Dòng chảy

Nơi gặp gỡ giữa hai dòng nước

Thứ Hai, 02/11/2026 16:20

Sau gần 30 năm gắn bó với lực lượng biên phòng, bước chân nhà báo đã đưa tôi đến hầu hết các vùng đất biên giới hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Trong đó, địa bàn Kẻng Mỏ là một trong những nơi tôi đến nhiều lần. Nhìn trên bản đồ, đường đi chỉ là một nét vẽ mảnh mai, nhưng ngoài thực địa, mỗi đoạn dốc, mỗi con suối, mỗi mùa nước lên đều là một thử thách. Muốn hiểu vùng đất Kẻng Mỏ này, phải nghe người dân kể chuyện, nghe cán bộ biên phòng nhớ lại những ngày xa, rồi nhìn dòng sông đủ lâu để thấy phía sau vẻ bình thản của nó là những khó khăn, thách thức với người dân và nhất là với những chiến sĩ biên phòng đang ngày đêm bám trụ...

Kẻng Mỏ nằm ở nơi sông Đà và Nậm Là từ phía bên kia biên giới tìm về, gặp nhau rồi cùng xuôi giữa những dãy núi còn giữ nguyên vẻ thâm u của một vùng biên viễn. Đứng trên con đường dẫn xuống Trạm kiểm soát Biên phòng Kẻng Mỏ, thuộc Đồn Biên phòng Ka Lăng, nhìn dòng nước phía dưới, tôi luôn có cảm giác mình đang đứng trước một trang sách đã mở từ lâu, nhưng mỗi lần trở lại lại thấy thêm một điều gì đó. Núi vẫn thế, rừng vẫn thế, nước vẫn tìm về theo con đường của nước; chỉ có con người và cuộc sống nơi này từng ngày đổi khác.

Ngã ba sông Đà - Nậm Là ở Kẻng Mỏ.

Kẻng Mỏ, trước đây thuộc xã Ka Lăng, nay thuộc xã Thu Lũm, tỉnh Lai Châu, sau khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Địa danh ấy nghe vừa lạ vừa gợi tò mò. Người già ở đây kể rằng ngày trước, những chiếc thuyền sắt từ bên kia biên giới từng theo dòng sông Đà lên trao đổi hàng hóa. Có chiếc va vào đá, tiếng kim loại va vào ghềnh đá vang lên trong thung sâu. Từ tiếng “kẻng” ấy, người ta gọi vùng đất này là Kẻng Mỏ. Chuyện ấy chẳng ai còn đủ căn cứ để khẳng định đúng sai, nhưng những địa danh ở miền biên giới thường được giữ lại bằng những câu chuyện như thế. Một tiếng động trên dòng sông, một dấu chân người đi rừng, một mỏm đá… lâu dần thành tên đất, rồi tên đất đi vào ký ức của nhiều thế hệ.

Người Hà Nhì đã ở vùng đất này từ lâu. Họ thuộc từng lối mòn lên núi, từng bãi đất có thể gieo trồng, từng con nước khi mùa mưa về. Nhưng Kẻng Mỏ không phải nơi dễ mở đất. Núi cao, dốc đứng, những khoảnh đất bằng phẳng không nhiều. Muốn làm nương, làm ruộng hay dựng một ngôi nhà, người ta đều phải tính đến sức người và những trận mưa có thể làm thay đổi con đường chỉ sau một đêm.

Ông Chu Xé Lù, người Hà Nhì ở Lả Ú Cò, từng nói với tôi rằng đất Kẻng Mỏ đẹp nhất là nơi hai dòng nước gặp nhau. Ông không nói về cái đẹp theo cách của người đứng ngoài ngắm núi. Với ông, đất đẹp là đất có thể sống được, là nơi nếu có người hiểu đất, biết cách hướng dẫn bà con thì vẫn có thể gieo trồng, gây dựng cuộc sống. Câu nói ấy làm tôi nhớ lâu, bởi ở vùng cao, người dân thường nhìn đất bằng một cách khác. Một sườn núi đáng giá không chỉ vì nó hùng vĩ, mà vì trên đó có thể trồng được cây gì. Một con suối quý không chỉ cho tôm ngon cá béo, mà còn bởi nó cho nguồn nước khi trời làm khô hạn, tưới tắm cho những ruộng lúa vàng bông...

