. SƯƠNG NGUYỆT MINH
Tình yêu người lính
Buổi sáng, đầu tháng Chạp. Trời nắng đẹp và hơi se se lạnh.
Chúng tôi gặp chị Nguyễn Thị Bình - phu nhân Trung tướng Phạm Chân Lý ở nhà riêng. Ấn tượng đầu tiên về chị là lành hiền, dễ gần và thân thuộc. Câu chuyện bắt đầu từ tuổi tác. Chị sinh năm 1954, tuổi Giáp Ngọ, cầm tinh con ngựa nhưng là ngựa trong mây (Vân Trung Chi Mã). Phụ nữ tuổi này giàu nghị lực vượt khó, tháo vát, khéo léo. Trung tướng Phạm Chân Lý sinh năm 1952, tuổi Nhâm Thìn, cầm tinh con rồng nhưng là rồng phun mưa (Hành Vũ Chi Long) thông minh, linh hoạt, năng động, thích ứng cao và có tầm nhìn xa rộng. Chị Bình là con cả trong một gia đình có 10 chị em - bảy gái, ba trai. Thời đó bà nội còn sống, nhà tới mười mấy người ăn. Dọn mâm cơm ra, con cả thường hay ngồi đầu nồi, xới cơm mỏi tay cho các em. Nhà đông con, kinh tế khó khăn nhưng bố mẹ chị vẫn cố cho các con đi học, có lúc bảy, tám chị em cùng đến trường, toàn đi bộ. Chị là con lớn nhất nên cùng với mẹ lam lũ lo toan mọi việc. Ngoài đi học, cô bé Bình còn chăn trâu, cắt cỏ, làm việc nhà, làm vườn, và cùng mẹ cấy mấy sào ruộng.

Trung tướng Phạm Chân Lý
Chị Nguyễn Thị Bình nhớ lại, khi học lớp 9, anh chị đã gặp nhau, đi chơi như bạn bè. Anh thôi học cấp ba vì trường xa quá, có năng khiếu văn nghệ, tài lẻ đánh đàn bầu, thổi sáo nên anh tham gia phong trào xã. Cái sáo dắt lưng, anh đi dọc đường làng vừa đi vừa thổi Quảng Bình quê ta ơi; Anh vẫn hành quân... đến tận cây cầu mà cánh thanh niên hay ra ngồi hóng gió. Mà cái thời ấy yêu nhau hồn nhiên, trong sáng lắm và rụt rè. Anh viết cho chị mấy dòng chữ vào mảnh giấy con con hẹn hò đi chơi, không dám thể hiện tình cảm. Lần thứ hai, viết thư dặn chị đừng cho ai xem, nói xa nói xôi nhưng vẫn chưa tỏ tình. Lần thứ ba, trước ngày lên đường nhập ngũ, anh mới dám tỏ tình, tỏ tình trực tiếp. Chị chưa dám nhận lời, e thẹn nói: “Em còn đang phải đi học”. Anh bảo: “Anh còn phải đi bộ đội, chúng mình chờ nhau”. Lúc ấy, tự nhiên trong lòng trào dâng một tình thương dào dạt, chị bảo: “Nếu anh nghĩ được như vậy thì em sẽ chờ”. Anh có nhiều cô gái mê; chị cũng nhiều chàng trai săn đón, tán tỉnh, ngỏ lời yêu rủ đi chơi, nhưng chị không nhận lời ai. Đi chơi rủ bạn bè đi cùng, ríu rít chuyện trò, chứ ít khi anh chị đi chơi riêng. Dạo đó đã qua thời cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, trai gái được tự do yêu nhau, nhưng yêu theo kiểu trong sáng, hồn nhiên và chung thủy lắm.
Trước ngày nhập ngũ, anh cứ chạy đi chạy lại sang bên nhà chị chơi một lúc rồi về, rồi lại sang, đến tận đêm muộn. Anh chở chị bằng xe đạp của chị lên xã Khánh Cường tập trung từ ngày hôm trước, về quê cũ gần nơi nhập ngũ ở lại một đêm để sáng hôm sau đến nơi tập trung sớm. Chị vẫn nhớ đến xã Khánh Trung thì máy bay Mĩ phóng rốc két vào trại chăn nuôi ở chợ Cát. Anh chị vội vàng bỏ xe đạp nhảy xuống hố cá nhân trú ẩn. Đêm ấy, chị về nhà bác, anh về nhà bà nội.
