.TRẦN HINH

Nguyễn Đình Thi và nữ sĩ Madeleine Riffaud
Vào thời điểm Thơ mới ra đời và phát triển (1932), Nguyễn Đình Thi chỉ vừa lên 8 tuổi. Viết về những trí thức trẻ Việt Nam thời kì ấy, nhà thơ Tố Hữu cho rằng, cả một thế hệ thanh niên tiểu tư sản trí thức ra đời, như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Phạm Huy Thông… đã hấp thụ trong mình làn không khí tự do đến từ phương Tây, cụ thể là Pháp, ngõ hầu có thể thay đổi được bầu không khí tù đọng, trì trệ từ hàng thế kỉ trước đó. Thơ mới, Tự lực văn đoàn, kể cả văn học hiện thực và cách mạng, trong đó có Tố Hữu, đã làm được một cuộc cách mạng thực sự. Nhà phê bình Hoài Thanh, trong Thi nhân Việt Nam, từng nhận xét xác đáng: Chỉ trong chưa đầy 10 năm, nền thi ca Việt Nam đã có một bước đi dài bằng cả hàng trăm năm trong thơ Pháp. Những thay đổi đột biến đó rõ ràng không thể tách rời ảnh hưởng của nền văn chương đến từ phương Tây, cụ thể là văn chương Pháp. Hoài Thanh không nói quá, nếu chúng ta nhìn lại thực tế văn học Việt Nam thời điểm trước đó hàng thế kỉ, vốn giống như một làn nước ao tù trì đọng. Nguyễn Đình Thi không may mắn sống và sáng tác trong thời kì đó. Trước những năm 1930, ông vẫn còn là một cậu thiếu niên mới lớn, sinh ra ở Lào (1924), mãi đến tận đầu những năm 1930 mới trở về Việt Nam. Mặc dù không sống trong bầu không khí Âu hóa của thời Thơ mới, nhưng nhờ là đứa con trong một gia đình mà người ông ngoại từng làm ăn ở Lào, là đầu bếp trong một trại lính Pháp, bố là viên chức của Sở Bưu điện Đông Dương, cả hai đều nói tiếng Pháp rất giỏi, Nguyễn Đình Thi đã được thừa hưởng cái gen Tây học đó. Sau này đến với văn chương, Nguyễn Đình Thi có thể không được như Xuân Diệu, mang trong mình “bầu nhiệt huyết Pháp”, viết những câu thơ rất lạ với người đọc lúc bấy giờ. Nhưng nếu nói đến trường hợp một nhà văn trưởng thành và sáng tác từ sau cách mạng, thậm chí sau kháng chiến (tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Đình Thi xuất bản năm 1951 là Xung kích), là thời điểm mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp vẫn còn khá khó khăn (tiếng Pháp lúc ấy còn bị hạn chế dạy trong trường học), lí do nào đã giúp ông vượt qua mọi rào cản để đến với văn học Pháp? Đó là câu hỏi cần phải được trả lời…
Quả thực, theo dõi trường hợp Nguyễn Đình Thi, không khó nhận ra, giới nghiên cứu văn học Việt Nam gần như rất ít khi đề cập đến chủ đề này. Người ta viết rất nhiều về con người ông, về tiểu thuyết Vỡ bờ, về những vở kịch tự sự đầy chất huyền thoại, đặc biệt là những vần thơ tự do không vần, vắt dòng không theo truyền thống. Dấu ấn “văn hóa Pháp” trong sáng tác của ông gần như rất ít khi được các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam nhắc đến. Trong khi con người và sự nghiệp sáng tác của ông, ngay cả khi đã là người cách mạng, trực tiếp tham gia kháng chiến, “chất Pháp” vẫn xuất hiện ở đâu đó, từ phong cách sống, tính cách, thói quen tư duy, những vần thơ, trang viết văn xuôi, trong cấu trúc và lời thoại kịch. Ông có thể được coi là một trường hợp đặc biệt. Một nhà văn trưởng thành từ sau cách mạng, tham gia kháng chiến từ rất sớm, thậm chí có thời gian dài làm quản lí văn nghệ của đất nước, thật khó có thể nói ông không mang trong tim tình yêu đặc biệt với dân tộc mình. Nhưng điều đó không cản trở nhà văn này có cảm tình đặc biệt với nền văn hóa, văn học của “phía bên kia”. Điều đó cũng dễ hiểu. Kể từ khi thực dân Pháp tiến hành cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai, đặc biệt từ 1946, thời điểm cuộc kháng chiến chống Pháp trong hoàn cảnh cam go nhất, Nguyễn Đình Thi đã sớm rời bỏ một ngôi trường đại học nổi tiếng của Pháp ở Hà Nội, mà ông rất yêu thích, lên chiến khu, tham gia kháng chiến. Điều đó không có gì mâu thuẫn. Tình yêu đất nước và tình yêu những vẻ đẹp của một nền văn hóa khác, không có lí do gì để loại trừ nhau. Tuy thế vẫn phải thừa nhận, ở thời điểm ấy, vấn đề tiếp xúc giữa một người Việt với tất cả những gì liên quan đến Pháp đều luôn bị coi là điều “nhạy cảm”. Đó là thời điểm hai đất nước đang có chiến tranh. Thậm chí, ngay cả khi Pháp đã chính thức rời khỏi Việt Nam sau 1954, những gì liên quan đến Pháp (học tiếng Pháp, dịch sách Pháp, nghiên cứu văn học Pháp) gần như vẫn được tiến hành một cách “dè dặt”, chứ không ồn ào. Tất nhiên đó là nhìn chung, toàn cục. Còn trong các trường hợp cụ thể, những người Việt từng sống trong thời Pháp, biết tiếng Pháp, yêu văn học và văn hóa Pháp, thì thật khó có một cấm kị nào. Nguyễn Đình Thi là một trường hợp như vậy.