Từ cách nhìn ấy, Kẻng Mỏ hiện ra gần gũi hơn. Nó không chỉ là một điểm trên đường biên, cũng không chỉ là nơi đặt một trạm kiểm soát. Đó là một vùng đất có người sinh sống, có những gia đình bám núi, có những đứa trẻ lớn lên bên tiếng nước, có cán bộ, chiến sĩ ngày đêm bám giữ địa bàn.

Cán bộ, chiến sĩ Trạm Kiểm soát biên phòng Kẻng Mỏ bám địa bàn.

Thiếu tá Nguyễn Hữu Tám từng có những năm tháng tuổi trẻ ở Kẻng Mỏ. Ngày ấy, Trạm kiểm soát Biên phòng Kẻng Mỏ chỉ có một cán bộ, một chiến sĩ và một quân y. Điện lưới quốc gia chưa có, điện thoại cũng không. Chiếc máy vô tuyến nhiều khi trở thành sợi dây duy nhất nối những người lính ở đây với đơn vị. Trạm cách đơn vị chính hơn 40 km, nhưng con số ấy trên thực tế chưa bao giờ chỉ là 40 km. Mùa mưa, đường sạt lở, nước suối dâng cao, có những chuyến đi phải mất hai, ba ngày mới tới nơi.

Thiếu tá Tám kể lại những chuyện ấy với giọng bình thản của một người đã trải qua. Anh không nói nhiều về sự gian khổ. Có lẽ những người từng sống lâu ở vùng biên thường nhớ một con đường hơn là nhớ mình đã mệt thế nào; nhớ một mùa mưa nước dâng đến đâu hơn là nhớ đôi chân đã lấm bùn ra sao. Những năm ở Kẻng Mỏ, điều khiến Tám trăn trở không chỉ là đường xa hay thiếu điện, mà là làm thế nào để cán bộ, chiến sĩ có thể gần dân hơn trong khi nhiều bản làng cách trạm hàng chục cây số.

Khi ấy, một số bản người Hà Nhì như Lé Ma, Mé Gióng, Kẻng Mỏ, Lả Ú Cò và các bản lân cận quanh Ka Lăng còn có rất ít người sử dụng tiếng phổ thông. Cán bộ xuống bản nhiều khi phải kiên nhẫn giải thích từng việc, có lúc nhờ người biết tiếng Hà Nhì truyền đạt lại. Một cuộc họp dân có thể kéo dài hơn dự kiến chỉ vì cán bộ phải nói chậm, nói lại, tìm cách để bà con hiểu hết và hiểu đúng điều mình muốn truyền đạt. Những lần đi như thế lại làm khoảng cách giữa người lính và người dân ngắn lại.

Tám nói với tôi một điều giản dị nhưng rất đúng với công việc của người cán bộ biên phòng: muốn xây dựng được lòng tin thì trước hết phải đặt cái tâm và trách nhiệm của mình vào cuộc sống của dân. Không thể chỉ ngồi ở trạm chờ người dân tìm đến. Muốn biết dân cần gì thì phải xuống bản, muốn hiểu dân nghĩ gì thì phải ngồi với dân, nghe cả những điều tưởng như rất nhỏ. Ở nơi đường đi đã khó, tiếng nói còn khác nhau, niềm tin càng không thể có trong một sớm một chiều.

Có lẽ cũng từ yêu cầu bám dân, bám địa bàn mà câu chuyện về tổ chức Đảng ở Kẻng Mỏ trở nên đặc biệt. Khi Đảng ủy, Ban Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu chỉ đạo Đồn Biên phòng Ka Lăng thành lập Chi bộ Trạm kiểm soát Biên phòng Kẻng Mỏ, tôi nghĩ đến những ngày trước đây của Tám và đồng đội. Nơi một thời chỉ có vài người lính, nay một tổ chức Đảng được hình thành ngay tại điểm xa xôi ấy. Năm đảng viên của chi bộ cùng sinh hoạt, cùng làm nhiệm vụ và cùng đứng trên địa bàn mà mỗi bước đi đều gắn với công việc giữ biên giới, giữ dân trên địa bàn.

Người ở đơn vị gọi đó là “Chi bộ nơi đầu nguồn”.

Chi bộ Trạm Kiểm soát biên phòng Kẻng Mỏ thay cờ Tổ quốc.