Tôi bảo: “Tưởng là cả đêm ấy anh chị phải ở bên nhau, thức trắng cả đêm chứ?”
Chị cười: “Chả dám đâu. Thời ấy, trai gái mà thế các cụ đánh chết”.
Trong sáng quá. Hồn nhiên quá. Thực ra là dại khờ. Lơ ngơ. Yêu nhau, nhớ nhau, nhưng giữ gìn một khoảng cách vô hình và cả hữu hình, không dám làm gì quá đà. Chị bảo: Người yêu đi bộ đội, biết là cách xa mỗi người một nơi buồn lắm, mà chỉ biết chúc anh đi mạnh khỏe, chả dám nói lời yêu…
Sau ngày nhập ngũ là mấy tháng huấn luyện, rồi anh vào chiến trường. Xa lại càng xa biền biệt. Chiến trường ác liệt, anh luôn ở nơi bom đạn, chẳng mấy khi viết được thư và chẳng mấy khi nhận được thư nhà. Có lá thư anh viết gửi đi từ đầu năm 1973, mà sau ngày giải phóng (30/4/1975) mấy tháng thư mới về đến nhà. Ở quê người thì đồn ầm lên anh bị thương, người thì bảo anh chết rồi...
Trung tướng Phạm Chân Lý kể tiếp với tôi.
Sau gần 2 năm ở chiến trường, anh được ra Bắc. Trước ngày nhập Trường Sĩ quan Lục quân học, anh được nghỉ tranh thủ về thăm nhà mấy ngày. Xuống xe ô tô, khoác ba lô rảo bước. Náo nức. Xốn xang. Làng quê thân thuộc, đồng ruộng xanh tươi hiện dần lên trong tầm nhìn. Cách đầu làng khoảng một cây số thì các bà các cô các chị trong xóm đang làm cỏ lúa dưới ruộng ngước nhìn lên thấy một anh bộ đội đội mũ tai bèo, khoác ba lô rảo bước.
Bất chợt có ai đó thảng thốt kêu:
“Hình như thằng Lý nhà bà Thê đang về kia kìa!”
Ai đó lại bảo:
“Không! Người ta đồn anh ấy hi sinh rồi, còn sống đâu mà về”.
Có người lại nói:
“Sao người ta bảo nó bị thương cụt chân. Cụt chân thì phải chống nạng đi tập tễnh chứ sao đi thẳng người ngay ngắn thế kia”...
Khoảng cách mỗi lúc một gần, rồi mọi người ồ lên nhận ra anh bộ đội đội mũ tai bèo, khoác ba lô về làng đúng là anh Lý con bà Thê. Cả đám đàn bà con gái đang làm cỏ lúa hợp tác xã vác cào ùa lên bờ ruộng, nháo nhào chạy lên đường cái. Người dán mắt vào mặt anh bộ đội gầy đen sạm mùi thuốc súng xem có đúng anh Lý làng mình không. Người cầm tay lắc lắc. Người cúi xuống vén quần Lý lên xem chân có bị thương như người ta đồn không... Anh trung đội phó từ chiến trường ra ngạc nhiên, rồi cũng hiểu ra, bảo: “Em làm sao mà chết được. Em cao số lắm”.
Trong chiến tranh, có rất nhiều anh lính yêu tranh thủ, cưới tranh thủ, đó là một hiện thực thời chiến, chứng tỏ sức mạnh sinh tồn của dân tộc ta. Dù đã có người yêu hai năm, dù ra bắc nghỉ phép tranh thủ đủ thời gian cưới vợ, và cả suốt 4 năm rưỡi học văn hóa, học sĩ quan, nhưng chàng Phạm Chân Lý vẫn chưa xây dựng gia đình.
Tôi hỏi:
“Các cụ bảo: Lấy vợ thì cưới liền tay/ Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha. Anh chị yêu nhau đến 7 năm, có cơ hội mấy năm học sĩ quan ở Sơn Tây, sao anh không cưới chị mà để lâu thế?