Nguyễn Đình Thi sinh ra và sống một thời gian dài ở Phong Sa Lỳ, Luang Phra Bang, nước Lào. Ông ngoại ông và cả cha mẹ đều từng có một thời kì sinh sống ở đó, nói tiếng Pháp giỏi. Trong hồi kí Cô bé nhìn mưa, PGS, nhà văn Đặng Thị Hạnh có kể rằng, hồi sống ở đó, Nguyễn Đình Thi đã may mắn được đọc những cuốn sách kinh điển của văn học Pháp, những Hugo, Balzac, Stendhal, Musset, Vigny, Baudelaire, Eluard, Aragon, Jacques Prévert… ông đều đã được đọc từ rất sớm. Người cha của ông hồi đó, phụ trách một trạm bưu điện nhỏ gần trại lính Pháp, có điều kiện, nên đã mua chúng cho ông. Về sau này, bằng vốn tiếng Pháp được nâng cao và hoàn thiện những năm học ngắn ngủi tại Đại học Đông Dương, cùng với tình yêu mãnh liệt với văn chương Pháp, mà trong vốn liếng sáng tác, cả văn xuôi, thơ và kịch của Nguyễn Đình Thi đều phảng phất sắc màu và hơi hướng thế kỉ XX trong kịch Pháp. Kịch của ông gần như không có phân hồi và phát triển kịch tính như trong kịch cổ điển. Có lẽ vì thế, nó không tạo được sức hấp dẫn và sự cuốn hút ở người xem. Thay vào đó, Nguyễn Đình Thi hết sức chú trọng đến phần phát triển lời thoại. Đây là yếu tố được ông đầu tư kĩ càng. Lời thoại trong kịch Nguyễn Đình Thi thấm đẫm chất thơ. Đâu đó, những lời thoại (trong Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Giấc mơ…) lẽ ra góp phần tạo xung đột kịch tính trong phát triển hành động, thì thường nó lại được tác giả đào sâu vào những suy tư, chiêm nghiệm, triết lí về cuộc sống, con người, thời cuộc. Có cảm giác lời thoại trong kịch Nguyễn Đình Thi giống như những bài thơ. Nó ngân nga, âm vang trong lòng người xem. Nó khiến người xem dừng lại trầm tư, suy nghĩ hơn là bị cuốn đi trong hành động, kịch tính. Chính xác hơn, kịch Nguyễn Đình Thi gần hơn với loại kịch tự sự, gián cách của Ionesco, Beckett trong sân khấu kịch phi lí thế kỉ XX của Pháp. Kịch ông khó xem nên thường không mấy khi được dàn dựng lại. Đó là điều đáng tiếc…
Nguyễn Đình Thi nổi tiếng hơn với truyện và thơ, mặc dù thơ ông viết không nhiều. Tuy nhiên, điều đặc biệt và bao trùm lên tất cả con người và sự nghiệp của Nguyễn Đình Thi lại chính là thơ và những quan điểm trong sáng tác của ông. Nói về thơ tự do của Nguyễn Đình Thi, tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với quan điểm tuyệt đối hóa những bài thơ tự do không vần của một số nhà nghiên cứu bấy lâu nay. Chính Nguyễn Đình Thi đã từng không dưới một lần khẳng định: “Không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không vần, mà chỉ có thơ thực sự và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ…” (Mấy ý nghĩ về thơ).