Cái tên nghe giản dị mà hợp với Kẻng Mỏ. Đây là nơi những dòng nước từ phía bên kia biên giới tìm về, nhưng cũng là nơi những chủ trương, chính sách cần được đưa đến gần người dân hơn. Từ một chi bộ nhỏ ở nơi xa xôi, công việc của những người lính không chỉ dừng lại ở tuần tra, kiểm soát, bảo vệ đường biên, mà còn đi sâu hơn vào đời sống của từng bản làng.

Theo kiến giải của Đại tá Lê Công Thành, Phó Chính ủy BĐBP Lai Châu, thì việc thành lập chi bộ ở Kẻng Mỏ có cái khó riêng bởi đây là địa bàn rất xa, độc lập, điều kiện sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn. Trạm cách đơn vị chính hơn 40km, không có điện lưới, không có sóng điện thoại, bản gần nhất cũng cách khoảng 20km. Năm đảng viên của chi bộ vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vừa làm công tác Đảng, công tác vận động quần chúng, tìm cách đưa hoạt động của tổ chức Đảng đến gần dân hơn.

Tôi nghĩ, với một chi bộ ở nơi như Kẻng Mỏ, “gần dân” không thể chỉ tính bằng khoảng cách trên bản đồ. Có khi đi được đến bản đã là một việc khó; nhưng đến rồi mà người dân chưa mở lòng thì vẫn chưa thể gọi là gần. Cái gần ấy được tạo ra từ những lần gặp nhau, những buổi họp bản, những lần cán bộ giúp dân giải quyết một việc cụ thể, những câu chuyện bên bếp lửa hay trên đường đi nương. Từng việc nhỏ góp lại, lâu ngày thành sự tin cậy.

Thượng tá Phùng Nhù Giá, người có nhiều năm công tác ở Đồn Biên phòng Ka Lăng, kể rằng Chi bộ Kẻng Mỏ là một trong ba chi bộ trực thuộc Đảng bộ Đồn Biên phòng Ka Lăng. Đảng viên chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ của trạm. Vì điều kiện công tác, sinh hoạt khó khăn, đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy, Đồn trưởng trực tiếp tham gia, theo dõi hoạt động của chi bộ; cấp ủy cũng quan tâm để cán bộ, chiến sĩ có thể yên tâm công tác lâu dài ở địa bàn.

Tôi nghe câu chuyện ấy trong một buổi chiều nước sông Đà đang lên. Mưa phía thượng nguồn kéo về nhanh, mặt sông đổi màu, những mảng nước nâu cuộn vào nhau mang theo rất nhiều cành cây mục và lá khô. Ở Kẻng Mỏ, mùa mưa luôn khiến người ta phải tính toán lại từng chuyến đi. Những con đường men theo sông, theo suối vốn đã khó đi, gặp mưa lớn lại càng trơn trượt. Có những đoạn không thể dùng xe, người lính phải tìm cách vượt nước bằng những chiếc bè tre do mình tự làm.

Tre trong rừng được chọn những cây đủ già, chặt xuống rồi buộc ghép lại thành bè. Không có gì cầu kỳ. Nhưng khi nước dâng, một chiếc bè tre có thể trở thành phương tiện đưa người và hàng hóa qua dòng nước đang chảy xiết. Tôi từng đứng nhìn những người lính kiểm tra từng nút buộc trước khi đẩy bè xuống nước. Trong những việc tưởng nhỏ ấy có sự cẩn trọng của người biết rằng ở vùng biên, một sơ suất có thể khiến một chuyến đi trở nên nguy hiểm.

Người lính tuần tra nơi đầu nguồn sông Đà.

Có những đoạn sông nhìn từ trên cao tưởng hiền lành, nhưng khi xuống sát mép nước mới thấy dòng chảy mạnh đến thế nào. Những người lính ở đây thuộc lòng từng khúc quanh, biết chỗ nào nước xoáy, chỗ nào có đá ngầm, chỗ nào mùa khô có thể lội qua nhưng mùa mưa phải vòng xa. Họ học con sông bằng chính những chuyến đi của mình.

Tôi từng đọc Nguyễn Tuân viết về sông Đà và những con người sống giữa sông nước dữ dội. Nhưng Kẻng Mỏ không phải trang văn của Nguyễn Tuân, những người lính ở đây cũng chẳng cần được đặt vào một hình tượng văn học nào. Đứng trước dòng sông lớn, tôi chỉ thấy rõ hơn sự nhỏ bé của con người và sức bền của những người vẫn ngày ngày sống, làm việc bên nó.

Đêm ở Kẻng Mỏ có một vẻ riêng.