Anh bảo:
“Lúc ấy còn trẻ, cứ để học đã, từ từ ra trường xem được điều đi công tác ở đâu đã chứ?”
Chị nói chen vào:
“Anh còn đứng núi nọ nhìn núi kia, còn so sánh cô này cô kia mới chọn vợ chứ”.
Anh biết chị trêu đùa, cười, bảo tôi:
“Lúc ra Bắc thì miền Nam chưa giải phóng, anh xác định học xong là phải đi chiến trường. Vả lại hầu hết học viên sĩ quan chưa có vợ mà”.
Chị chờ anh tốt nghiệp trường sĩ quan mới làm lễ thành hôn. Anh chị cưới nhau vào tháng 7 âm lịch năm 1977 - tháng Ngâu. Mà nói đến mưa Ngâu, tháng Ngâu là nói đến sự chia xa, cách trở... Chiến tranh, người lính thì làm gì có sự chọn ngày để rước nàng về dinh. Cho nên, tình yêu của anh chị trong dằng dặc nhớ nhung, đợi chờ...
Cưới xong được bảy ngày, rồi anh đi, đi một mạch hai năm sau mới trở về. Những năm anh đánh giặc ở Biên giới Tây Nam và Chiến trường K - Campuchia cũng là những năm chị héo hon đợi chờ, mong ngóng.
Một thời lam lũ mưu sinh
Khi đơn vị anh từ Chiến trường K rút quân về nước cũng là lúc sĩ quan bắt đầu được nghỉ phép. Người ta thường xin nghỉ phép vào dịp Tết Nguyên đán để gặp gỡ được nhiều người thân, anh trung tá có thâm niên 10 năm đánh Mĩ, đánh Pol Pot lại chọn đăng kí nghỉ phép vào tháng 10, tháng 11 âm lịch heo may nắng vàng, chỉ để làm một việc trọng đại... đóng gạch xây nhà cho vợ con. Hai vợ chồng nhào đất, vào khuôn. Làm nhà ở quê, thiếu thốn quá, anh bán sạch mũ cối, quần áo bộ đội lấy tiền phụ vào. Nhà như một công trường, nhiều hôm nhờ cả các em phụ giúp đông vui nhộn nhịp, khi đốt lò phải nhờ thợ kĩ thuật, vậy mà cũng lần lượt đốt được năm lò gạch ngay trong vườn nhà mình.
Căn bệnh sốt rét theo anh từ chiến trường, về nhà, tham công tiếc việc, vất vả quá, bệnh lại tái phát, anh lăn ra ốm. Nhưng cứ dứt cơn sốt lại đào ao, vượt nền, đóng gạch. Anh bảo: Lúc ấy, nào có dám mơ tưởng xa xôi, chỉ nghĩ cố làm cái nhà có nơi ra nơi vào để đến khi nghỉ hưu thì về vui hưởng tuổi già. Cũng may, chị là giáo viên bổ túc ở quê, xã cho mảnh đất 700m2, sau đó cơ quan chị cho thêm nữa, tổng cộng hơn một ngàn mét vuông. Gạch tự nung lấy, xây được cái nhà bốn gian, năm 1986 mới xong ba gian, còn cái gian quầy chưa xong, sang năm 1987 thì chị lăn ra ốm. Ốm là vì chị ở nhà vất vả, lam lũ quá. Vừa dạy học, vừa làm nghề nông, rồi trồng rau nuôi gà, vượt nền đất, đóng gạch, ăn uống thì tằn tiện tiết kiệm... sức lực hao mòn, cạn kiệt lúc nào chẳng biết.
Năm 1988, anh đưa chị vào An Khê xa lắc xa lơ - nơi anh đóng quân để gần chồng và chữa bệnh. Ông Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn Phạm Bá Tường thăm khám xong, bảo:
“Anh phải đưa chị đi viện ngay. Không thể chữa lá lẻo của lang băm”.
Xuống Quân y viện 13 của Cục Hậu cần - Quân khu đóng ở Quy Nhơn, ông Trình - Phó viện trưởng khám bệnh xong, thảng thốt kêu:
“Chết rồi. Sao anh để chị nặng thế này mới đưa đi viện”.
