Với việc dịch 18 tác phẩm của Franz Kafka sang tiếng Tây Ban Nha, viết hơn 50 lời tựa, bài báo và bài giảng về ông, không ngoa khi nói Kafka dường như đã thấm nhuần cuộc đời Borges sâu sắc đến nỗi bậc thầy người Argentina khó lòng nhớ được lần đầu tiên đọc Kafka là vào khi nào. Đôi khi ông cho rằng đó là những năm mình học tiếng Đức ở Geneva - từ năm 1914 đến năm 1918; nhưng cũng có lúc ông tin đó là năm 1925, khi tờ tạp chí Revista de Occidente bản thân rất thích cho in bản dịch đầu tiên của cuốn Hóa thân.

Đối với Borges, thư viện là một không gian vô cùng đặc biệt.
Xuôi về quá khứ, có thể nói Borges là một dịch giả trước khi trở thành nhà văn. Theo đó, những bản dịch của ông đã đưa tư tưởng hiện đại của Poe, Woolf, Faulkner và Joyce vào Argentina. Ông bắt đầu dịch Kafka vào năm 1938. Trong một cuộc trò chuyện với một học giả người Mĩ vào năm 1976, Borges nói rằng ông đã mua toàn tập tác phẩm của Kafka năm 1938 từ hiệu sách của Viện Goethe ở Buenos Aires. Năm này cũng đánh dấu những bước ngoặt quan trọng: cha của Borges qua đời, Đức sáp nhập Áo, biên giới Áo-Séc đóng cửa và Max Brod chạy trốn sang Palestine với chiếc vali chỉ có bản thảo của Kafka. Không dừng ở đó, ở tuổi 40 – cùng tuổi với Kafka khi ông rời xa cõi tạm – Borges bị nhiễm trùng huyết nặng, khiến ông cận kề cái chết trong gần 2 tuần. Sự việc này đã làm trầm trọng thêm tình trạng suy giảm thị lực từ thời thơ ấu của ông. Cũng trong năm đó, Borges cũng được thư viện công cộng Buenos Aires tuyển dụng. "Nếu hỏi đâu là ảnh hưởng xấu nhất đến cuộc đời tôi, thì tôi sẽ nói đó là thư viện của cha. Thực tế, đôi khi tôi nghĩ mình chưa lúc nào bước ra khỏi đó", sau này ông nhớ lại. Được mệnh danh là "người thư viện", Borges đã biến nơi này thành bối cảnh cho tất cả các cuốn sách của mình cũng như trở thành không gian sống ưa thích.
Được biết ông dành những đêm ở đó để dịch Kafka, ghi chép và (như chính ông thừa nhận) "bắt chước thần tượng người Séc”. Ngay sau đó, ông đã viết 3 truyện ngắn Xổ số thành Babylon, Phế tích vòng tròn và Thư viện Babel mang phong cách Kafka, giúp ông nổi tiếng trên toàn thế giới. Truyện cuối bắt đầu bằng câu: “Vũ trụ (mà người khác gọi là Thư viện) được làm nên từ một số lượng bất định, có lẽ là vô hạn những phòng hình lục giác, có những giếng thông hơi khổng lồ chạy chính giữa, bao quanh là những lan can thấp. Từ mỗi phòng lục giác, có thể nhìn thấy các tầng dưới và trên: chúng chạy về vô cùng". Trong khi mê cung vừa là biểu tượng trí tuệ vừa là ẩn dụ về sự vô hạn, thư viện chính là hiện thân vật chất của điều đó.
Có một điểm chung giữa hai cây viết: Kafka và Borges đều không thể chịu đựng được thế giới bên ngoài như nó vốn là với tất cả những khiếm khuyết không thể tránh khỏi. Văn học là nguồn bình yên duy nhất của họ, là không gian sống duy nhất mà họ có thể tìm thấy con đường của mình, là chốn nương thân gần như độc nhất. Ta thấy điều đó trong Karl Rossmann ở Nước Mĩ, người khảo sát đất đai bên ngoài Lâu đài, Josef K trước các thẩm phán trong cuốn Vụ án, Gregor Samsa với cha mẹ mình trong cuốn Hóa thân… Điểm chung của tất cả các nhân vật của Kafka là họ đều là những kẻ ngoài cuộc, không hiểu luật lệ cũng như ngôn ngữ của chính những nơi mà họ đang sống.
Mê cung là hiện thân của thân phận con người hiện đại: Kafka và Borges cũng đồng ý về điểm này. Dường như họ muốn nói rằng cách duy nhất để sống sót trong đó là hoặc đi sâu hơn nữa vào trong, hoặc là xây dựng mê cung chỉ của riêng mình. Đối với Kafka, điều này thể hiện dưới dạng "hang động" không bao giờ được bịt kín hoàn toàn khỏi những ồn ào của thế giới ngoài kia, còn với Borges, mê cung là một thư viện hình tròn chứa đựng mọi thứ có thể diễn đạt bằng mọi ngôn ngữ. Ở một điểm khác, trong khi Kafka thường viết “Tôi là văn chương và không gì khác" trong nhật kí và thư từ của mình, thì Borges cũng tự gọi mình là “người thư viện”- sinh vật của giấy và mực. "S'enfouir, c'est s'enfuir", nhà sử học nghệ thuật người Pháp Georges Didi-Huberman đã viết trong bài luận Le Témoin jusqu'au bout về thời gian giam cầm của nhà ngôn ngữ học người Do Thái gốc Đức Victor Klemperer trong Thế chiến thứ hai như thế. Đó là một cách chơi chữ mà có thể dịch là: “Đào hang là chạy trốn”. Kafka và Borges không chạy trốn cùng một bóng ma, nhưng cả hai đều dựng rào chắn bằng cùng chất liệu: Đó là giá sách.