Tôi có may mắn hai lần trong đời được diện kiến Nguyễn Đình Thi. Chính xác, một lần chỉ được nhìn thấy từ xa, và một lần khác được trực tiếp trò chuyện. Lần thứ nhất, khoảng chừng những năm 1972 hay 1973 gì đó, khi ông được mời vào nói chuyện với sinh viên Khoa Ngữ văn. Lần thứ hai tôi không chỉ diện kiến Nguyễn Đình Thi, mà còn được trò chuyện trực tiếp với ông. Đó là vào năm 2002. Hồi đó, bộ môn Văn học phương Tây tổ chức kỉ niệm 200 năm ngày sinh Victor Hugo, đại văn hào Pháp. Hồi đó, tôi có ý định viết bài tham luận Hugo với các nhà văn Việt Nam cho hội thảo, nên buộc phải gặp trực tiếp ông để hỏi cụ thể về trường hợp nhân vật Lũy, chú bé liên lạc trong tiểu thuyết Xung kích. Cuốn tiểu thuyết này Nguyễn Đình Thi viết từ khá sớm (1951), sau thời điểm ông có dịp đọc Những người khốn khổ của Hugo (tôi không rõ qua bản dịch tiếng Việt hay nguyên bản tiếng Pháp). Chả là, giảng dạy và nghiên cứu Hugo, tôi được biết nhà văn lãng mạn này từng có một sáng tạo rất ấn tượng khi xây dựng bức tượng đài bất hủ những người khởi nghĩa Paris trên chiến lũy của những người Cộng hòa tháng 8 năm 1848, qua nhân vật một đứa trẻ. Trong các bức tượng đài bất hủ ấy có một hình tượng nổi bật mà Hugo coi đó là biểu tượng của dân chúng Paris, đó là chú bé Gavroche, đứa con trai bị bỏ rơi của nhà Thénardier. Có lẽ vì quá đỗi yêu thích nhân vật đứa trẻ của văn học Pháp, mà Nguyễn Đình Thi đã chuyển hóa nó thành chú Lũy liên lạc trong Xung kích của mình chăng? Ban đầu thì tôi ít nhiều mường tượng như thế. Nhưng về sau, khi có dịp hỏi kĩ hơn chính người đã sáng tạo ra nhân vật này, thì mới biết rõ đúng là như vậy. Hình tượng này cũng được nhà thơ Tố Hữu mô phỏng lại trong bài thơ Lượm (in trong tập Việt Bắc). Đoạn miêu tả cảnh Gavroche trên chiến lũy Paris của nhà lãng mạn Hugo tất nhiên li kì và hoành tráng hơn, đúng tầm cỡ một tác phẩm sử thi. Xung kích chỉ là một tác phẩm tiểu thuyết đầu tay ngắn, ít có giá trị về mặt nghệ thuật. Tuy nhiên, ngay từ tác phẩm đầu tay này, Nguyễn Đình Thi đã có ý thức học tập lối xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Pháp. Đọc lại đoạn miêu tả của ông về chú Lũy liên lạc của Việt Nam, ta cũng có những xúc động không khác nào đọc Gavroche trong miêu tả của Hugo. Tôi nhớ người bế chú bé Gavroche trên tay cũng là anh đội trưởng, giống Kha. Anh tên là Enjolrat. Đoạn văn xúc động khiến không ít người rơi nước mắt. Miêu tả của Nguyễn Đình Thi cũng tạo được cảm xúc đó. Có lẽ xuất phát từ đó, nhà văn của những Vỡ bờ, Mặt trận trên cao, Vào lửa… đã khắc họa được một nhân vật thiếu niên hết sức đáng yêu có nhiều nét giống với nhân vật của Hugo.