Anh chả biết nói thế nào, mà có trình bày nguồn cơn vợ bị bệnh và bệnh nặng ra sao thì cũng phải hết cả tiếng đồng hồ.
Trong phòng kĩ thuật, anh bác sĩ lấy kim dài hơn 20cm chọc hút hơn 3,5 lít mủ. Hóa ra, chị bị lao cột sống, lúc đầu không phát hiện ra. Cái bệnh lao quái quỷ này nó không gây ho hắng gì. Anh chị nghe lang băm bảo chữa bằng thuốc gia truyền, nó kê thuốc chữa vôi hóa cột sống ba tháng trời không khỏi. Không phát hiện sớm, chữa sớm, lại bệnh một đằng chữa một nẻo nên cơ thể mòn mỏi suy kiệt. Vi trùng lao gây áp xe cột sống, ăn mòn đĩa đệm, hai đĩa đệm dính vào nhau, tủy sống dò ra ổ bụng. Người gầy tong teo chỉ 35kg. Hậu quả của những năm tháng xa chồng, lao lực lao tâm, tham công tiếc việc, không mấy khi dám nghỉ ngơi.
Chị được điều trị một tháng rồi chuyển lên Quân y viện 17 tuyến cuối của Quân khu 5 ở Đà Nẵng. Lúc đó, hoàn cảnh gia đình anh chị cực kì gieo neo. Con lớn phải để ở quê Khánh Thành ngoài Bắc cho bà nội nuôi, đứa thứ hai gửi mấy cô y tá, y sĩ bệnh xá sư đoàn trông coi, chăm sóc giúp. Các chỉ huy sư đoàn thấy hoàn cảnh ái ngại quá, bảo anh Trung tá, Tham mưu phó Sư đoàn Phạm Chân Lý: “Bà ấy nằm ở viện 17 thân một mình không ai chăm sóc, là khó khăn lắm đấy. Ông cũng mắc bệnh dạ dày, nhân tiện ông xuống đó nằm điều trị cùng rồi chăm vợ luôn đi”. Mừng quá! Được lời như cởi tấm lòng, anh bàn giao công việc rồi đi nằm viện vừa điều trị vừa chăm vợ.

Trung tướng Phạm Chân Lý cùng phu nhân.
Trung tướng Phạm Chân Lý nhớ lại: Đêm giao thừa năm ấy mới cám cảnh làm sao! Hai vợ chồng trơ trọi nằm ở buồng cách li, nghe tiếng chúc mừng năm mới rộn rã bên ngoài và pháo nổ vang trời mà ứa nước mắt. Nhớ đứa con gái lớn đang đón giao thừa ở ngoài Bắc, nhớ bố mẹ hai bên nội ngoại và đứa con gái thứ hai đang ở với các cô y tá của sư đoàn. Những ngày tết hai vợ chồng nằm viện, con một nơi bố mẹ một nẻo, ai nhìn thấy cũng lắc đầu, thở dài, thương.
Điều trị một thời gian, bệnh viện chỉ định chuyển chị ra Viện lao K71 ngoài Thanh Hóa điều trị. Anh hoảng quá, hoàn cảnh gia đình gieo neo thế này, chuyển viện, vợ nằm một bệnh viện ngoài Bắc, chồng nằm một bệnh viện trong Nam thì xoay xở ra sao. Anh đánh liều, trình bày hoàn cảnh gia đình, và xin điều trị tại chỗ bằng sự tin cậy tuyệt đối với bác sĩ quân khu. Cũng may điều trị bệnh chuyển biến nhanh, cả anh và chị sức khỏe đều tốt dần lên.
