. NGUYỄN VŨ ĐIỀN
Tôi không thể tin vào mắt mình khi nhìn thấy người đàn ông ấy. Đã gần ba mươi năm kể từ ngày Hùng mất tích trong trận đánh ở Barai, tôi vẫn luôn nhớ tới anh như một đồng đội vĩnh viễn nằm lại nơi đất khách. Vậy mà giờ đây, trước mắt tôi, một dáng hình quen thuộc đến lạ lùng. Vết sẹo sau đôi lông mày rậm, mái tóc lấm tấm bạc, cái cách cúi đầu trầm ngâm… Tim tôi chợt nhói lên, bàng hoàng.
Tháng tư năm 1980, từ Campuchia, tôi được cử về Vĩnh Phú học tại Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp. Ngay sau khi nhận quyết định, tôi theo xe trung đoàn tới Sài Gòn rồi ngược tàu ra Bắc. Ngày tôi rời đơn vị, tiểu đoàn đang đóng quân ở Kh’vao và chiến sự vẫn hết sức khốc liệt.

Minh họa: Trương Đình Dung
Thời gian trôi đi, nhớ đồng đội, nhớ chiến trường cũ, lòng tôi se lại. Nó như tảng đá xám đè ngực. Tôi như người lạc đường, hồi ở mặt trận, chỉ nhớ thằng Toàn người Hà Nội, thằng Cương dân Quận 4, Tiến “xòe” Gò Vấp, anh Lộng quê Thái Bình, anh Sơn Hải Dương… thôn xóm cụ thể đâu có biết.
Đêm hôm trước, đang ngủ tôi bỗng giật mình tỉnh dậy vì nhớ đến Hùng. Hồi ấy, mỗi khi viết thư về nhà cho người yêu, Hùng lại dúi phong bì nhờ tôi viết hộ. Tôi kê ba lô lên võng, nắn nót từng chữ: “Chiến trường xa… Thân yêu gửi em: Nguyễn Thị Nguyên, xã ..., huyện ..., tỉnh Sơn La.”
Cái địa chỉ bỗng lóe lên. Tôi muốn tìm đến quê Hùng, như tìm một sợi khói mỏng manh chắp nối về quá khứ, vừa thắp cho bạn nén nhang, vừa biết đâu, có thêm thông tin về đồng đội từ Nguyên. Từ Lạng Sơn, tôi lái xe về Sơn La. Gần một ngày trời lang thang khắp thành phố mà vẫn chẳng tìm được tung tích gì. Địa danh đã đổi thay, làng hóa phố, dân ngụ cư nhiều hơn dân làng xưa, hỏi thăm, người nói như đinh đóng cột thì tìm đến lại không phải, người thì chỉ mơ hồ hình như... Tôi bắt đầu cảm thấy hoang mang và chán nản.
Lang thang đến một nơi theo chỉ dẫn “hình như” của một bà cụ bán nước chè, tôi chợt thấy một người đạp xe phía trước với một chiếc chân giả. Dù khuôn mặt với những vết sẹo hằn, mờ, mái tóc điểm bạc, nhưng dáng người, ánh mắt của anh ta khiến tôi cảm thấy rất quen thuộc. Một cảm giác như đã từng gặp người này ở đâu đó trong quá khứ.
Hùng! Trời ơi có lẽ nào... là Hùng? Nhưng không thể, Hùng đã chết rồi, làm sao có thể được?
Tôi sững lại, mắt không rời khỏi người đàn ông kia. Cố gắng tìm lại những đường nét của Hùng còn hằn trong kí ức. Anh ta dừng lại bên chiếc cổng tre dẫn vào ngôi nhà nhỏ. Anh ta cũng nhìn tôi, ánh mắt chiếu thẳng như đo đoán, thoáng vẻ bối rối. Một tia sáng lóe lên trong mắt, anh ta sững lại. Thật không thể tưởng tượng, anh lại là người mở lời trước:
“Minh, Minh đen phải không?” - Giọng anh khàn đặc nghẹn lại. Đôi mắt phía dưới hàng lông mày đen trợn lên vẻ kinh ngạc.
