. HỮU THỈNH
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Theo đoán định của tôi, với thiên truyện vừa Bất chợt mai vàng, Nguyễn Trí Huân không có dụng tâm kể với chúng ta về cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt giữa những chiến sĩ Giải phóng quân với đội quân tinh nhuệ và tàn ác bậc nhất hành tinh là bọn xâm lược Mĩ tại chiến trường Khu 5. Cái đó đã có nhiều cuốn sách nói rồi. Điều chủ tâm của tác giả muốn nói với chúng ta là số phận của những người trong đội quân chiến thắng ấy ra sao. Có thể nói đây là hai cuộc chiến tranh cùng diễn ra một lúc. Một đằng là đánh giặc cứu nước, một đằng là gột rửa những rác rưởi ngay trong hàng ngũ những người chiến thắng. Đây là nét phát triển mới của văn học ta chỉ có thể làm được từ sau sự nghiệp đổi mới được khởi phát vào năm 1986.

Cần phải nói ngay rằng, tự soi lại mình để nghiêm túc nhận rõ cái được cái hay và cái dở của bản thân, không phải lúc nào và ai cũng có thể làm được. Phải là người có bản lĩnh lắm mới có thể gỡ bỏ cái vòng kim cô vô hình mà có thật bao năm thắt bó trên đầu mình. Nói rộng ra, một xã hội, một dân tộc phải đạt tới sự phát triển đến mức nào đó mới đủ dũng cảm làm được việc đó.
Thật ra, vào tuổi 31 lại có đến 4 mặt con, anh Kháng (anh trai ruột của tác giả) không nằm trong danh sách tuyển quân. Nhưng anh rất mực xin đi vì “Đói ăn chịu được. Bị người ta khinh nhục lắm.” Cái nhục này, ngoài nghĩa là không dám xả thân nơi trận mạc, mà với anh còn có nghĩa khác là có bố bị đi lính cho Pháp. Tôi phải mở ngoặc đơn nói đỡ tác giả chuyện này. Trong nguyên bản tác giả nói là đi lính đánh thuê cho Pháp. Sự thực là bị bắt đi lính cho Pháp. Việc này diễn ra từ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918). Lúc đó thực dân Pháp đã có lệnh bắt tất cả thanh niên khoẻ mạnh ở các nước thuộc địa đi làm bia đỡ đạn cho chúng tại mặt trận Pháp - Đức. Trong đó có trường hợp bố anh Kháng. Đây là bị bắt, chứ không phải là tự nguyện xin đi. Cũng giống như dược sư Thái Văn Du, chồng bà Tương Phố. Mặc dù là em ruột thượng thư Thái Văn Toàn đầy quyền lực, nhưng dược sư Thái Văn Du vẫn bị bắt sang Pháp, sau 3 năm bị mắc bệnh phổi, mới được tha về nước chữa trị nhưng không qua khỏi, nên đã mất vào năm 1919. Năm đó bà Tương Phố mới 22 tuổi. Thương nhớ chồng, bà viết bài thơ dài Giọt lệ thu nổi tiếng được in lần đầu trên báo Nam Phong số 131 (7/1928). Sau 3 năm để tang chồng, bà Tương Phố tái giá với ông Phạm Khắc Chánh là tuần phủ Phúc Yên. Bà mất năm 1973. Tôi phải mở cái ngoặc đơn dài dòng này để nói rõ hai chữ bắt lính và đi lính mà không phải ai ở địa phương nào cũng phân biệt được rõ ràng. Và chính sự không rõ ràng này mà anh Kháng phải mang ra để thay đổi lí lịch. Hồi đó, chủ nghĩa lí lịch còn nặng nề lắm. Nó trùm phủ lên số phận của biết bao con người. Thậm chí có lúc nó được coi là tiêu chuẩn số một để đào tạo, cất nhắc cán bộ.
