. NGUYỄN NGỌC LỢI
Vùng quê đó mấy năm nay có nhiều người đổi đời nhờ nghề mua bán đồ đồng nát. Người ta đập nhà cũ xây nhà mới. Có người sắm được cả ô tô. Người bình thường cũng lên đời xe máy. Làng xóm ngày đêm xôn xao rộn rịch chuyện buôn bán làm ăn.
Người ta làm được sao mình lại không? Nghĩ thế nên hai người đàn ông tóc đã muối tiêu, là bạn thân gần nhà, lại cùng chiến đấu ở chiến trường Lào ngày trước liền bàn nhau sang đó xem sao, biết đâu rồi cũng đổi đời như thiên hạ.

Minh họa: Trương Đình Dung
Vùng đó sang Lào không xa lắm, thủ tục giấy tờ cũng không đến nỗi nhiêu khê. Sáng xuất phát, trưa đến cửa khẩu làm thủ tục, đổi tiền kíp, ăn trưa ở thị trấn bên kia giáp đường biên. Cơm nước nghỉ ngơi, hỏi han đường sá xong họ thống nhất túc tắc đi bộ, vừa rèn luyện vừa thăm dò. Đường xa vắng vẻ, cảnh sắc gợi nhớ, có bao nhiêu chuyện thời lính đều tuôn ra. Chuyện đã kể cho nhau bao nhiêu lần mà lúc này nghe vẫn cứ như mới. Khung cảnh mới, cảm hứng mới, chuyện sau mấy chục năm ấp ủ và chiêm nghiệm của lứa tuổi mãn chiều xế bóng đã trở nên thi vị. Ông An vốn lính đặc công, kể về những lần luồn rừng đột kích sào huyệt phỉ Vàng Pao ở vùng Xảm Thông - Long Chẹng. Những tên phỉ áo đen tóc dài đi rừng nhanh như sóc và ẩn hiện như ma. Để cho câu chuyện thêm phần mùi mẫn, ông tạc thêm chuyện về các em gái Lào tiếp tế cho bộ đội Việt Nam thế nào, chăm sóc mình lúc ốm đau ra sao. Cứ vậy chuyện nối tiếp chuyện. Mệt đâu nghỉ đấy, lại đi, rồi lại chuyện. Chuyện của ông Bình cũng không kém phần hấp dẫn. Xe vào kho nhận hàng, gặp mùa chiến dịch giữa rừng đặc bộ đội, dân công, anh lính xế nào cũng có một khối tình mang theo để nhấm nháp trên những chặng đường bom đạn...
Vào sâu hơn nữa làng bản thưa thớt, lâu lâu mới có vài cụm nhà bám bên đường hoặc cách mấy đám ruộng, mấy vạt cỏ, thấp thoáng dưới bóng me bóng táo. Lâu lâu họ rẽ vào một nhà nào đó xin nước uống và thăm dò nguồn hàng rồi lại đi tiếp. Chiều ngày thứ hai, hai người quyết định dừng lại ở một thị trấn trên đường 13.
Thị trấn bên bờ sông Mê Kông vẫn nghèo khó. Lác đác mấy căn nhà mới xây nằm giữa bãi trống mọc loang cỏ dại. Nhà tôn cũ kĩ chen giữa những khu vườn um tùm cây cối. Dăm ba mái chùa với mái vòm cong vút, thấp thoáng bóng áo vàng của sư sãi đi lại dáng điệu trầm mặc. Lúc này mặt trời đã đổ bóng loang đỏ cả mặt sông. Trong ánh hoàng hôn vàng vọt, toàn bộ khung cảnh đượm vẻ hoang vắng cô liêu. Hai người đứng ngây ra một lúc, nghe đâu đó từ không gian sâu thẳm dâng lên một điều gì đó huyền bí lạ lùng. Đất lạ, người lạ. Lúng túng cân nhắc một lúc, cuối cùng cả hai nhắm một quán cơm nằm tách bạch bên đường bước tới.