“Hùng, đúng Hùng rồi. Là tao đây, Minh đen đây.”
Nói đến đó, không kìm được nữa, tôi bước tới ôm chầm lấy Hùng. Hùng gầy hơn trước nhiều, khung xương cứng như một cây khô chịu nhiều gió bão. Tôi vỗ nhẹ lên lưng Hùng, cảm nhận hơi thở run rẩy, xúc động. Hùng ôm lấy tôi, bàn tay gầy gò, chai sạn. Hùng cười mà nước mắt ứa tràn khóe mắt, còn tôi cổ họng nghẹn đắng, chẳng nói được lời nào.
*
* *
Hùng mở cổng kéo tôi vào nhà.
Trong khoảnh khắc, kí ức bỗng ùa về - trận đánh năm xưa cướp đi sinh mạng biết bao đồng đội, khiến Hùng mất tích…
Vào một buổi chiều tháng 3 năm 1980, đơn vị nhận lệnh hành quân đánh chiếm phum Barai. Sáng hôm sau, chúng tôi nổ súng. Địch cố thủ trong phum, dựa vào công sự vững chắc chống trả điên cuồng. Pháo từ bên kia biên giới Thái Lan bắn sang dồn dập. Tiếng nổ xé tai, giữa khói lửa mịt mù, bóng Hùng ôm khẩu B40 lao lên. Anh tì súng vào thân cây, bóp cò. Một tiếng nổ dữ dội, vệt lửa vàng cam lao thẳng vào hỏa điểm địch. Nhưng một quả pháo nổ gần ngay chỗ Hùng đứng. Tôi chỉ kịp thấy anh ngã xuống, bụi đất phủ mờ… Địch ào lên đông quá, chúng tôi buộc phải tiếp tục bắn để chặn chúng.
Trận chiến tạm lắng, chúng tôi đi tìm Hùng. Tại nơi anh ngã xuống, chẳng còn gì ngoài chiếc mũ cối vỡ toác cạnh ụ mối. Đơn vị đã lục tung từng gốc cây, bờ hào, suốt mấy ngày liền mà vẫn vô vọng. Cuối cùng, tiểu đoàn buộc phải báo lên trên. Giấy báo tử của Hùng được gửi về quê nhà…
Giờ đây, tôi vẫn chưa tin được sự hiện diện của con người trước mặt. Tôi nhìn thật lâu người đồng đội cũ: “Cuối cùng thì mọi chuyện như thế nào? Mày đã ở đâu sau trận đánh ấy. Cả đơn vị đều nghĩ mày đã hi sinh rồi.” - Tôi tò mò hỏi.
Hùng rít một hơi thuốc, chậm rãi thở ra. Khói quẩn trong ánh chiều nhạt. Ánh mắt xa xăm, giọng trầm hẳn xuống:
“Hôm đó, sau khi dính mảnh của quả pháo nổ gần, tao bị thương nặng. Nó tiện đứt chân trái. Khắp người đầy máu. Khi thấy bọn lính Pốt tới gần, tao cố lết vào một khóm le dại um tùm rồi ngất đi không biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy, tao thấy mình nằm trên chiếc chõng tre dưới rặng thốt nốt, cái chân đã mất được băng bó bằng chiếc áo may ô. Một ông già dáng gầy guộc, mái tóc điểm bạc, cùng cô con gái khoảng hai mươi tuổi ở bìa phum đã cứu tao. Người cha tên San, còn cô gái là Srey Mom.

Minh họa: Trương Đình Dung
Những ngày sau đó, tao sống nhờ vào sự cưu mang của họ. Ông San hiền lành, ít nói, biết nghề thuốc đã chữa trị cho tao. Srey Mom ngày ngày giã thuốc, chăm sóc tao như một người thân. Khi vết thương hồi phục, tao vẫn không thể về đơn vị. Những trận phục kích của địch, bãi mìn, biến động trong vùng khiến tao bị mắc kẹt giữa những người Kh’me tốt bụng.