Ngoài cái chức phận làm nghĩa vụ công dân thời loạn, anh Kháng còn âm thầm, nung nấu làm cho đàn con mình được mở mặt như mọi đứa trẻ trong làng. Hai lí do gửi vào một mục đích. Ở vào mặt trận B5 (Tây Nguyên) ác liệt và thiếu đói bậc nhất ấy, thôi thì không có việc gì anh không xung phong đi đầu. Đi cõng ngô cứu đói, anh gùi gấp rưỡi người khác. Trong thác lũ, trong lúc mọi người còn do dự anh lao mình xuống suối cứu được o Hương là nữ y tá của đại đội. Trong trận pháo kích vào sân bay Đà Nẵng nhằm phá cuộc càn lớn của địch đang chuẩn bị đánh ra vùng giải phóng, anh đã vui vẻ nhận lời đi thay ông Tuân cáo ốm. Trận đánh thắng lợi, chỉ còn vài bước là anh rút khỏi trận địa trở về an toàn, nhưng khi nghe chiến sĩ vác máng tên lửa DKB nóng quá, anh vội quay lại để vác thay. Rủi thay, anh vừa vác đỡ máng pháo nóng bỏng đi được mấy bước thì bị trùm phủ trong một trận pháo bẫy khiến cả tổ đều hi sinh. Khi o Hương và tổ làm chính sách đi tìm thì cả ba chiến sĩ không ai còn nguyên vẹn, thịt xương họ trộn lẫn với nhau. Người ta đành chia làm ba gói vụn thân thể của ba chiến sĩ làm ba ngôi mộ dưới chân đồi. Xong xuôi, lúc ra đường về họ còn tìm thấy một bàn tay vắt trên cành cây. O Hương bảo đó là bàn tay của anh Kháng. Tất cả đành quay lại chôn bàn tay ấy ở giữa ba ngôi mộ, để dưới âm, của ai người ấy nhận. Tối hôm ấy, chi bộ làm lễ kết nạp anh Kháng vào Đảng cùng với ba đồng chí khác.
Đáng lẽ, cái danh hiệu cao quý ấy anh Kháng đã được nhận lúc đang còn sống, chi uỷ cơ bản đã nhất trí. Đến khi xin ý kiến quần chúng thì ông Tuân là người duy nhất phản đối vì nghi anh Kháng có tình ý khác với o Hương. Mặc dù chẳng đưa ra được dẫn chứng nào cụ thể và xác thực, nhưng nguyên nhân sâu xa là ông Tuân đã nhiều lần tán tỉnh o Hương nhưng đều thất bại. Ông đổ lỗi cho ông Kháng vì nghi ngờ o Hương có cảm tình với anh từ sau khi được anh cứu khỏi chết đuối.
Thật ra, o Hương cũng có cảm tình đặc biệt với anh Kháng. Có lúc trong cơn xúc động bồng bột o còn tình nguyện, chủ động dâng trinh tiết của mình cho anh nữa. Nhưng anh Kháng đã kiên quyết gạt đi, giúp o bình tĩnh lại. Nếu không, câu chuyện giữa o Hương, anh Kháng và ông Tuân sẽ trở thành một câu chuyện tình tay ba mà người ta đã viết đến nhàm chán ra rồi. Hơn nữa, anh Kháng sẽ trở thành kẻ phản bội chị Luyến, phản bội cái mục đích vào chiến trường để thay đổi lí lịch của mình. Ta đành chấp nhận những phút nhói về số phận của o Hương sau chiến tranh, kiên quyết không lấy chồng để thờ anh Kháng - một người đáng thờ.
Việc ông Tuân ngáng chân mình, anh Kháng biết rõ mười mươi. Vậy mà anh vẫn vui vẻ nhận ra trận để chết thay cho ông ấy. Hơn nữa, anh còn giấu kín chuyện hai lần ông Tuân định bỏ trốn. Lần thứ nhất ông Tuân nói thẳng với anh. “Kháng này, hay là mình và cậu trốn đi. Ở đâu chả là sống. Dân tộc là loài người. Tổ quốc là thế giới. Cái nhục ở chỗ này là cái vinh ở chỗ khác. Anh tôi đứng bật dậy: Cậu không được nghĩ bậy, làm bậy. Tôi đã thấy những tờ truyền đơn trong túi cậu. Anh tôi gầm lên trong cổ họng: Liệu mà giữ mồm giữ miệng. Coi như tôi chưa nghe thấy cậu nói gì, biết chưa?” Lần thứ hai, sau khi giao nộp một số khí tài và một số dụng cụ của Mĩ để đào bệ phóng cho lữ đoàn, trên đường về, anh Kháng và ông Tuân bất ngờ bị một chiếc tàu rọ tâm lí chiến của địch quây tròn trên đầu với lời kêu gọi trở về với chính nghĩa quốc gia. “Anh tôi tựa vào vách đá thở gấp. Bên cạnh, ông Tuân mặt cắt không còn một hột máu. Cặp mắt lé của ông ta nhìn chếch về chiếc tàu rọ. Đôi môi mấp máy: Anh Kháng, hay là… Ông tháo bỏ gùi, cuốc xẻng loạng quạng lao về phía cửa hang. Dừng lại, không tao bắn. Anh tôi quát. Ông Tuân đứng khựng lại rồi lồm cồm bò về phía anh tôi.” Lại cũng giống như lần trước, khi đã thoát nạn, anh Kháng lại bỏ qua cho ông Tuân, không nói với ai điều này. Sự tha thứ này với một kẻ đã phản mình và toan phản bội Tổ quốc là sự cao thượng, khoan dung hay là sự bao che cho sự bất lương? Hay là sự thương hại mù quáng của Kháng? Tác giả không cho ta thấy anh băn khoăn về việc này. Có lẽ là anh Kháng chờ đợi sự hối cải, tỉnh ngộ của ông Tuân chăng? “Sau này, ông Cáp bảo anh tôi nhu nhược, thoả hiệp với cả cái xấu, cái ác, dẫn đến những sai phạm tiếp theo của ông Tuân không ai có thể tha thứ được.”