Quán cơm ở đây chẳng khác mấy quán cơm bên nhà. Cũng vài bộ bàn ghế cập kênh, cũng những lọ tương ớt, ống đũa. Vài con gà luộc treo lủng lẳng, mấy khay thức ăn nồng nàn mùi các món nướng. Bên bếp lò riu riu lửa cháy và nồng khét mùi dầu, một người đàn ông cỡ tuổi bảy mươi có nước da ngăm đen, áo bà ba màu cháo lòng, quấn phạ xà lùng đang đảo đảo món gì đó trong chảo. Chủ quán nhìn họ với một cái nhếch mép chào rồi lại cúi xuống.
“Xăm bai đi.” Ông An tự tin bước đến chắp tay chào.
“Ờ, ờ... anh em ngồi đi...”
“Dạ bác cho hai suất cơm...”
Ông An ngỡ ngàng. Cứ nghĩ xem chủ quán sẽ nói gì bằng tiếng Lào thì lại được nghe tiếng Việt. Hay chủ quán là người Việt?
“Bác cũng nói được tiếng Việt?”
“Tôi là người Việt mà...”
Thong thả lau hai tay vào cái tạp dề nhem nhuốc, chủ quán trả lời rồi lẳng lặng mở tủ xách ra thẩu rượu.
Vậy là giữa chủ và khách đã như không còn khoảng cách. Lát sau cơm được dọn ra, có cá sông nướng vàng, cà sống chấm ruốc, cà chua om đậu phụ. Chủ quán đưa đôi chén bảo khách cứ tự nhiên, lúc nào xong thì gọi, rồi đi khuất vào nhà trong.
Phía sau còn nhà. Chả trách gì ngoài này sơ sài, chỉ hai gian vách gỗ, bốn bộ bàn ăn. Góc trái phía trước đặt bếp cùng tủ thức ăn. Gần cửa thông ra sau, áp góc nhà đặt bộ dong gỗ. Nhà trong với gian ngoài cách nhau khoảng vườn um tùm cây trứng gà, trứng cá. Lúc này chủ quán như biến mất trong nhập nhoạng của bóng tối vườn cây và từ đâu đó vang lên tiếng tụng kinh. Trong ánh hoàng hôn vừa chợt tắt, ánh đèn vừa chợt sáng, thời khắc giao hòa của ngày và đêm, của âm và dương, tiếng tụng kinh kèm với tiếng mõ cốc cốc điểm nhịp khiến không gian trở nên huyền hoặc đến lạ lùng. Hai người bỗng thấy mình như bồng bềnh, trôi dạt, không ai bảo ai, họ dừng đũa...
“Anh em ăn đi chứ, không quen miệng ư?”
Chỉ nghe tiếng mà không thấy người. Chủ quán đứng đâu đó trong bóng tối nhập nhòa nói vọng ra. Cả hai giục nhau ăn cho xong để tìm chỗ ngủ. Khi khách vừa thả bát thì chủ quán xuất hiện.
“Lại bàn uống nước, mặc tui...”
Chủ quán bưng mâm ra sau nhà, tiếng nước chảy, tiếng kì miết và tiếng lách cách của va chạm bát đũa vọng lên. Vậy là quán chỉ một người, vừa nấu nướng vừa phục vụ. Ông Bình đưa mắt nhìn ông An, ý dò hỏi, người nhà đâu cả, ai đang tụng kinh gõ mõ trong kia…
“Nếu không chê thì anh em cứ nghỉ ở đây - Chủ quán rửa bát xong lên, nói, chỉ vào góc nhà chỗ bộ dong gỗ - Cũng đã có anh em bên nhà sang ngủ ở đó rồi. Anh em đi đâu thì đi, cần thì tối về đây nghỉ.”
Khoảng chín giờ tối, đường sá vắng tanh. Thi thoảng mới có đôi ba chiếc xe máy vụt qua, ánh đèn pha lướt nhanh trên đường rồi mất hút trong đêm đen. Chủ đóng quán, dọn đồ đạc rồi vào nhà trong.