Giữa những ngày gian khó ấy, Srey Mom đã dành cho tao một tình cảm chân thành, không toan tính. Ngày trở về mịt mùng... Dù Srey Mom rất yêu tao, tao vẫn phải kìm lòng. Khó khăn lắm tao mới không để cho mình gục ngã trước cô gái Kh’me. Trong lòng tao, chưa lúc nào nguôi hình ảnh quê nhà. Nguyên. Là Nguyên của tao với mái tóc dài buông xõa, đôi mắt ngấn nước đứng tựa cửa nhìn theo... Những năm tháng ấy, dù mất một chân nhưng hàng ngày tao vẫn cùng ông San và Srey Mom làm rẫy, săn bắt cá để sinh tồn, sống cuộc đời một người dân bản xứ.
Năm 1989. Khi chiến tranh kết thúc, những đoàn quân tình nguyện Việt Nam lên đường về nước, tao cũng quyết định trở về. Ngày tao rời đi, Srey Mom lặng lẽ nhìn theo, đôi mắt ầng ậc nước, không một lời trách móc. Cô ấy biết, tao chưa bao giờ thực sự thuộc về nơi này. Còn tao trở về mà trong lòng trĩu nặng. Cả đời mình đã mang ơn cứu mạng của ông San và Srey Mom, những người đã sinh ra tao một lần nữa. Tao ôm lấy Srey Mom và hứa nhất định sẽ có ngày trở lại.”
Tôi lặng nhìn Hùng. Hùng dụi mạnh điếu thuốc vào thành ghế. Tôi khẽ thở dài. Trong mắt Hùng hiện lên một nỗi đau không thể gọi thành lời.
“Hôm tao về đến nhà, con đường vẫn vậy, cái bờ ao vẫn vậy, nhưng ngôi nhà thì cũ lắm rồi. Mái rạ sụp xuống một góc, bức vách nhiều chỗ tróc cả bùn rơm. Gọi mãi mà chẳng thấy ai trả lời, tao cứ đứng đó, mong nghe được tiếng mẹ. Nhưng mẹ không còn nữa. Đứng trước bàn thờ, nhìn di ảnh mẹ mà không sao khóc nổi. Tao đã đi quá lâu… quá lâu để giữ lại những gì thuộc về mình.
Căn nhà lúc ấy chỉ còn lại mỗi Nguyên. Gặp tao ngay trước cổng, Nguyên khuỵu xuống. Đôi mắt đẹp mở lớn, bàng hoàng trước những điều tưởng như không thể nào là sự thật. Tao thấy trong ánh nhìn ấy một niềm vui bật lên rồi nhanh chóng tắt lịm. Sau lưng Nguyên là một bé gái chừng ba tuổi, đôi mắt trong veo, tròn xoe, nhìn người đàn ông mặc bộ quần áo bộ đội cũ không chớp. Khoảnh khắc ấy, tao cảm giác trời đất như nghiêng đi, quay cuồng.”
“Em có lỗi với anh… Xin anh tha thứ…” - Nguyên lúng búng, như tự nói với chính mình.
“Tao đứng sững. Mày biết tao đã nghĩ gì không?” - Hùng quay sang hỏi tôi.
Tôi im lặng. Hùng cười nhạt, giọng khô khốc. Không gian lặng đi. Tôi nhìn Hùng, thấy anh như già đi cả chục tuổi. Trong giọng anh không có trách móc, chỉ nỗi hụt hẫng đến quặn lòng.
“Kí ức ngày cưới trước khi nhập ngũ ùa về. Đám cưới vội vã, đơn sơ, chỉ có bà con lối xóm đến chung vui. Mẹ tao ngồi lặng trong góc nhà, đôi mắt già nua chất chứa những âu lo. Tao biết bà sợ. Sợ cưới xong rồi tao lại đi, chẳng biết bao giờ về. Đêm tân hôn, Nguyên nắm chặt tay tao, thì thầm: “Anh phải về đấy nhé. Em không muốn sống một mình đâu”. Tao chỉ cười, vuốt tóc cô ấy, bảo: “Ừ, anh về chứ. Nhưng chúng mình phải có một đứa con, để mẹ và em đỡ cô quạnh.”