Và cái điều tệ hại nhất đã xảy ra không lâu sau đó. Chính cái hôm anh Kháng hi sinh, ông Tuân được cử đi thu nạp thi thể của anh Kháng và đồng đội, cùng với ông Cáp và o Hương. Khi nhận lệnh, ông Tuân đã gói ghém ba lô, rồi trong lúc mọi người đang ra sức tìm bới từng mảng xương thớ thịt của các liệt sĩ thì ông Tuân bỏ trốn. “Đồ chó dái. Ông Cáp chửi tục. Ông nghĩ trong chuyện này có lỗi của anh tôi. Anh tôi đã du di bỏ qua cho ông Tuân từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ. Ngay cả chuyện ông đã rình mò toan cưỡng bức o Hương ngoài bờ suối, cầu khẩn o cho một đứa con, anh tôi cũng bỏ qua, bảo rằng đó là chuyện xấu xí trong tình cảm chứ không phải tội lỗi. Việc ông Tuân bỏ trốn đã để lại một vết xước nhơ nhớp trong đơn vị của anh tôi.”
Trong khi những người lính ở chiến trường trần lưng chống trả với cái chết thì cuộc sống phía sau họ thế nào? Tất nhiên đó là một bản thành trì vững chắc cho mỗi tay súng ở phía trước tựa vào. Với một bút pháp chân thực đến chân tơ kẽ tóc, Nguyễn Trí Huân đã cho ta thấy biết bao nhiêu điều tốt đẹp cũng như biết bao nhiêu giọt nước mắt đời không thấy ở phía sau bức thành trì kia. Khổ nhất lại vẫn là những người đàn bà. Mẹ thương con đã đành. Còn những cô vợ trẻ? Nếu chỉ riêng nỗi nhớ chồng cào xé đến mức đêm đêm phải đổ thóc ra xay thì đã đi một nhẽ. Đằng này, từng ngày họ còn phải quay lưng trơ mặt vào những con sâu mọt như ông Văn. Với một bên chân thọt, Văn lọt lưới các đợt tuyển quân, lại còn được cử làm thư kí uỷ ban xã. Ông ta đã sẵn sàng nhận một việc khó nhất là cầm những tờ báo tử đem đến cho các gia đình liệt sĩ. Với công việc ấy, ai cũng ngại khi ông đến nhà. Vì ông gõ cửa nhà ai là mang theo chết chóc đến cho họ. Nên không biết từ đâu, ai ai cũng gọi Văn là con chim lợn, một loài chim rất thính với mùi tử khí. Nhưng nếu sự việc chỉ dừng lại ở đó thì chẳng ai nỡ lòng nào đặt cái biệt hiệu chết chóc kia cho hắn. Đằng này, Văn với bản năng thú tính không sao kìm hãm được đã lợi dụng ngay những tờ báo tử kia làm mối dây để bắt tình, lừa tình, ép tình những người vợ liệt sĩ. Thậm chí, vừa đưa tờ báo tử hôm trước, đêm hôm sau hắn đã gõ cửa làm cái điều đồi bại ấy với người vợ vừa thắt tang chồng. Đã có không ít người vợ lính đáng thương sa vào tay hắn. Con chim lợn này có thừa dã tâm để đánh trúng nỗi thèm khát bản năng của những người phụ nữ thiếu thốn tình cảm. Có lần hắn còn mang một cặp bánh dầy vào nhủ nhê một em bé 16 tuổi để thoả mãn thú tính của hắn, may mà có bà dì đã kịp cứu được đứa cháu gái vào phút chót. Nhưng sự bẩn thỉu này đã không dừng lại ở đó. Chị Luyến, vợ anh Kháng đã bao lần bị hắn xâm hại đầy thô bạo. Và chị cố lẩn tránh hắn như lẩn tránh một con hủi, mà vẫn không được yên thân. Đến buổi chiều, từ trại nuôi gà của hợp tác về nhà, chị gặp một cơn mưa lớn. Khi đi ngang miếu âm hồn bất ngờ một bóng đen từ cửa miếu lao vào khiến chị ngã ngồi trên đám cỏ chân vịt. Vẫn là ông Văn. Chị vùng dậy dùng chân đạp vào bụng cái bóng đen chồm lên chị. Sau đó chị đi báo tổ du kích trực chiến đến cứu ông Văn. Nhưng thần chết đã nhanh chân hơn họ. “Con chim lợn chết, làng như vơi nhẹ hẳn đi. Người ta không còn phải chốt cửa mỗi khi đêm xuống. Cũng không ai phải lo gặp ông ngoài đường nữa. Lúc khâm niệm cho ông Văn, mọi người tìm thấy trong túi áo ngực của ông tờ giấy báo tử của anh tôi.”