Anh còn nhớ, khi anh chị đã có đứa con gái lớn, anh đánh giặc ở Campuchia bị sốt rét ba tháng trời, sốt cách nhật, cả tuần không ngủ thức trắng đêm. Y sĩ tiêm thuốc moóc phin mới ngủ được. Có một lần đang tiêm, đoàn bác sĩ của Cục Quân y vào kiểm tra phát hiện được. “Các cậu giết thủ trưởng các cậu rồi”. Họ chỉ định dừng lại, cấm không được tiêm, điều trị bằng phác đồ mới. Không tiêm moóc phin, mấy tháng sau anh vẫn không ngủ. Về sau uống nước nấu lá cây lạc tiên, dần dần mới ngủ được. Dạo anh còn vẫn sốt rét triền miên, chị nghe người ta nói bộ đội sốt rét nhiều người không có con. Chị lo lắng, âm thầm lo. Lo chồng ở chiến trường. Lại lo không có con. Anh cứ biền biệt ở chiến trường, chị ở nhà chờ đợi đến héo hon, thông tin về nhau chủ yếu qua thư. Chị bảo cứ nhận được là mừng là biết chồng còn sống tính đến ngày chồng viết thư. Còn sau đó thì chả biết, thậm chí ngay cái ngày nhận được thư, đang đọc thư cũng chẳng biết chồng sống chết ra sao nữa.
Yêu anh, lấy anh làm chồng, chị Nguyễn Thị Bình có ba thời gian chờ đợi anh đi đánh giặc, tổng cộng 10 năm ở chiến trường. Thời đang yêu, chị chờ gần 2 năm anh ở chiến trường Lào và mặt trận Quảng Trị. Thời làm vợ anh, chị thêm 2 lần nữa đợi chờ: một lần chờ hơn 3 năm anh chiến đấu ở Biên giới Tây Nam và Chiến trường K; về nước được hơn 2 năm thì anh lại sang chiến đấu ở Chiến trường K, thêm một lần nữa xa xôi cách trở gần 4 năm, đến tháng 7 năm 1987 mới được về hẳn đất nước mình.
*
* *
Thời ở An Khê, lúc từ quê mới vào, gia đình anh chị ở nhờ nhà khách của sư đoàn. Dạo đó, kinh tế khó khăn, nhiều cán bộ sĩ quan phải ứng tiền đi công tác, ứng tiền lương trước đi phép thăm nhà ngoài Bắc, ứng tiền vài tháng để mua vật liệu xây nhà,... Trong đơn vị, có chuyện tị nạnh nhau: anh này ứng được, anh kia không. Có người ứng đến thời hạn chưa có tiền trả. Đơn vị đưa lên đài phát thanh nội bộ nhắc nhở đọc oang oang.
Chị kể: Một hôm cuối giờ chiều, chị và đứa con đang ngồi chơi ở sân nhà khách sư đoàn nghe loa đọc tên chồng ứng tiền đơn vị chưa trả, chị bảo con: “Mẹ con mình vào đây, bố nợ tiền nhiều thứ nhì đơn vị thì biết bao giờ mới trả hết”. Đứa con nhỏ chả hiểu chuyện gì nhưng vẫn nhận ra gương mặt buồn, lo lắng của mẹ. Tối về, chị bảo chồng: “Hay là anh cho mẹ con em về quê”. Anh bảo: “Em cứ yên tâm để anh thu xếp. Mọi việc sẽ ổn thôi”. Hôm sau, các anh lãnh đạo sư đoàn biết, động viên an ủi chị: “Bây giờ chị về quê một nách mấy đứa con, lại đau ốm thì xoay sở thế nào? Chị cứ ở lại, nước nổi thuyền sẽ nổi”. Hóa ra, lúc làm nhà ở quê không có tiền, anh xuống ban tài vụ xin ứng tiền lương trước nhưng giấu vợ vì chị ốm đau phải chi tiêu, làm nhà phải chi tiêu. Tất tần tật đều phải trông vào đồng lương sĩ quan, mà lương thời ấy sức mua được mấy đâu, không ứng tiền thì lấy gì mà trang trải việc nọ việc kia.