Tao đã mong như thế, mong lắm, Minh ạ. Trên chiến trường, giữa khói lửa, tao vẫn thầm nghĩ một ngày nào đó sẽ nhận được thư báo tin Nguyên đã có con. Nhiều đêm nằm võng, tao hát ru. Không phải ru ai cả, mà ru giấc mơ của chính mình - ru đứa con tưởng tượng, ru cái ngày về tao đã hứa với vợ. À ơi... Con cò mày đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ông vớt tôi nao, tôi có lòng nào... Vậy mà, khi tao về, thứ tao nhìn thấy không phải là giấc mơ đó.
Lúc ấy, Nguyên đứng trước mặt tao như không phải Nguyên ngày xưa nữa. Xa cách, dè dặt, chỉ có nỗi đau đớn lẫn ân hận và nuối tiếc tràn ngập khiến khuôn mặt trở nên trắng bợt. Nguyên nói đứt quãng trong tiếng khóc nghẹn ngào:
“Suốt những năm anh đi xa, em một lòng ở lại phụng dưỡng mẹ. Làng xóm ai cũng thương, cũng quý. Từng bữa cơm, từng giấc ngủ của mẹ, em đều lo trọn vẹn, thay anh giữ gìn chữ hiếu. Ban ngày em ra đồng cuốc đất, gặt lúa, cái mệt làm em tạm quên đi nỗi buồn. Nhưng đêm xuống, trong căn buồng vắng lạnh, em lo cho anh ngoài mặt trận hiểm nguy rình rập, thiếu thốn bủa vây. Mỗi tối em chỉ biết ôm lấy chiếc áo cũ của anh mà ngủ. Chút hơi quen thuộc còn sót lại trên tấm vải đã sờn làm dịu bớt khắc khoải, sưởi ấm lòng em. Em vẫn sẽ chờ. Chờ đến ngày cuộc chiến qua đi. Ngày anh trở về...
Nhưng rồi, một buổi sáng còn mờ sương, bầu trời ngày hôm đó không hiểu sao lại thấp đến như vậy, anh xã đội trưởng đeo bên sườn chiếc xà cột Liên Xô đạp xe đến nhà, trên tay là một chiếc phong bì, lặng lẽ trao cho em, ánh mắt ngập ngừng, bối rối như muốn dò chừng nỗi đau mà nó sẽ mang đến. Em hồi hộp, run run mở ra. Những dòng chữ lạnh lùng, khô khan trong tờ giấy báo tử đã xé toạc mọi hi vọng mỏng manh của em: “Đồng chí Lê Hùng đã anh dũng hi sinh trong khi làm nhiệm vụ tại chiến trường Campuchia.”
Em không nhớ nữa. Trái tim muốn vỡ ra. Em không thể nào tin người mà em chờ đợi suốt bao năm sẽ không bao giờ trở về. Cả thế giới với em đã sụp đổ.
Trong buổi lễ truy điệu anh, em không thể nào rời mắt khỏi tấm di ảnh. Bao nhiêu kí ức ùa về, những ngày tháng bên nhau, lúc anh lên đường ra trận. Em như một hồn ma, mờ mịt giữa biển người đến viếng.
Mẹ là chỗ dựa duy nhất, là sợi dây nối lại gần hơn với anh đã không thể chịu nổi cú sốc quá lớn. Trái tim mẹ, vốn già yếu, lại thêm tin dữ đến như một cú sét khiến mẹ ngã gục ngay trong lễ truy điệu, giữa dòng người vây quanh. Em chạy đến ôm lấy bà, đôi tay run rẩy, miệng lắp bắp gọi tên bà, nhưng không kịp nữa. Em chẳng thể làm gì hơn. Những đau đớn vùi dập cùng một lúc đã đẩy em đến bờ vực tận cùng của sự tuyệt vọng.