Tôi không thấy có gì bi đát trong câu chuyện đáng hổ thẹn của làng Hạ, ngược lại tôi cảm ơn chị Luyến, người đã thuỷ chung đặt vòng hoa đẹp nhất lên mộ anh Kháng chồng chị và mộ của những người liệt sĩ khác đã bị tên khốn nạn kia phản bội và làm nhục. Làng vẫn là làng. Nước vẫn là nước, nhưng đó không còn là chỗ nương thân của những kẻ đồi bại như ông Văn.
Bây giờ, chúng ta hãy trở lại câu chuyện còn bỏ dở về việc ông Tuân bỏ trốn đúng vào cái hôm đi nhặt thi thể người đã chết thay ông. Từ khu đồi tan hoang trộn lẫn đất đá và máu thịt ấy, ông chạy bổ vào rừng. Bất giác ông đụng phải một chiếc võng treo lơ lửng trên không, trong đó có một bộ xương khô và một khẩu AK đã hoen gỉ. Sau khi xếp bộ hài cốt của người lính vô danh vào hang đá, ông Tuân thay đổi ý định, không chạy về đồng bằng theo địch mà ra đầu thú tại một đơn vị bộ đội địa phương. Sau ba năm cải tạo, ông bị tước quân tịch, thải về địa phương. Vợ ông đã đi lấy chồng. Ông làm lại đời mình với một cô gái câm. Họ có với nhau hai đứa con, nhưng cả hai đều bệnh nọ tật kia do cha nó nhiều năm sống ở vùng rừng đầy chất độc hóa học. Nói như thế cho dễ nghe, còn người đọc lại có thể nghĩ khác. Một kẻ què quặt về tâm địa sao có thể sinh ra được những đứa con lành lặn. Là một giáo viên dạy văn, ham đọc, ông Tuân về quê cũng tìm cách kiếm sống bằng cách viết tin, viết báo nhì nhằng. Có phải vì sách vở đã giúp ông nhìn sâu vào những vùng tăm tối của lòng mình, để làm lại mình trong cơn bão lốc của ân hận và tủi nhục. Dấu hiệu đầu tiên của sự hoàn lương này là ông đã tìm về quê, đứng trên bờ đê vái ông Kháng từ xa khi gia đình làm lễ tang đón di hài anh về an táng tại quê nhà. Bước tiếp theo là ông đã mua một chậu hoa mai thuê xe ôm đưa vào tặng chị Luyến trước ngày đón tết. Bước thứ ba là ông đã đến viếng bà Luyến khi đám tang sắp kết thúc. Sau khi vái tạ người quá cố, ông đã thú nhận gần như tất cả hành vi phản quốc, phản dân, phản đồng đội của mình, rồi lùi lũi bước thấp bước cao ra khỏi cổng như một con chuột. Một thân hình tàn tạ. Một đôi mắt lèm nhèm đục trắng như cùi nhãn. Một lời thú tội vội vàng như trút hơi thở cuối cùng. Ngần ấy đã đủ lấp đầy cái vũng bùn trong quá khứ của ông chưa? Có trời biết, ngay cả chính ông nữa. Nhưng dù “vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa” vẫn còn có chút để người đời thương hại. Vì thế mà cái chậu hoa mai câm nín bấy lâu đã chợt nở ra những đốm hoa vàng mỏng manh và chói gắt vừa đúng 15 ngày sau khi bà Luyến ra đi. Chính cái chấm hoa vàng bất chợt này là tấm lòng khoan dung của Nguyễn Trí Huân đấy. Anh không muốn đẩy sự thù hận đến góc tối cuối cùng. Cái chấm mai vàng bất chợt ấy chính là cái dấu mốc Nguyễn Trí Huân tự vượt lên chính mình đấy. Bởi ngoài thân phận một người em, anh còn là một nhà văn nữa, một nhà văn đúng với cái nghĩa đẹp nhất của nó.