Buổi đầu như thế là thuận lợi, có chỗ ăn chỗ nghỉ, lại gặp đồng hương. Ông Bình kêu mệt lên nằm trước, vừa đặt lưng đã nghe tiếng ngáy nhè nhẹ. Ông An thấy vậy cũng lên nằm và chìm vào giấc ngủ.

Minh họa: Trương Đình Dung
Sáng hôm sau, khi cả hai thức dậy thì bếp lò đã đỏ lửa. Chủ quán giục họ rửa ráy để ăn sáng và đi sớm cho được việc. Mỗi người nắm xôi chấm với một thứ chẻo lạ rất ngon, cả hai đi hẹn chiều sẽ về.
Họ thống nhất, trước hết cứ đi quanh thị trấn. Nghe nói vùng này trước đây chiến sự rất ác liệt nên họ không nguôi hi vọng. Và đúng thế thật, khi được hỏi, nhà nào cũng từng có các thứ đó. Nhưng mấy năm gần đây có người thu gom nên bây giờ đã ít đi. Tuy vậy đến nửa buổi sáng họ gặp được mấy vỏ bom bi, mấy ống pháo sáng và một khung xe Jeep chìm lút trong cỏ. Buổi trưa, ăn tạm vắt xôi chủ quán đùm cho rồi họ đi tiếp. Lại gặp vỏ bom bi, ống pháo sáng… Mua đâu họ gửi tiền cọc ở đó, hẹn ngày quay lại lấy hàng thanh toán hết. Với người Lào chỉ nói một lời, chữ tín với họ là điều bất di bất dịch.
Thấm thoát họ sang đã được bốn ngày. Nhẩm số hàng kha khá, đủ cho một xe tải nhẹ, hơn nữa tiền mang theo đã cạn, ông An nói với ông Bình ngày mốt sẽ về. Ông Bình ậm ừ đồng ý. Mấy ngày qua, ngày nào cũng như ngày nào, sáng dậy ăn rồi đi, chiều về chủ quán đã dọn sẵn cơm canh chờ, thực đơn thay đổi nên ăn rất ngon miệng. Và bữa nào cũng vậy, chủ quán chờ họ ăn xong để dọn rửa rồi mới đi nằm. Và đêm nào cũng như đêm nào, thân thể bấy bá, chân cẳng mỏi nhừ, cả hai nằm chờ giấc ngủ trong tiếng tụng kinh và tiếng cốc cốc tẻ nhạt vọng lên từ sau mảnh vườn um tùm bóng lá đầy huyền bí.
Đã mấy ngày rồi mà họ không gặp ai ngoài ông già chủ quán. Mà người chủ quán cũng chỉ như cái bóng bí ẩn, âm thầm. Chỉ có tiếng tụng kinh là hiện hữu, luôn được bắt đầu mỗi lúc hoàng hôn loang đỏ trời chiều cho tới tận lúc nào không rõ. Giấc ngủ của hai người như trôi trong miên man những lời kinh kệ nhuốm màu huyền hoặc. Tối ngày thứ tư, lúc đó có lẽ đã gần nửa đêm, ông Bình chợt thức và bấm vào sườn ông An. Ở nhà trong hình như có tiếng trò chuyện. Tiếng nói lào thào lúc tiếng Việt lúc tiếng Lào. Có lẽ vợ chồng chủ quán đang trao đổi điều gì giúp họ thì phải. Nào là chỗ nọ có, chỗ kia có... Nghĩ thế rồi họ lại chìm vào giấc ngủ.
Sáng ra ông An nói với chủ quán rằng mấy ngày làm phiền, được giúp đỡ nhiều. Hôm nay đi một ngày nữa, tối xin thanh toán để sáng ngày mai về sớm. Chủ quán nghe, gật đầu rồi lặng lẽ làm tiếp công việc.