Trong khi, khoảng 10 năm trước đó, cũng tìm đến với kĩ thuật viết tiểu thuyết nước ngoài, trường hợp nhà văn hiện thực Nguyễn Công Hoan lại khác. Nguyễn Công Hoan từng kể trong hồi kí rằng, hồi mới tập viết văn, ông đã chọn đọc bộ Những kẻ khốn nạn do Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ năm 1923. Ông thành thực nói, đọc cả 11 tập sách dịch hồi ấy, gần như không học được gì về kĩ thuật viết tiểu thuyết. Nhưng Nguyễn Đình Thi thì khác. Ngay từ những trang viết đầu tiên của mình, ông đã nhập được vào lối viết văn vẫn còn khá xa lạ này. Ở trên tôi có nói, ngay từ trước hồi tham gia kháng chiến, Nguyễn Đình Thi đã thông thạo tiếng Pháp, yêu quý nền văn chương của đất nước hình lục lăng, nên khi đọc sách của Hugo, thứ chủ nghĩa nhân văn thấm đẫm tình người của nhà lãng mạn Pháp đã dễ khiến ông đồng điệu. Ông đặc biệt thích những nhân vật trẻ em trong tiểu thuyết Hugo. Trong Những người khốn khổ, không chỉ có chú bé Gavroche, mà còn cả nhân vât Cosette, đứa con gái khốn khổ của Fantine (Hugo gọi thân yêu là Alouette, chim sơn ca). Trong hồi kí Cô bé nhìn mưa, nhà nghiên cứu, nhà văn Đặng Thị Hạnh đã kể lại, bà từng được nghe Nguyễn Đình Thi tâm sự, ông rất ấn tượng về trường đoạn miêu tả cảnh Cosette đi xách nước cho ngựa nhà Thénardier giữa cánh rừng ban đêm. Cô bé lúc ấy mới chỉ 10 tuổi, thân hình ốm yếu, gầy còm. Em đã bất ngờ gặp một ông già tên là Jean Valjean đi bên cạnh vào giữa lúc tinh thần hoảng loạn, chẳng khác nào cô bé gặp một ông tiên trong đêm như trong truyện cổ tích Việt Nam. Em đã thốt lên một câu nói rất ngộ nghĩnh: “Người đàn ông này, phải chăng là mẹ của ta” (Cet home-là, c’est peut-être ma mẹre). Ấn tượng với nhân vật Cosette cũng khiến Nguyễn Đình Thi nhớ rất lâu. Vào dịp kỉ niệm 200 năm sinh V.Hugo, và cũng nhân có dịp gặp người phụ nữ giảng dạy văn học Pháp, cô con gái yêu của Đặng Thai Mai, người ông cũng rất kính trọng (đã có vài lần ông ghé nhà chơi), Nguyễn Đình Thi đã nhắc lại kỉ niệm này. Văn học Pháp có thể không để lại trong Nguyễn Đình Thi những kỉ niệm choáng ngợp. Nhưng ấn tượng sâu thì có. Về sau ông viết Vỡ bờ, cuốn tiểu thuyết dài tới gần ngàn trang, với hai chủ đề song song đối lập, cấu trúc tầng tầng lớp lớp, nhiều nhân vật, thời gian kéo dài tới gần 20 năm. Vỡ bờ có thể không thật đặc sắc, nhưng nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam lúc ấy đánh giá rất cao. Tôi nghĩ, Vỡ bờ ít nhiều chịu ảnh hưởng của lối viết trường thiên trong tiểu thuyết nước ngoài, có thể cả Nga và Pháp. Nhiều người cho rằng, trong kĩ thuật cấu trúc tiểu thuyết nói chung, xây dựng tính cách nhân vật nói riêng, Nguyễn Đình Thi chịu ảnh hưởng nhiều hơn của kĩ thuật tiểu thuyết Nga, cụ thể Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy, mà ông đã từng nhắc trong bút kí Nhận đường (1948). Tôi thì nghĩ khác, có lẽ ảnh hưởng Nga trong sáng tác của Nguyễn Đình Thi không sâu đậm bằng ảnh hưởng Pháp. Chính xác, trong cả sáng tác thơ và kịch của Nguyễn Đình Thi cũng thế. Hình như lối thơ tự do, không vần hay vắt dòng, đặc biệt là không tuân thủ theo một logic tư duy hình ảnh truyền thống, mà chủ yếu chỉ chạy theo cảm xúc, chính là sự tiếp nhận từ thơ hiện đại Pháp. Có thể trong những năm kháng chiến, vì bận nhiều công chuyện, Nguyễn Đình Thi không có điều kiện đọc nhiều văn chương Pháp, nhưng một người có khả năng làm chủ tiếng Pháp, lại yêu nền văn hóa Pháp đến thế, hẳn sẽ có cách để tìm đến nó. Thời gian là Tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam, ông có điều kiện giao lưu với giới văn nghệ Pháp. Từng lan truyền một giai thoại: thời tham gia kháng chiến, Nguyễn Đình Thi có tình cảm đặc biệt với một nữ văn sĩ, nhà báo người Pháp tên là Madeleine Riffaud, người cùng năm sinh với ông, đã từng nhiều lần sang Việt Nam. Vì yêu Riffaud, ông càng yêu những nhà thơ Pháp như Aragon, Éluard, Jacques Prévert…, và yêu cả nền văn chương Pháp. Cộng thêm vốn tri thức triết học, tư duy tự do mà ông học được những ngày trên ghế giảng đường Đại học Đông Dương, chắc chắn “yếu tố Pháp” đã ngấm vào lối viết. Chẳng hạn, những câu thơ ngắn dài, tự do, không dấu chấm phẩy như thế này, quả có nhiều nét phảng phất phong cách thơ Aragon và Jacques Prévert:
Dừng chân trong mưa bay
Ướt đầm mái tóc
Em, em nhìn đi đâu
Môi em đôi mắt
Còn em đây
Nhìn em nữa
Phút giây
Chiều mờ
Gió hút
Em
Bóng nhỏ
Đường lầy
(Không nói)
Tất nhiên, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đều cho rằng, thơ Nguyễn Đình Thi có ảnh hưởng nhiều nhất từ thơ Louis Aragon. Rõ nhất là ở chất lí tưởng và cách mạng. Nhưng về hình thức, tôi vẫn nghĩ Nguyễn Đình Thi ảnh hưởng nhiều hơn ở nhà thơ triết lí và những lời nói hàng ngày Jacques Prévert. Nói tóm lại, trong các trí thức Việt Nam những năm đầu kháng chiến, Nguyễn Đình Thi có lẽ được coi là một trong những người in đậm nhất chất văn hóa Pháp. Chất Pháp ấy, không chỉ qua ngôn ngữ, sách vở, những tập quán, nhà văn và con người, mà còn là một chiều sâu thăm thẳm văn hóa. Những cái đó dường như đã ăn sâu vào con người, tính cách, tâm hồn, phong cách, và cả lối ứng xử hàng ngày của Nguyễn Đình Thi. Cũng trong Cô bé nhìn mưa của Đặng Thị Hạnh, ta còn đọc được một chi tiết vô cùng thú vị về tác giả Vỡ bờ, Mặt trận trên cao, Vào lửa, Xung kích. Tác giả Cô bé nhìn mưa kể, năm 2002, nhân Khoa Ngữ văn tổ chức Lễ kỉ niệm 200 năm sinh Victor Hugo, Bộ môn Văn học phương Tây phân công bà tới gặp Nguyễn Đình Thi để mời ông phát biểu trong hội thảo, vì biết ông rất đỗi yêu mến Victor Hugo. Trước khi đến gặp ông, bà có đôi chút băn khoăn, dù rằng, Nguyễn Đình Thi trước đó đã từng vài lần đến chơi nhà bà (thăm cụ Đặng Thai Mai). Nhưng nghe người chị cả (bà Đặng Thị Hà, phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp) nhắc nhở, theo cách rất đơn giản của chị ấy: “Il aime les jolies femmes” (Ông ấy rất thích những cô gái đẹp). Để cẩn thận, bà đã thuyết phục thêm một nữ giáo viên trẻ dạy văn học Pháp, sinh sống ở Hà Nội, mến mộ nhà văn, đi cùng. Cũng có thể vì yêu quý gia đình cụ Đặng Thai Mai, cảm phục khả năng nói tiếng Pháp của nhà nghiên cứu Đặng Thị Hạnh, lần đó tôi nhớ, Nguyễn Đình Thi đã nhận lời phát biểu trong hội thảo. Trong phát biểu, ông nói nhiều đến những kỉ niệm về Những người khốn khổ, về tính nhân văn trong tác phẩm Hugo, đặc biệt về hai nhân vật trẻ em trong tác phẩm là Cosette và Gavroche. Nguyễn Đình Thi nói đến những nhân vật này một cách say sưa. Cũng như trước đó và sau này, ông còn gắn bó và yêu quý một nữ nhà văn, nhà báo Pháp, người đã từng sang Việt Nam những năm còn chiến tranh, như đã nói ở trên. Những giai thoại về ông và những người phụ nữ trẻ, xinh đẹp, nguồn cảm hứng bất tận trong cuộc đời và sáng tác của Nguyễn Đình Thi sẽ còn được nhắc đến dài dài… Thiếu những cái đó, bất cứ một nhà văn tài năng nào, chứ không riêng Nguyễn Đình Thi, khó có được “tinh hoa phát tiết” như chúng ta hằng thấy. Thiên tài Victor Hugo, bên cạnh Adèle Foucher, người vợ xinh đẹp mà ông yêu quý hết đỗi, vẫn có nàng Juliet Drouet đó thôi? Và cả Jean Paul Sartre nữa, bên cạnh một Simone de Beauvoir tài giỏi, xinh đẹp, vẫn luôn có Olga, cô sinh viên trẻ trung người Nga, học triết, mà ông là thầy… Những bóng hồng bên cạnh các nhà văn tài năng đâu còn là những câu chuyện hiếm, lạ? Trường hợp của nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng thế… .
T.H
VNQD