*
* *
Còn truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa hót trong tập truyện Bất chợt mai vàng thì tôi được đọc sớm hơn từ một tờ tạp chí. Còn nhớ khi đọc xong truyện ấy, tôi đã nói với Nguyễn Trí Huân: “Cái chi tiết ông để cho ông đội trưởng cải cách ngủ nhờ dưới gầm cầu thang gác cửa khu tập thể đọc đã quá.” Nhưng thực ra, toàn bộ câu chuyện lại không phải tập trung vào cái ông đội trưởng cải cách ấy, mà là số phận của ông Phong, đội phó của ông ta. Đây là câu chuyện viết về cải cách theo hướng tích cực, nghĩa là không phủ nhận sạch trơn, nhưng hàn gắn lại những đổ vỡ, những sứt mẻ, những dại dột thì không dễ một chút nào. Có một lần tôi đã nói với một người có trách nhiệm cũng trong giới cầm bút: “Không cấm được người ta viết về những sai lầm trong cải cách ruộng đất đâu. Bịt chỗ này rồi nó sẽ xì ra chỗ khác. Thà cứ để người ta nói cho đã một lần cho xong. Tôi rất tin người mình rồi cũng biết cách ăn ở với nhau cho phải lẽ.” Và tôi đã thể hiện cái ý tứ ấy trong bài thơ Nghệ nhân Bát Tràng với hai câu: Khó nhất là thu lại lửa/ Và khó hơn là thu lại mọi lỗi lầm.
Lão Phong, nhân vật chính của truyện, vốn là đứa con trai độc nhất của hai vợ chồng làm mõ làng. Thân phận phải làm cái việc hạ đẳng ấy, nhưng cả hai vợ chồng lại “xanh vỏ đỏ lòng”, dám đào một chiếc hầm bí mật trong túp lều rách nát của mình để che chở cho anh Dung là đội trưởng du kích xã. Tất nhiên, việc đó có thể bí mật với ai chứ không thể che mắt được đứa con duy nhất trong nhà. Dù đã dặn con hết lời rồi, nhưng không biết trời xui đất khiến thế nào, cậu Phong đã hở mồm hở miệng với cậu Tới cùng cảnh đi tát nước thuê cho Tổng Quỳnh. Lập tức hôm sau Tổng Quỳnh đã đưa lính về đốt trụi căn lều tội nghiệp kia, chiếc hầm bị đào bới. Cả hai bố mẹ Phong bị bắn chết, chặt đầu cắm cọc giữa làng. “Đêm hôm ấy, bà Thuộc cô ruột của lão cắp một chiếc thúng và hai chiếc khăn trùm đen, đem theo một ít tiền cho bọn lính gác rồi lượm hai chiếc đầu của bố mẹ lão đem về chắp vào thân người bó chiếu đem chôn ở khu Gò Mả, trước sự bảo vệ của anh Dung và đội du kích xã. Sau lễ mai táng âm thầm và tức tưởi bố mẹ lão, bà Thuộc cô ruột lão bảo: Thôi, con về ở với cô, từ nay mày là con ruột của cô. Lão đã về ở với bà, tham gia đội du kích của anh Dung bắt đầu từ đêm hôm đó.” Ở với bà Thuộc, lão có cái ăn cái mặc, không phải đi làm thuê nữa. Được anh Dùng dìu dắt, lão biết bắn súng, đánh vu hồi, và cùng với chú Bốn chôn mìn giết được một tên quan một và một tên lính lái xe, phá huỷ một chiếc xe. Lúc này anh Dung lại chuyển lên làm một cái hầm bí mật sau vườn bà Thuộc. Bà Thuộc làm nghề bán cháo se, món mà Tổng Quỳnh ưa thích. Trước thì thích cháo, sau thì mê người. Một buổi Tổng Quỳnh đột ngột dẫn lính vào nhà bà, thấy chỉ có mình bà, hắn đuổi hết lính ra, rồi hãm hiếp bà trên chiếc sập gụ trước bàn thờ tổ. Bà Thuộc kêu toáng lên để đánh động anh Dung và mấy người du kích sau vườn kịp vội xuống hầm.