Chiều đó, một phần cũng cảm thấy mệt mỏi, một phần hàng mua được đã kha khá, ông An bàn với ông Bình nên về sớm. Lúc cả hai về đến quán cơm thì mặt trời hẵng còn khá cao. Bên kia sông là đất Thái, vẫn làng mạc ruộng đồng nhưng có đôi cụm nhà cao vượt, tất cả soi bóng xuống mặt nước được ánh nắng cuối chiều quét lên một màu vàng mật ong khiến cảnh sắc trở nên tráng lệ và u hoài. Một cảnh tượng thật ít gặp khiến ông An cảm thấy nhớ nhà. Còn ông Bình đứng bần thần như hóa đá trước cửa quán.
Bữa tối cả hai đều ăn uể oải. Chẳng phải do thức ăn không ngon, cũng chẳng phải vì mệt. Tầng tầng khói bếp lưu cữu trong góc nhà, trong nhập nhoạng của thời khắc giao hòa khiến họ có cảm giác mình cũng là sương khói, không còn là mình nữa.
Lúc ăn xong ngồi vào bàn nước, ông An nói với chủ quán:
“Trước hết xin cảm ơn bác nhiều lắm. Anh em chúng tôi được bác giúp đỡ rất nhiều và coi như người nhà”.
“Ô, thế chúng ta không phải là người nhà ư?”
“Không! Em không có ý đó. Nhưng gì thì gì bác cũng cho anh em được thanh toán...”
“Thôi thế này, các chú đưa thế nào thì tùy, cũng chẳng đáng mấy. Gặp được bà con người mình là tôi vui rồi. Chuyện tiền nong tôi lấy chỗ nọ bù chỗ kia, cốt sao giúp được bà con anh em...”
Nói rồi chủ quán chỉ rút một tờ trong nắm tiền ông An đưa ra.
“Bác làm chúng tôi khó nghĩ quá… Chúng tôi có tiền mà.”
“Tôi không bảo anh em không có tiền. Tôi đã nói rồi, chỉ mong giúp được các chú. Đường tu còn dài lắm. Công phu tu tập chẳng bao giờ cho đủ.”
Vẻ mặt như của người trầm cảm, chủ quán nói mà như đọc kinh. Cả hai hiểu rằng mình đã được hưởng phúc từ chủ quán, người cùng quê hương dòng giống. Chủ quán nói hai tiếng người mình giữa mảnh đất xứ người sao mà ấm áp. Cả ông An và ông Bình đều ngồi yên lặng. Họ đâu có những năm dài đằng đẵng của người xa xứ để mà hiểu được tấm lòng đau đáu hướng về cố quốc. Hình như chủ quán đang có niềm trắc ẩn hoặc sám hối gì đây...
Để phá bỏ bầu không khí có phần nặng nề bởi sáng mai họ đã về nước rồi, ông An cố nói giọng vui vẻ:
“Bác vẫn chưa kể chuyện cho bọn em nghe. Bác sang đây từ hồi nào?”
“Cũng mới thôi. Chiến tranh li loạn...”
“Vậy bác cũng là bộ đội?”
“Không! Tôi là lính Sài Gòn…”
Dòng hồi ức của người chủ quán trở lại những năm bảy mốt của thế kỉ trước. Sau vài lần trốn lính thì bị bắt. Sau mấy tháng quân trường ông được đưa ra Quảng Trị tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719. Kết quả cuối cùng Lữ dù 3 tan tác ở đường 9 Nam Lào. Lữ trưởng bị bắt, lính số chết, số tan tác, số bị bắt. Còn ông vứt bỏ áo quần súng đạn chạy một mạch không còn biết trời đất. Vượt núi luồn rừng, mãi đến lúc màn đêm buông xuống và không còn nghe tiếng súng nữa thì mới dám dừng lại. Lần đầu vào rừng, lại rừng rậm, đủ thứ sợ, sợ thú, sợ người, sợ ma. Cuối ngày hôm sau đói quá ông phải liều đi tìm cái ăn. Thế rồi ông chui lủi quanh một cái rẫy để bẻ ngô, đào sắn, vặt đu đủ. Khi không tìm ra được thứ gì nữa ông ăn cả rễ cây, cóc kiến. Hôm đó định liều mạng vào gần hơn để đào sắn thì ông gặp một người đàn ông Lào. Khi định bỏ chạy thì người Lào nói bằng tiếng Việt, “đừng chạy nữa, đi với tao”. Hóa ra người Lào này đã biết ông trốn ở đó mấy hôm rồi.