Có một lần may mắn đến với anh chị. Đó là hôm anh đi ra thị trấn An Khê làm việc, anh Diện - Trưởng công an huyện hỏi han chuyện gia đình, rồi bảo: “Ông Lý nên đưa vợ con ở hẳn trong này mà ổn định hậu phương gia đình”. Anh ngại ngùng phàn nàn: “Tôi đang khó khăn quá, vợ yếu đau con thì nhỏ dại, không có tiền thì sao mua được đất”. Anh Diện bảo: “Ông cứ đưa vợ con vào đi. Tôi cho mấy trăm m2 đất làm nhà mà sinh sống”. Anh ấy cho thật, cho mấy trăm m2, nhưng sâu tun hút ở phía trong cánh đồng lúa hẻo lánh, xa xôi. Xa xôi, nhưng mình tay trắng có đất là mừng như bắt được vàng rồi. Lúc ấy, một số anh em nghỉ hưu trước khi rời khỏi đơn vị được cấp cho mấy tạ bột bả (nó là loại vật liệu có công dụng gần bằng xi măng), vì người Bắc xa xôi quá không mang về được, anh xin mua lại. Rồi mua gạch, thuê đội xây dựng của Trung đoàn 368 thi công. Mấy mẹ con chị vẫn ở nhà khách của sư đoàn, nhưng anh không dám nói với chị là đang làm nhà. Bố chị mất, anh cũng giấu luôn, bởi sợ ảnh hưởng đến sức khỏe chị, sợ chị biết rồi lo lắng, buồn rầu, sốc. Lúc cất nóc phải nhờ anh hàng xóm gần nhà đến đặt cây xà nóc. Giấu chị đến lúc bà ngoại cho đứa em gái vào giúp bế đứa bé thứ ba, nó buột miệng kể mới biết bố mất, nhưng hai năm sau chị mới về quê thắp hương viếng bố được.
Xây dựng xong căn nhà cấp bốn trên mảnh đất mấy trăm mét vuông được cho xa xôi, heo hút, mừng quá, anh xin xe đưa mấy mẹ con từ nhà khách đơn vị về nhà mới. Lúc đầu, chị trồng rau, sau thì nuôi lợn. Có chị bạn ở Bắc vào cùng cảnh ngộ biết nấu rượu, chỉ cho cách ủ men. Anh đi công tác Quy Nhơn, về qua vùng Tây Sơn mua được cái nồi nấu. Chị nấu rượu bán, lại lấy được bã nuôi lợn. Được cái chị mát tay lợn lớn nhanh như thổi. Trong chuồng bốn năm con lợn thịt, hai con lợn nái. Ngày thứ bẩy, chủ nhật anh phóng xe máy đến tận Hà Tam cách xa ba mươi cây số mua sắn, mua ngô về làm thức ăn nuôi lợn. Cũng may, dưới Hà Tam có một trung đoàn đóng quân ở đó, anh em mua hộ sắn ngô, có xe lên sư đoàn họp thì họ lại chở giúp. Có khi mua cả tấn sắn tươi rồi bóc vỏ, ngô tươi thì bóc bẹ phơi khô dự trữ. Lương sĩ quan khi đó thấp lắm. Chị đong gạo chịu cả tạ, lấy gạo đó nấu rượu, bán rượu rồi mới trả tiền mua chịu gạo.
Chị vào An Khê 10 năm, 5 năm đầu ốm đau quặt quẹo, 5 năm sau sức khỏe khá hơn, thì cũng gần hết là thời gian anh đi học, xa nhà. 10 năm An Khê, chị nấu rượu, trồng rau, nuôi lợn, nuôi 4 đứa con và cậu em nữa. 10 năm ở An Khê, dù khó khăn, gian nan đủ đường, anh chị cũng kịp làm được cái nhà cấp bốn, đẻ thêm hai đứa con và anh cũng hoàn thành khóa học cơ bản Chỉ huy Tham mưu cấp Chiến dịch - Chiến lược ở Học viện Quốc phòng.
Năm 1996, anh được điều về Cục Quân lực công tác thì năm 1998 mới đưa vợ con ra Hà Nội. Như vậy, anh chị có 2 cuộc thiên di chiến lược. Cuộc vào An Khê năm 1988, sinh sống 10 năm, để rồi năm 1998 lại bốc cả gia đình ra Hà Nội sinh sống cho đến tận ngày nay.
Nghe chuyện gian nan của gia đình Trung tướng Phạm Chân Lý mà tôi toát mồ hôi. Chẳng bao giờ tôi nghĩ, tưởng tượng ra nổi có một vị tướng quân thành đạt mà phải đi qua nhiều gian lao như thế! Đi qua gian lao, đi hết con đường binh nghiệp bằng ý chí thép và nghị lực kiên cường…
Tôi hỏi bất chợt:
“Chị Bình ơi! Chị có bao giờ nghĩ chồng mình lên cấp tướng mà lên tận Trung tướng không?”