Hoà bình lập lại, chưa kịp hưởng những ngày hoà bình đầu tiên thì cơn bão cải cách ruộng đất ập tới làng Hạ, “…với sức tàn phá khủng khiếp bằng 7 năm kháng chiến cộng lại.” “Còn lão, một thanh niên cốt cán của đội cải cách, lúc nào cũng hừng hực, coi trời bằng vung. Lão đi lại vênh vác, gặp ai cũng doạ dẫm, đe nạt. Một lần, lão gặp bà Hậu, một người đáng tuổi mẹ, lão quát: Hậu, mụ không có miệng à? Bà Hậu dừng lại, cúi gập người: - Dạ, con xin chào con ông bà mõ ạ.” Những gì sau đó mới thực là cải cách ruộng đất. Tổng Quỳnh bị đấu tố rồi bị bắn, chính tay lão bóp cò súng trong sự nhớn nhác của phiên toà. Tiếp đó, nhiều người bị vu là Quốc dân Đảng phải thắt cổ tự tử, trong đó có ông Phôn, bác ruột của lão. Biết rõ ông Phôn bị oan, nhưng lão không mở miệng nói lại cho ông một lời nào. “Có lần ông Cải trưởng họ, một lính khố xanh giải ngũ nhổ nước bọt trước mặt lão, lão đã sai dân quân gô cổ ông, bắt ông nhịn đói nhịn khát một ngày một đêm trong hậu cung của đình làng.” Đến khi bà Thuộc bị quy lên địa chủ, bị đấu tố, thì trước sức ép của đội trưởng đội cải cách, lão đã tuyên bố từ nay từ bỏ bà Thuộc và dòng họ của lão, không cần tổ tiên nữa. Với tất cả công trạng đó, lão được cất nhắc lên chức phó chủ tịch xã khi mới 19 tuổi. “Một buổi tối, anh Dung đến trụ sở uỷ ban đóng tạm trong căn nhà ngang của Tổng Quỳnh. Anh bảo: - Cậu xử tệ quá. Đổ đốn quá. Tôi sẽ làm giấy cho cậu nhập ngũ. Cậu không thể ở lại với cái làng này đâu.” Vào bộ đội, hình như lão tìm được đất dụng võ. Lão được đào tạo, đề bạt và đã rất dũng cảm, mưu lược trong chiến đấu với sở trường đánh vu hồi nổi tiếng. Từ một binh nhì lão trở thành một vị tướng, một anh hùng lực lượng vũ trang, một dũng sĩ diệt Mĩ, một tư lệnh sư đoàn. Lão được đeo huân chương đầy ngực, đi báo cáo thành tích khắp nơi. Khi sức khoẻ sa sút, lão được chuyển ra làm vụ trưởng một vụ quan trọng. Như vậy, lão đã có thể được xem là một người thành đạt, khiến nhiều người ghen tị và thèm muốn. Về phương diện nào đó, lão là người đàng hoàng, biết ơn anh Dung đã dìu dắt lão từ nhỏ, biết ơn chính uỷ sư đoàn đã lấy thân che cho lão và đã chết vì lão trước khi có lệnh bổ nhiệm làm chính uỷ sư đoàn.
Nhưng cuộc đời đã không mãi mỉm cười với lão. Và việc phải nghĩ lại đời mình chỉ đến với lão sau khi nhận giấy về hưu. Một mình sống trong căn hộ 5 phòng, ngoài một Con hoạ mi lông xù, lão không biết trò chuyện với ai. Quanh quẩn mãi, rồi lão nghĩ phải trở về làng, trở về với họ mạc. Nhưng về với ai? Bà Thuộc thì lão đã tuyên bố từ mặt rồi. Trước khi chết, bà dặn anh Dung nói lại với lão: “Nhớ bảo thằng Phong làm quan thì phải thương dân, đừng dại dột nhẫn tâm như hồi cải cách.” Còn với họ hàng, thì ông Cài trưởng họ dứt khoát không cho lão nhập lại. Việc về làng, về với họ bây giờ còn khó gấp vạn lần khi cầm quân. Lão đã đánh mất lòng người rồi, mất cái lớn nhất mà một người tử tế cần có. Hồi còn làm tướng, lão có thể đi tay không ra một chiếc tàu chiến để thuyết phục 500 lính nguỵ trở về với cách mạng. Cái việc được xem như một hành động anh hùng ấy bây giờ lão không thể lặp lại với cái họ Phạm đã trở nên xa lắc của lão nữa rồi. Làm sao còn cứu được cái việc lão đã đứng lên lớn tiếng tuyên bố từ bỏ dòng họ, từ bỏ bà Thuộc vừa là cô ruột vừa là mẹ nuôi của lão? Làm sao lão cứu được việc tống giam ông Cài, trưởng họ Phạm vào hậu cung đình làng, bỏ đói bỏ khát một ngày một đêm chỉ vì ông đã dám nhổ nước bọt vào mặt lão sau những việc quá tồi tệ của lão? Bây giờ lão như một thân cây bị nhổ bật khỏi gốc rồi, quay mặt về đâu cũng có thể được, chứ quay mặt về làng thì không thể. Nghĩ mãi, lão mới tìm ra việc gột rửa quá khứ của mình bằng cách đổi căn hộ 5 phòng đàng hoàng của lão ở tầng 2 lấy căn hộ 2 phòng tồi tàn ở tầng 4 cho một cậu vụ phó. Lão lại có thể trả gấp 3 lần tiền thuê xe ôm và tặng kèm một bộ quần áo cho cậu Cương. Rồi khi dịch Covid-19 bùng phát, lão tự nguyện xin vào tổ trực chiến, xông xáo vào mọi chỗ có F0, F1 để chuyển họ đi bệnh viện. Lão lại còn viết di chúc rằng, sau khi chết, lão hiến tặng căn hộ 2 phòng của lão cho trẻ em làng Hạ trọ học miễn phí. Những việc ấy được bà con khu tập thể rất nể phục. Và nó cũng chỉ có ý nghĩa như một người bệnh tự tiêm thuốc giảm đau mà thôi. Mãi cho đến khi do sự vận động của nhân vật “tôi”, chính là tác giả của thiên truyện này, miễn cưỡng lắm ông trưởng họ mới đồng ý cho lão về gặp mặt để tìm cách thuyết phục các bô lão trong họ, thì việc đã quá muộn. Khi biết mình đã bị mắc Covid-19, lão kiên quyết không tiêm thuốc Trung Quốc, khoá trái cửa, tự tìm đến cái chết. “Tôi nghĩ rằng, cái chết của lão Phong là dấu hiệu chấm hết cho một vết thương cũ. Vết thương hơn 60 năm từng xói mòn biết bao nhiêu số phận.”