Từ đó, ông không nghĩ đến việc về nữa, sợ rơi vào bên nào cũng chết. Ông ăn cơm Lào, mặc áo quần Lào, cũng đi nương, đi săn và trở thành người Lào. Mấy năm sau nghe tin bên nhà đã hòa bình, ông mừng lắm, vậy là đất nước liền một dải, quê nhà không còn cảnh li tán. Biết ông lưỡng lự giữa về và ở, bà con người Lào bảo Việt Nam hòa bình Lào cũng hòa bình, muốn về thì về, không muốn về thì ở lại. Lúc đó nhà chẳng còn ai. Ba ông mất trước đó mấy năm, má cũng chết do mảnh pháo ngoài ruộng. Còn đứa em gái giờ không biết trôi dạt phương nào. Có lẽ ở quê lúc đó ông đã bị xóa khỏi tâm trí của mọi người. Sáu bảy năm trời rồi còn gì nữa. Chưa kể điều đau đớn nhất của ông là mất vợ. Trước lúc lên trực thăng ở Đông Hà, thằng bạn người làng về thăm nhà lên cho ông hay tin vợ ở nhà đã theo một sĩ quan vào Sài Gòn…
Chủ quán bật khóc, khóc lặng lẽ, khóc đau đớn. Ông An nhìn ông Bình. Điều gì khiến họ trở thành chỗ để người đàn ông xa xứ này chia sẻ điều sâu kín?
“Nhưng thôi, không nói chuyện này nữa. Trong hai người có ai tham gia 719 không?”
Ông già đột nhiên đổi hướng câu chuyện.
“Không. Anh em chúng tôi sau đó mới vào bộ đội. Một đặc công ở Thượng Lào đánh nhau với phỉ Vàng Pao, còn ông này...” Ông An chưa nói xong thì ông Bình tiếp: “Lính lái xe chạy tuyến phía Tây…”
*
* *
Trời khi này đã tối hẳn, từ nhà lại vọng lên tiếng đọc kinh và tiếng mõ cốc cốc… Hai thứ hòa quyện vào nhau thành một dải âm thanh không đầu không cuối.
“Xin lỗi bác... Có gì không phải mong bác bỏ quá. Phải chăng chỉ mình bác ở đây?”
“Không, cả vợ tôi nữa. Nhưng bà ấy yếu, lại sợ nắng, nên chẳng mấy khi ra ngoài này. Mà chuyện dài lắm, hai anh em đã buồn ngủ chưa?”
“Chưa đâu… bác kể tiếp đi...”
Hóa ra ở trong nhà người Lào gặp ban đầu được mấy tháng thì ông xin ra ở riêng. Ông dựng một gian nhà nhỏ ngoài rìa bản, cũng phát nương trỉa bắp, cũng nuôi lợn nuôi gà. Ngày tháng cứ trôi đi. Dạo đó hòa bình đã được hơn một năm và đang là mùa mưa. Mưa dầm dề dai dẳng, mưa ngập sông ngập suối. Trưa đó ngồi trong nhà nhìn ra ông thấy một cái bóng chờn vờn thấp thoáng bên kia đồi. Đầu tiên là một chấm nhỏ rồi rõ dần, gần hơn với những cử động kì quái. Ông như không còn tin vào mắt mình. Một cô bộ đội Việt Nam. Ông nhận ra nhờ bộ quân phục rách và cái nón vải ướt mèm trật bên vai.