Chị bảo:
“Chưa bao giờ. Tôi chỉ nghĩ được làm tí nhà tí cửa rồi anh Lý hết nghĩa vụ quân sự về nghỉ ngơi nuôi con ăn học, chú ạ”.
Anh cũng bảo, chưa bao giờ anh tưởng tượng mình sẽ lên cấp tướng. Anh chỉ nghĩ nếu quân đội cử đi học thì học bổ túc thôi, học xong về làm việc thời gian nữa rồi nghỉ hưu. Ba lần gọi đi học dài hạn ở Học viện Quốc phòng, anh đều đề nghị xin hoãn, thậm chí còn đề đạt nguyện vọng chỉ xin đi học ngắn hạn. Nhưng Cục Cán bộ đưa anh vào diện quy hoạch đào tạo cơ bản, lâu dài. Ông Cục trưởng vào làm việc ở Sư đoàn, bảo: “Ông Lý nhá. Không có ngắn hạn, bố túc gì nhá. Ông là cán bộ trẻ, đã kinh qua chiến đấu 3 chiến trường. Bộ quy hoạch rồi, ông phải đi học đào tạo”. Cuối cùng, anh nghĩ cũng phải, và chấp nhận quyết định đi học đào tạo.
Tôi lại hỏi chị Bình:
“Ngày anh làm Cục trưởng Cục Quân lực có bao giờ chị phải tiếp khách đến cậy nhờ?”
Chị Nguyễn Thị Bình bảo:
“Không! Chỉ thỉnh thoảng mới có các anh, các chú đến chơi ngày chủ nhật thôi”.
“Em tưởng là nhiều người ngại gặp anh ở cơ quan, thì đến nhà muốn qua chị để nhờ vả chứ?”
“Không! Đặc biệt chuyện đó thì tôi không làm. Cũng có người gọi điện muốn gặp tôi nhờ vả nhưng tôi không bao giờ nhận lời. Tôi bảo: Tôi không biết gì về công việc quân đội cả, chú đến cơ quan gặp anh mà giải quyết”.
Trung tướng Phạm Chân Lý nói xen vào:
“Tôi đã nói trước quan điểm của tôi với bà ấy rồi: Cái chính trường đó bà không biết đông tây gì đâu, nên đừng tham gia vào. Mọi việc để mình tôi giải quyết”.
Chị cười như xác nhận lời nói của chồng. Chị kể thêm, chưa bao giờ tôi hỏi chồng lương được bao nhiêu. Có đồng lương nào, anh ấy giữ lại một ít tiêu vặt, còn bao nhiêu đưa hết cho tôi rồi mà. Có cô bạn hỏi tôi: “Chồng mày làm to thế, lương tháng được bao nhiêu?” Chịu! Tôi cũng chẳng biết lương anh ấy cụ thể một tháng được bao nhiêu đồng.
Chị quay sang nói với chồng: “Cái thời ấy mình khổ quen rồi, anh nhỉ. Mình không quá quan trọng về đồng tiền”. Chị lại nói với tôi: “Chồng mình đi làm suốt ngày, có đồng nào đưa hết cho mình rồi. Anh ấy cũng quá vất vả mà, có sung sướng gì đâu. Sáng ăn cơm vợ nấu, rồi đi làm. Không chơi bời ăn uống bên ngoài, trừ hôm nào phải tiếp khách, hay bạn bè mời; còn buổi trưa ăn cơm đơn vị, tối anh lại về ăn cơm nhà với vợ con”.
Nhìn ánh mắt, nét mặt của chị, tôi nhận ra chị tin anh vô cùng, yêu thương trìu mến anh vô tận. Và như dân gian thường nói của chồng công vợ, dường như mọi sự thành đạt của anh đều bắt nguồn từ quê hương, gia đình, đặc biệt đằng sau anh là người vợ tào khang - người gồng gánh cả hậu phương làm nền tảng, làm điểm tựa vững chắc cho cả đời binh nghiệp của anh. Anh nhận ra điều vô giá đó và đáp lại bằng tình yêu thương lớn thầm lặng của một người lính, của một tướng quân.