Khi bình tro của lão được đưa về làng, ông trưởng họ làm lễ xin tổ tiên cho lão nhập họ, ba lần gieo đài ba lần không được. “Làng nước đã buông bỏ rồi. Nhưng các cụ thì chưa. Tội tổ tông là tội lớn lắm.”
Trong khi đó, chiếc bình tro của lão vừa hạ huyệt thì trên trời xuất hiện một Con hoạ mi lông xù mà lão thường nuôi vừa bay qua vừa cất tiếng. Đó là việc rất hiếm thấy ở làng Hạ.
Với hai chi tiết ấy, tác giả chọn một cách kết thúc mở cho người đọc.
*
* *
Lâu nay chúng ta vẫn hay nói về việc đổi mới tư duy tiểu thuyết. Cuộc thảo luận thật rôm rả và hầu như không có hồi kết. Nguyễn Trí Huân bằng hai thiên truyện vừa trong cuốn Bất chợt mai vàng đã hiện thực hoá một quan điểm riêng của anh. Đó là sự mở rộng không gian của đề tài và chủ đề, của tưởng tượng và hư cấu, thay thế cái đơn tuyến, một chiều bằng cái đa thanh, phức hợp, mở rộng các kích cỡ để quan sát số phận con người, đem đến một triết lí thẩm mĩ mới mẻ. Nhân vật của anh tưởng quen mà rất lạ. Anh Kháng 4 con, 31 tuổi không phải diện tuyển quân nhưng tự nguyện nhập ngũ để quyết thay đổi lí lịch cho các con. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc góp phần thay đổi lí lịch cho cả một dân tộc sau bao năm bị chia cắt và xâm lược. Do đó trong trường hợp của anh Kháng, việc nước và việc nhà được gắn kết trong một thể thống nhất cho nên cái chết đối với anh nhẹ như lông hồng. Còn ông Tuân, trong diện tuyển quân, nhập ngũ nhưng nhất quyết phải giữ lấy thân để duy trì nòi giống, vì ông là trai độc đinh. Thế là việc nhà và việc nước đã tách làm hai ngả mất rồi. Với một tâm thế ấy chẳng nói bạn đọc cũng biết cuộc sống ở mặt trận của ông sẽ ra sao.
Quá trình phát triển tính cách của hai nhân vật này là cả một chuỗi đan xen giữa sáng và tối, cao cả và thấp hèn. Và anh Kháng đã tự nhận lấy cái chết mang đậm chất anh hùng ca, còn ông Tuân thì vẫn còn sống, nhưng là sống dưới đáy đen ngòm của sự sỉ nhục. Cái kết cục theo kiểu “hòn ngọc thì mất, hòn đất thì còn” này đứng ngoài sự chờ đợi của người đọc vốn quen với những trang văn kết thúc có hậu. Nhưng nó lại có tác dụng mở rộng không gian cho một thể loại văn học luôn đòi hỏi người viết phải rọi ánh sáng vào tận những vùng tăm tối nhất của cuộc sống.