Đó là một cô bộ đội bị chiến tranh bỏ quên, lúc tỉnh lúc điên. Khi tỉnh cô kể cho ông cô tên Oanh, là lính coi kho. Dạo đó đâu như cuối năm bảy tư, kho ở giữa rừng mà ngày đêm nhộn nhịp đông vui, khí thế hừng hực. Ban đầu thì thế rồi tự nhiên xe vào thưa dần, thưa dần rồi mất hẳn. Ba cô gái giữa rừng sâu không bom đạn, không cả tiếng máy bay. Vài tháng sau Linh và Nhung lần lượt qua đời, một do rắn độc cắn, một do sốt rét. Còn lại một mình Oanh giữa rừng sâu, đàn ông còn sợ huống chi đàn bà con gái. Nghe cô kể mà ông rùng mình. Thân gái chịu cảnh côi cút hàng năm trời, đêm hôm mưa gió.
Cô xuống đến trước lều thì ông đi ra, trên tay cô ôm bọc gì đó. Định ra bảo cô vô nhà trú mưa, nhưng thấy ông cô giật mình hốt hoảng chạy ngược trở lại. Ông chạy theo gào khản cả cổ mà cô chẳng dừng. Mưa quất chéo rát và tối tăm mặt mũi. Thoáng chốc cô mất hút. Lúc đó ông chưa biết trong cái bọc là một con khỉ. Ông cứ mắm môi bước, vừa đi vừa vạch lá tìm. Lúc lâu mới bắt gặp, bên gốc cây cô đang à ơi ngồi ru con khỉ ngủ. Mà cô còn trẻ lắm, da xanh tái, tóc tai dính bết trên khuôn mặt đầm đìa nước. Nhưng cô đâu biết con khỉ đã chết. Thân thể nó đã trương phồng và bắt đầu bốc mùi. Cô không biết gì hết. Đứng nhìn những giọt nước mưa quất chéo như những mũi tên cắm xuống mà ông muốn khóc nấc lên.
Ông liền chạy về bản gọi thêm người. Nghĩ rằng khó lòng mà giằng được con khỉ khỏi tay cô, ai ngờ, khi mọi người lên, ông vừa đưa tay thì cô đặt nó vào tay ông. Vừa chạm vào cái bọc, một mùi hôi khẳm không thể tả xộc thốc vào mặt mũi khiến ông nôn thốc nôn tháo. Mấy người Lào thấy thế giằng lấy mang đi. Ông cúi xuống, hai tay xốc nách cô dìu đứng dậy. Mưa lúc đó to lắm, đường rừng trơn nhẫy, nhiều gai góc và đá nhọn. Khi đã nhận ra không còn con khỉ trong tay, cô gào lên bứt phá cấu xé.
Từ đó, cái lều của ông có thêm người đàn bà. Người ta bảo nó là người Việt thì nó phải ở với mày. Có cô trong nhà ông bận lắm. Hàng ngày phải canh, phải dỗ dành đút cô ăn. Có lúc cô xé toang quần áo rồi lao vào rừng tìm đứa con tưởng tượng. Rất nhiều lần như thế. Phải tới nửa năm sau cô mới hồi phục dần, chẳng biết là do ông dỗ dành gợi nhắc hay do các loại rễ cây lá cây bà con dân bản mang đến…
“Thế rồi cô ấy ở lại với bác chứ?”
“Vâng, có lẽ là do duyên tiền định. Tôi yêu cổ ngay từ lúc dìu về và nghĩ rằng đây mới chính là người đàn bà của mình. Hằng ngày tôi bón cho cổ ăn, rửa ráy tắm giặt cho cổ. Chúng tôi trở thành vợ chồng cứ như trời Phật sắp đặt vậy...”
“Chuyện thật là hiếm gặp bác nhỉ. Mà sao cô ấy lại...”