Khi điện lưới chưa về, đêm xuống rất nhanh. Sau bữa cơm, căn phòng chỉ còn ánh sáng le lói vừa đủ từ những nguồn điện anh em tự xoay xở. Bên ngoài, núi rừng tối sẫm. Không có tiếng xe dưới đường, không có ánh đèn nhà dân nối nhau như thường thấy tại các bản làng. Thứ âm thanh rõ nhất và nghìn đời nay vẫn thế, đó là tiếng nước chảy. Nước từ các khe núi đổ xuống, nước Nậm Là, nước sông Đà đi qua những ghềnh đá, hòa vào tiếng côn trùng rỉ rả và tiếng gió quăng quật dọc các sườn núi biên thùy.

Có lúc ngồi một mình, tôi nghe một âm thanh rất nhỏ giữa tiếng nước lớn. Một giọt nước từ mái hiên rơi xuống chiếc lá, rồi rơi tiếp xuống nền đất. Tôi gọi thầm đó là một “giọt sóng rơi”. Có lẽ chẳng ai ở Kẻng Mỏ gọi như vậy, nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy nó giống với cuộc sống của những người lính nơi đây: âm thầm, lẫn vào tiếng rừng núi, nhưng vẫn có mặt và vẫn bền bỉ.

Những đêm như thế dễ làm người ta nghĩ đến những điều rất bình thường: một cuộc điện thoại về nhà, một vạch sóng trên màn hình, một bóng điện sáng trong căn phòng, một con đường có thể đi về thuận lợi. Ở nơi phố thị, đó là những điều ít ai nghĩ tới. Nhưng ở Kẻng Mỏ, đôi khi chỉ một tín hiệu điện thoại xuất hiện cũng khiến người ta vui.

Gần ba mươi năm đi qua nhiều vùng biên giới khiến tôi hiểu rằng những điều tưởng nhỏ ấy không hề nhỏ. Giữ biên giới không chỉ là đứng trước cột mốc trong một buổi tuần tra. Đó còn là chuyện người lính phải sống được với địa bàn, hiểu dân, hiểu núi, hiểu con nước và chấp nhận những thiếu thốn mà người khác khó hình dung. Có những nơi càng xa trung tâm, công việc ấy càng cần sự kiên trì và cần nhất là một tình yêu biên cương đủ mạnh mẽ, vô bờ.

Lù Mí Pư, người Hà Nhì ở Lò Ma, từng đi bộ cả ngày để đến dự một cuộc họp cộng đồng. Chị bảo người dân lâu nay vẫn mong ở Kẻng Mỏ có một chi bộ. Có chi bộ thì những việc của Đảng, của Nhà nước đến với bà con nhanh hơn; cán bộ biên phòng cũng có điều kiện tham dự các cuộc họp ở địa bàn, nghe người dân nói trực tiếp về những việc họ đang cần.

Một người đi cả ngày chỉ để dự một cuộc họp mà vẫn nói bằng giọng bình thường, đủ để hiểu giá trị của sự gần dân ở một nơi như Kẻng Mỏ.

Ở miền xuôi, một cuộc họp có thể bắt đầu bằng tiếng xe máy, kết thúc bằng vài bước chân ra cổng. Ở đây, để đến được nơi họp, người ta có khi phải đi qua mấy quả núi, lội qua suối, mất cả ngày đường. Bởi vậy, khi một cán bộ biên phòng đến được với dân, cuộc gặp ấy không thể chỉ là một cuộc gặp xã giao. Ít nhất, người dân biết rằng ở nơi này vẫn có những người đang nghĩ đến họ.

Tôi nhớ một lần đứng bên mốc 18(2). Năm đảng viên của Chi bộ Kẻng Mỏ cùng có mặt. Một tay đặt lên ngực, một tay chạm vào cột mốc. Không ai nói gì nhiều.

Đảng viên Chi bộ Kẻng Mỏ và dân quân xã Thu Lũm tuần tra bên cột mốc chủ quyền 18(2).

Tôi nhìn mốc giới rồi nhìn sang dòng nước. Cột mốc đứng đó đã nhiều năm. Núi vẫn ở đó. Dòng sông vẫn chảy. Chỉ có những người lính lần lượt đến rồi đi qua các thế hệ.