Em vẫn không quên những ngày đau đớn ấy. Căn nhà chẳng còn ai không buồn đỏ lửa. Một lần mưa lớn lắm, trên đường lấy củi trở về, một cơn lũ quét bất ngờ dội xuống con suối giữa rừng. Em chỉ nhớ lúc ấy trời đất tối sầm lại. Một sức mạnh dữ dội đẩy em ngã xuống, trôi đi trong vô vọng. Khi em tỉnh lại, thấy mình đang trong một lều cỏ xa lạ. Bên ngoài, một người đàn ông ở trần, đang xoay lưng lại, cúi mình bên bếp lửa hong khô chiếc áo và ấm nước đang sôi. Bóng lưng ấy, sao mà quen quá. Cũng mái tóc ngắn, dáng cao cao mà đầy vững chắc. Em cứ nghĩ mình đã chết, được gặp lại anh. Khi người đàn ông ấy quay lại, em nhận ra không phải. Nhìn em nước mắt giàn giụa, anh ta nghĩ vì em quá sợ hãi nên lúng túng lùi lại.
“Tôi tìm thấy cô dưới suối. Cô may mắn mắc vào thân cây đổ ngang. Lúc đưa về đây, người cô lạnh ngắt, thoi thóp thở. Tôi tưởng chẳng thể cứu được. Nhưng thật may mắn...”
Em đã ở lại với người đàn ông ấy. Chúng em nương tựa vào nhau. Em đã sống cuộc đời của một người khác sau trận lũ cuốn. Khi em biết mình có thai thì người đàn ông cứu mạng em đã không còn trở về trong một lần vào rừng bẫy thú.”
Tao đã tưởng tượng ra thời khắc ấy. Mẹ tao mất. Tao có giấy báo tử. Nguyên chỉ còn một hài nhi bé nhỏ đang nương náu trong bụng là niềm hi vọng duy nhất, chỗ dựa của Nguyên trong lúc tuyệt vọng này. Nguyên quay về ngôi nhà cũ, chấp nhận tất cả lời đàm tiếu, những ánh nhìn dè bỉu, thậm chí là sự khinh miệt của người đời. Nuôi nấng đứa trẻ bằng tình yêu và sự hi sinh của một người mẹ.”
Tôi nghe Hùng kể, lòng trĩu nặng. Có cái gì đó khiến tôi khó thở.
“Ngay khi vào nhà, Nguyên bước đến trước bàn thờ. Hai mẹ con cô ấy quỳ xuống. Nguyên cúi đầu khấn, đôi tay run rẩy cầm nén hương, mắt nhòe đi bởi những giọt lệ không kìm nén nổi. Cô thì thầm với bà, cầu xin được tha thứ cho quãng thời gian đau đớn đã qua. Xoay người về phía tao, đôi mắt đượm buồn, giọng Nguyên có phần run rẩy, nhưng mạnh mẽ:
“Em có lỗi với anh... Nhưng suốt những năm anh vắng nhà, em đã cố giữ đúng đạo làm con. Đã bao lần em định ra đi, dù chẳng biết sẽ đi đâu. Nhưng rồi em vẫn muốn ở lại. Vì nơi này có mẹ, có những kỉ niệm đẹp đẽ của chúng mình. Em ở lại để hương khói cho mẹ, cho anh. Nay anh đã trở về, em xin phép anh cho mẹ con em được đi nơi khác. Em biết quyết định này sẽ khiến anh đau lòng, nhưng em không thể làm khác…”
Giọng Nguyên lúc ấy thật kiên quyết. Cô ấy biết, đây là quyết định sẽ thay đổi tất cả, nhưng cũng là lựa chọn duy nhất sau bao nhiêu đớn đau, hờn tủi.”
Hùng im lặng một lúc lâu, ánh mắt xa xăm, như thể đang trong khoảnh khắc khi ấy.
“Tao chỉ biết nhìn Nguyên. Những lời cô ấy thốt ra như dao cứa. Nguyên đứng đó, lặng lẽ. Con bé đứng bên mẹ, nắm tay thật chặt, nó nhìn tao với ánh mắt ngây thơ, ngập tràn mong mỏi: Bác ơi, bác cho mẹ con cháu ở lại đây nhé.”
Khoảnh khắc ấy là một cú đột phá khẩu, của cả tao và Nguyên. Tao quỳ xuống, âu yếm, vuốt tóc con bé: Được rồi, bác sẽ không để mẹ con cháu đi đâu cả.”