Kí ức không ngủ yên
Đi qua những năm tháng gian lao của đất nước, dân tộc, của người lính, Trung tướng Phạm Chân Lý hiểu được cái giá của chiến tranh, hiểu được cái giá trị của tình người, tình đồng đội những tháng năm trận mạc. Cái thời làm Cục trưởng Cục Quân lực, có lần anh về Quân khu 5 làm việc. Bên ngoài công việc là đời thường, anh vẫn nhớ có người chiến sĩ tên là Phan Đình Hương quê ở xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam một thời ở chiến trường Biên giới Tây Nam. Chiến tranh ác liệt, cán bộ chiến sĩ chia nhau từng ngụm nước lúc trời nắng nóng, từng nắm cơm vắt dưới mưa trắng trời, dưới làn đạn địch. Một đêm anh lên chốt tiền tiêu phòng ngự đánh quân Pol Pot. Chốt chỉ có Phan Đình Hương, Nguyễn Văn Lào và lúc đó thêm anh nữa là ba người. Đúng lúc địch bắn pháo vào chiến hào, công sự, binh nhất Phan Đình Hương bị thương, mấy mảnh đạn găm vào người. Lần tay sờ kiểm tra thấy đầu Hương không bị gì, nhưng máu chảy ướt đẫm áo, Đại đội trưởng Lý thảng thốt kêu: “Ôi giời ơi…”
Kỉ niệm xưa cũ bỗng dào dạt thức dậy tràn về.
Anh đã nhờ anh em trong quân khu đi tìm Hương và tìm được. Cựu chiến binh Phan Đình Hương cứ nhắc mãi về cái đêm trên chốt tiền tiêu có ba người năm ấy. Về sau, nhân dịp kỉ niệm 60 năm thành lập Trung đoàn Ba Gia, Trung tướng Phạm Chân Lý đặt vé máy bay cho hai vợ chồng Phan Đình Hương ra Hà Nội tham dự và gặp đồng đội. Anh lính chiến trận chốt tiền tiêu ngày ấy đến thăm nhà riêng của Đại đội trưởng năm xưa là Trung tướng bây giờ, gặp người cũ, nhớ cảnh xưa, sinh tình bỗng cất thành thơ, Phan Đình Hương bèn ứng tác: Những ngày ở chốt tiền tiêu/ Mùa mưa nước bạn đủ điều khó khăn/ Nhưng lòng chẳng chút băn khoăn/ Ngày thì ẩn nấp tối đêm ra ngoài/ Ba thằng một chốt lẻ loi/ Thức trợn con mắt ngồi chờ địch qua/ Hầm kèo được gọi là nhà/ C1 ở chốt hơn 3 tháng trời/ Có đêm địch bắn tơi bời/ DKZ địch bắn tơi nắp hầm/ Thủ trưởng Lý lại ân cần/ Ôi giời! Thương nhẹ cái đầu không chi/ Suốt đời tôi mãi khắc ghi. Đó là kỉ niệm sâu sắc của thời chiến binh. Đúng là tướng sĩ một lòng phụ tử, trong trận mạc cũng như ngày thường…
Bây giờ thì Trung tướng Phạm Chân Lý - Cục trưởng Cục Quân lực, Bộ Tổng Tham Mưu sau 41 năm binh nghiệp với 10 năm trận mạc đã về với cuộc sống thường nhật. Anh chị sống cùng gia đình con gái út tại một căn nhà xây 4 tầng khang trang trên đất quân đội bán cho có hai mặt tiền thoáng, rộng. Bốn đứa con gái của anh chị đều thành đạt, cùng công tác trong quân đội, cùng sống và làm việc ở Hà Nội, đã xây dựng gia đình riêng. Cứ mỗi chiều chủ nhật, con cháu kéo nhau về ăn uống, sum vầy. Anh chị dành cho mỗi nhà con gái một phòng; chúng nó về ở trong phòng đó, rồi nghỉ ngơi vui chơi với nhau, vui chơi với bố mẹ với ông bà.
Ở quê nhà Ninh Bình có công việc gì lớn, bốn gia đình con cái cùng anh chị lại rộn rã về quê. Niềm vui tuổi già an lành, bình dị sum vầy cùng con cháu cũng là hạnh phúc viên mãn thanh thản lúc cuối đời.
S.N.M
VNQD