Có lẽ đó là điều khiến tôi nghĩ nhiều nhất về Kẻng Mỏ. Một cột mốc không thể tự bảo vệ mình. Một bản làng cũng không thể tự nhiên gần với trung tâm nếu không có những con người tìm cách nối khoảng cách ấy lại. Một chi bộ, dù chỉ có năm đảng viên, cũng không thể làm cho một vùng đất thay đổi ngay lập tức. Nhưng ở đó có một tổ chức để giữ nhịp công việc, có người chịu trách nhiệm, có người đi đến với dân khi dân cần.

Từ mốc 18(2), nhìn xuống nơi hai dòng nước gặp nhau, tôi chợt thấy câu chuyện Kẻng Mỏ cũng giống như câu chuyện của những dòng sông. Nước từ nhiều nơi tìm về, gặp nhau rồi cùng chảy tiếp. Một người lính đến Kẻng Mỏ có thể chỉ ở đó vài năm, rồi lại chuyển công tác. Nhưng những gì anh để lại có thể là một người dân biết thêm một cách làm ăn, một đứa trẻ được đến trường, một cuộc họp bản có thêm tiếng nói của người lính, hay đơn giản là một gia đình biết khi cần có thể tìm đến trạm.

Ở vùng biên này, nhiều thay đổi bắt đầu từ những điều như thế.

Kẻng Mỏ bây giờ đã khác trước. Con đường vào địa bàn có những đoạn thuận lợi hơn. Phương tiện liên lạc từng bước được cải thiện. Cuộc sống của người dân cũng có thêm những cơ hội mới. Nhưng khoảng cách của miền núi không chỉ là số kilomet. Nó còn là khoảng cách về điều kiện sống, về thông tin, về khả năng tiếp cận các dịch vụ, về việc một chủ trương khi đến được bản đã được người dân hiểu và có thể biến thành việc làm cụ thể hay chưa.

Bởi vậy, tôi càng thấy Chi bộ “đầu nguồn” có lý do để tồn tại ở nơi này. Chi bộ không làm thay cuộc sống của dân, càng không thể biến Kẻng Mỏ thành một nơi khác. Nhưng sự có mặt thường xuyên của những người lính, sự kiên trì đi xuống từng bản, từng hộ, lắng nghe những điều người dân nói và cùng chính quyền địa phương giải quyết từng việc cụ thể sẽ làm cho khoảng cách ấy ngắn dần.

Một buổi chiều, tôi rời Kẻng Mỏ. Dòng sông phía dưới vẫn chảy, tiếng nước vọng lên từ thung sâu. Tôi ngoái nhìn lại con đường đã đi qua, thấy mái nhà của Trạm kiểm soát biên phòng khuất dần sau những thân cây. Kẻng Mỏ trở về với vẻ yên tĩnh vốn có. Những người lính ở lại vẫn còn nhiều việc phải làm. Ngày mai họ lại tuần tra, xuống bản, kiểm tra đường biên, lại ngồi với dân nếu có việc cần. Mùa mưa rồi sẽ qua, mùa khô lại đến.

Xe đi thêm một quãng. Núi che mất Kẻng Mỏ. Điện thoại trong túi vẫn im lặng. Tôi đã quen với chuyện ấy nên cũng không để ý. Cho đến khi xe vòng qua một sườn núi, màn hình điện thoại bỗng sáng lên. Một vạch sóng. Tôi nhìn nó một lúc rồi cất điện thoại vào túi. Phía sau lưng, Kẻng Mỏ đã khuất. Phía trước, con đường vẫn còn dài. Tôi không biết rồi đây vùng đất ấy sẽ đổi thay đến đâu, nhưng tôi biết những người lính ở đó sẽ vẫn đi những con đường của họ, vẫn đến với những bản làng bên sông Đà và Nậm Là, vẫn đứng bên mốc 18(2) mỗi khi có nhiệm vụ.

Một vạch sóng nhỏ không làm núi thấp đi, không làm đường ngắn lại. Nhưng nó khiến tôi nhớ rằng giữa những nơi tưởng rất xa, luôn có một sợi dây nào đó nối người với người. Tôi nghĩ đến Kẻng Mỏ, đến nơi hai dòng nước gặp nhau. Xe tiếp tục đi. Ở phía sau, sông Đà và Nậm Là vẫn chảy trong chan hòa, yêu thương...

QUỐC DUẨN

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong văn của tôi ít được hư cấu vì tôi không có tài hư cấu. Vì thế đọc lên là biết ngay đó là ai. Hơn nữa tôi cũng hay để tên nhân vật là tên nguyên mẫu...(NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)