Còn với Kafka, thế giới riêng tư như một hang động là điều ông luôn ao ước.
Trong số những dịch giả của Kafka, có thể nói Borges là học trò ngoan đạo nhất. Từ năm 1939 trở đi, cả hai thậm chí còn được xuất bản “chung một mái nhà” - NXB Losada của Argentina. Trong những năm sau chiến tranh, Kafka đã trở thành hiện tượng văn chương ở cả châu Âu cũng như châu Mĩ – thần tượng của những người theo chủ nghĩa hiện sinh, siêu thực và phân tâm học. Năm 1983, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Kafka, khi đang trong chuyến diễn thuyết vòng quanh châu Âu, Borges nhiều lần kể với khán giả rằng khi còn trẻ, ông từng mơ ước "trở thành Kafka" và bật mí rằng: "Tôi đã viết một vài truyện ngắn mà trong đó bản thân tự ép mình, một cách đầy tham vọng và vô nghĩa, phải trở thành Kafka”. Ông cũng tiết lộ Thư viện Babel là một trong những truyện ngắn đó, và là “bài tập mà tôi cố gắng trở thành Kafka. Nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là bắt chước Kafka. Ông ấy là một thiên tài, còn tôi chỉ là nhà văn”.
Năm 1955, khi chứng mù lòa chuyển "một buổi hoàng hôn mùa hè chậm rãi" sang bóng tối gần như hoàn toàn, Borges được bổ nhiệm làm giám đốc Thư viện Quốc gia Argentina. Bao quanh ông là những cuốn sách mà bản thân không còn đọc được, và sự trớ trêu này đã truyền cảm hứng cho ông. Mặc dù bị mù, ông vẫn có thể làm những vị khách đến thăm ngạc nhiên bằng cách di chuyển quanh các tòa nhà thư viện như thể đang ở nhà mình mà không cần gậy hay người dẫn đường. Ông gây ấn tượng với mọi người bằng cách nhớ rõ từng kệ sách trong thư viện, từ tầng hầm lên đến trần nhà, và cách ông di chuyển linh hoạt từ tầng này sang tầng khác. Nhà văn người Uruguay Emir Monegal kể lại từng thấy Borges chạy vút lên cầu thang, chạy dọc lối đi và vừa chạy vừa huýt sáo. Vị này nhớ lại: "Tôi phải rất nỗ lực thì mới theo kịp ông ấy”. Không ngoa khi nói Borges đã biến thành sinh vật mà chính ông tưởng tượng trong truyện ngắn Ngôi nhà của Asterion (1947) - một kẻ chỉ thấy thoải mái trong lòng mê cung.
Và tuy có nhiều điểm chung, nhưng hai người họ cũng có không ít khác biệt. Đơn cử cả hai nhìn nhận mê cung bản thân tạo ra theo kiểu rất khác: Nếu Borges yêu thích ý tưởng thư viện tượng trưng cho sự vô tận, và đối với ông, đó là một nguồn vui sướng; thì với Kafka, sự vô tận này lại đồng nghĩa với giam cầm. Trong khi Borges thản nhiên dạo bước trong các hành lang, vô tư như một đứa trẻ, thì các hành lang của Kafka lại giống một cơn ác mộng. Borges thích việc thư viện của mình không ngừng mở rộng, rằng ông không bao giờ có thể biết hết tất cả. Ông không quan tâm đến việc bị lạc, đến việc biết được đến đâu. Với ông, điều quan trọng là vị trí của các lối vào cũng như lối ra, đồng thời là các bức tường được làm từ sách.
Nhưng hãy quay lại với hiệu sách Đức ở Buenos Aires, một thành phố mà vào năm 1938, có hơn 180.000 người Do Thái sinh sống. Người đàn ông điều hành hiệu sách này, được bao quanh bởi sách vở, theo một khía cạnh nào đó, là một “người hùng theo kiểu Borges” đích thực, bởi nếu làm theo thông điệp “đốt sách” từ phía Berlin dưới bóng ma của Đế chế thứ 3, Borges có nhiều khả năng sẽ không bao giờ gặp được “thần tượng”, từ đó có xác suất cao ông sẽ không thể trở thành người mê sách mù duy nhất ở Buenos Aires. Có thể nói sự mù quáng “có chọn lọc” của người bán sách khi trưng bày sách của Kafka tại cửa sổ của Viện Goethe năm 1938 chính là cầu nối giữa hai nhà văn, trước khi thị lực của ông suy giảm đến mức không thể chuyển ngữ. Ở đây có một câu hỏi đang được đặt ra: Phải chăng việc không nhìn thấy lại là một cách để con người ta nhìn thấy rõ hơn?
NGÔ THUẬN PHÁT dịch từ nghiên cứu của Maïa Hruska trên LitHub
VNQD