Ở thiên truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa hót, Nguyễn Trí Huân lại cho người đọc tiếp cận một kiểu nhân vật còn hiếm thấy trong văn học ta. Với kiểu nhân vật này, tác giả đã mở tung ra một vực thẳm ngay dưới chân một người anh hùng. Yếu tố tâm linh đã được vận dụng đến mức tối đa làm cho nhân vật chính luôn phải sống trong tâm trạng “ngồi không yên ổn, đứng không vững vàng”. Nguyễn Trí Huân đã dành khá nhiều trang thể hiện mối quan hệ giữa lão Phong, nguyên sư trưởng với bà vợ của ông chính uỷ sư đoàn sau khi ông lấy thân mình phủ lên mình lão, hứng lấy cái chết từ một loạt tiểu liên của địch trong trận đánh vu hồi vào hậu phương của địch. Đó là một mối quan hệ thân tình, trong sáng, hết lòng vì nhau, thậm chí có lúc đạt đến giới hạn mong manh nửa nạc nửa mỡ. Khi bà bị nhiễm Covid-19, lão đã lao vào phòng bệnh, ở lì đó với bà, đến khi cô y tá hỏi ông quan hệ là gì với bà ấy, ông gần như thét lên: “Tôi, tôi là anh, là chồng của bà ấy. Nhà tôi không còn ai. Tôi phải ở lại với bà ấy.” Thân thiết đến mức ấy, nhưng tác giả đã không để cho ông ta vặn nắm đấm cửa để sang với bà trong cái lần cùng đi biển với nhau. “Nếu như lúc đó lão mở cửa, có thể lão sẽ được tất cả, cũng có thể mất tất cả.” May mà lão đã biết dừng lại. Nếu không thì chưa lấp xong vực thẳm phía sau, lão đã bị đẩy vào vực thẳm phía trước. Sống sao nổi. Hãy để cho lão yên nghỉ dưới vòng hoa trắng muốt với dòng chữ “Vĩnh biệt anh, một người và một thời” của bà là đủ.
Thật đáng tiếc, tác giả thiên truyện này đã không kịp cho lão biết, cái ông vẫn thường tìm đến ngủ nhờ dưới gầm cầu thang khu tập thể của lão đã chết sau một cơn ho sét đánh, chính là ông đội trưởng cải cách ruộng đất ở làng Hạ năm nào.
Vậy thì, thiên truyện Con hoạ mi lông xù vừa bay vừa hót là viết về một người hay một thời? Là bi kịch hay hài kịch? Cái đó cũng lại nhường quyền cho bạn đọc. Riêng tôi, tôi muốn xem nó là cái nhếch mép đầy giễu cợt và cay đắng của lịch sử. Một ông Phồn, nguyên là chủ tịch liên xã kháng chiến Hồng Phong, Hồng Thái, Hồng Hà bị quy oan tham gia Quốc dân đảng, tới mức phải treo cổ tự vẫn. Việc bà Thuộc, người đã để cho anh Dung và đội du kích đào hầm bí mật ngay sau nhà mình, cam chịu để cho tên Tổng Quỳnh hãm hiếp trước bàn thờ tổ, chỉ kịp thét lên cho anh Dung và đồng đội của anh xuống hầm, lại còn đang đêm liều lĩnh đi thu hai cái đầu lâu bị bêu nắng của bố mẹ lão Phong về chắp nối lại và chôn cất cho tử tế, nay bị đem ra đấu tố, tịch thu hết cả gia sản, bị đuổi xuống nhà bếp, rồi bà dỡ tung cái nơi trú thân cuối cùng ấy, vác cột kèo ném vào nhà các gia đình bần cố nông, và bà đã quát vào mặt lão Phong khi lão tuyên bố từ bỏ họ Phạm, từ bỏ bà “Các người điên hết rồi, cả cái làng này điên hết rồi” rồi quyết định làm một người câm cho đến trước khi chết. Trong khi đó, thằng Tới, kẻ đã bán tin cho Tổng Quỳnh về chiếc hầm bí mật trong nhà vợ chồng ông mõ để lấy 10 đồng bạc, thì nay lại được đội cải cách chia cho ở ngôi nhà trên của bà Thuộc cùng với lão. Cuộc đổi trắng thay đen chóng mặt đã cướp đi cái quý nhất của làng Hạ là lòng tin. Mà như người ta nói, mất lòng tin là mất tất cả.
May thay cho làng Hạ, vẫn còn anh Dung đó, người đã làm dịu đi biết bao đau đớn và ngày càng hoà vào số phận của nhân dân, thật xứng đáng là người đứng đầu chính quyền thành phố. Và còn may nữa là tác giả thiên truyện này, người đã đem lương tâm nhà văn làm cho người ta cần nhớ những gì đáng nhớ.
Viết về chiến tranh mà bom đạn và kẻ địch chỉ được xem là cái nền để tác giả soi rọi vào số phận những người chiến thắng, đó là một đóng góp trân trọng và cần tôn vinh xứng đáng của Nguyễn Trí Huân vào nền văn học đang đổi mới của chúng ta.
Hà Nội, 15/6/2025
H.T
VNQD