng thử sức với sinh viên, để thầm nói với họ rằng tôi sẽ cùng các bạn phấn đấu, rằng nếu tôi có ít nhiều thành tựu thì tôi sẽ tự tin để đối thoại với các bạn hơn. Nhà văn Đỗ Tiến Thụy khi chọn đăng cái truyện Quạt giấy của tôi trên Văn nghệ Quân đội ngày nào có phát hiện ra cái ý này. Bởi mỗi truyện ngắn của tôi, dù ít hay nhiều, tôi đều có ý thể nghiệm một vài khía cạnh của nghệ thuật tự sự. Còn ý định sắp tới ư? Tôi chẳng có chiến lược gì đâu. Khi thấy muốn viết, có cảm hứng viết thì tôi viết; còn không thì thôi, tôi không cố. Trong văn chương, cứ cố quá thường là thất bại. Tôi làm nghề thường mang tâm thế co duỗi thoải mái, ít cưỡng cầu, cứ thuận theo tự nhiên mà đi...

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thẳng thắn và thú vị này!

ĐINH PHƯƠNG thực hiện

VNQD
Thống kê