Nói đến đây, khuôn mặt Hùng giãn ra. Tôi có cảm giác anh trẻ lại mấy tuổi.
“Những tưởng mọi chuyện đến đó là ổn rồi. Vậy mà mày biết không, đêm đầu tiên sau ngày trở về là một đêm vô cùng khó xử. Tao nằm xuống mép giường, cố gắng trấn tĩnh. Tiếng nước xối ngoài giếng vọng trong đêm tĩnh mịch đều đều nghe thật rõ. Mỗi âm thanh vang lên như gợi nhớ về một thời xa lắm khi cô ấy còn là của tao trọn vẹn. Tao hình dung ngoài kia Nguyên đang cúi người, đôi tay thon thả vốc từng vốc nước thả lên người. Mái tóc cô ấy xõa xuống lưng, làn da trắng mịn ướt đẫm dưới ánh đèn hiu hắt. Kí ức bỗng tràn về như cơn lũ. Lại nhớ đêm mới cưới, tao ôm cô trong vòng tay, hơi thở cả hai hòa vào nhau khao khát giữa gió khuya lành lạnh…
Rồi Nguyên bước vào, nhẹ nhàng kéo con bé lên giường, đặt con bé nằm giữa hai người, như một tấm chắn vô hình ngăn cách. Mùi hương nhè nhẹ của làn da Nguyên thoảng qua khiến tao thấy tim mình run rẩy. Mấy chục năm đã từng khao khát hơi ấm này, từng mơ về nó trên những cánh võng giữa rừng sâu, nhưng giờ đây, có một cái gì đó như vết cắt thật khó vượt qua. Con bé đã ngủ say, hơi thở đều đều, nhưng tao với Nguyên thì không. Mọi thứ quá lạ lẫm. Chiếc giường từng là tổ ấm, giờ đây sao thấy xa lạ đến mức cả hai không dám cựa mình.
Đã mấy lần tao định với tay sang Nguyên, nhưng cánh tay như tê cứng, không sao nhấc lên nổi. Có cái gì đó đè nặng, không phải là con bé, mà là những năm tháng đã mất, những điều không thể nói thành lời. Trong bóng đêm, tao nghe được cả tiếng tim mình. Nguyên nằm sát bên kia, im lặng.
Đột nhiên, con bé cựa mình, lí nhí trong mơ:
“Bố Hùng ơi… bố về với con nhé...”
Tao nhìn sang Nguyên, bất chợt bắt gặp ánh mắt cô ấy cũng nhìn sang. Cả hai bối rối, xúc động. Tao đưa tay, vòng qua người con bé, chạm vào bàn tay Nguyên. Cô ấy không rút lại. Một giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên gò má Nguyên, thấm lên gối.
Trong khoảnh khắc ấy, mọi xa cách, đớn đau tan biến. Chỉ còn lại ba con người, trong một căn phòng nhỏ, nơi cuối cùng, một gia đình đã tìm thấy nhau…”
Tôi nhìn Hùng, chợt thấy lòng ấm áp.
*
* *
Khoảng hơn một tháng sau từ nhà Hùng trở về, tôi nhận được điện thoại của Hùng:
“Minh à. Vừa rồi tao với Nguyên có sang Campuchia và tìm đến phum Barai...”
Tôi lặng người. Bao nhiêu năm rồi, nơi ấy vẫn ở trong kí ức Hùng như một mảnh ghép chưa hoàn chỉnh.
“Ông San mất lâu rồi. Tao có hỏi dân làng về Srey Mom. Cô ấy sống một mình, nói chờ ai đó bên kia biên giới sẽ quay lại. Cách đây không lâu, cô ấy lặng lẽ bỏ lại căn nhà và nương rẫy, không biết đi đâu...”
Giọng Hùng trầm xuống. Tôi hình dung ra đôi mắt sâu hun hút của anh ánh lên một điều gì đó rất khác. Có lẽ, hành trình ấy là chuyến trở về với quá khứ, một thời tuổi trẻ, những mất mát… để tìm sự bình yên sau cuối. Nhưng cuối cùng nó vẫn đâu đó, không thể nào tìm lại bởi số phận và thời gian...
N.V.Đ
VNQD