“Thật tội nghiệp cho cổ... Cái kho... cổ không thể bỏ cái kho, biết đâu sẽ có xe quay lại nhận hàng. Hơn một năm sống trong chờ mong khắc khoải mà cổ vẫn chưa thôi hi vọng. Một mình tự xoay xở, vui buồn bên con khỉ mà ba chị em coi như con, nuôi từ ngày bằng nắm tay. Rồi con khỉ dính bẫy, mò về được đến kho chỉ còn thoi thóp. Không thể kiên nhẫn chờ được nữa, cổ đã bế nó vượt rừng liều mình đi tìm đồng đội…”
Trước mặt ông An, ông Bình lúc này là một pho tượng nhà mồ khô đét gồ ghề những vết đẽo vạc. Chủ quán đã ngừng nói, ông hộc lên đau đớn như một con thú bị thương. Nỗi khổ đau của người đàn bà được ông cứu vớt và lấy làm vợ, dù đã mấy chục năm trôi qua giờ đây đang hành hạ ông. Ông cứ ngồi thế, nét mặt như hóa đá, toàn thân câm lặng…
*
* *
Thời gian đã qua rất lâu…
Xa xa bên kia sông, phần đất Thái ánh điện đang hồng rực, đang sáng xanh trên những cao ốc. Mặt trời lặn ở phía đó. Ông An nhớ chiều đầu tiên đến đây, trước lúc tắt mặt trời cũng để lại trên mặt nước sông Mê Kông một màu đỏ bầm như màu máu. Hình như không chịu nổi sự nặng nề do chủ quán mang lại, ông Bình rụt rè.
“Sau đó thì sao ạ?”
“Chúng tôi trở thành vợ chồng và quyết định sẽ không về nước. Một năm sau chúng tôi rời xuống đồng bằng, cốt tránh xa cái nơi đau thương đó. Thế rồi từ A Tô Pơ lên Thà Khẹt và bây giờ trụ lại đây. Hai lần sinh và lần nào cũng chỉ một bọc thịt. Cổ giờ ốm yếu, chẳng muốn gặp ai, chỉ suốt ngày tụng kinh niệm Phật. Thấm thoát thế mà đã sắp hết một đời người rồi. Phật dạy muốn thoát kiếp luân hồi người tu tập phải đi trên con đường vô ngã. Nhưng cũng có lúc tôi nghĩ, chẳng biết kiếp trước chúng tôi ăn ở thế nào mà phải chịu quả báo như vậy… Mà thôi khuya rồi, các chú đi nghỉ đi, mai còn về.”
Chủ quán đứng dậy rồi lại mất hút vào khoảng tối sau nhà.
Ông An và ông Bình cũng lẳng lặng đi nằm.
Đã quá nửa đêm từ lâu, giấc ngủ của họ chập chờn chao đảo. Ông An như trôi trong tiếng tụng kinh, tiếng mõ cốc cốc và hương khói như từ đâu ùa đến phủ kín quanh chỗ nằm. Xa xa, ánh đèn le lói như ma trơi rồi tiếng cười tiếng nói lao xao và những tiếng bước chân rậm rịch. Có lúc ông thấy bộ dong dưới lưng rung rinh trôi nổi. Ông giật mình choàng dậy. Chẳng biết bạn ông đã dậy từ lúc nào. Ông Bình ngồi im lìm bên cạnh và đang nói với ai đó. Tiếng ông Bình âm âm: “Linh với Nhung phải không? Có phải các em dẫn anh đến gặp Oanh ở đây không? Để đón các em về…”. Sợ đến cứng người, ông An ngồi không nhúc nhích. Bên tai vẫn văng vẳng những lời độc thoại lạnh toát...
Sáng hôm sau, nhìn bạn ông An giật mình. Ông Bình võ vàng như từ cõi âm trở về nhưng đôi mắt thì sáng quắc. Ông Bình xin chủ quán được vào nhà trong gặp vợ ông, bà Oanh, một người đồng đội cũ…
N.N.L
VNQD