. VÕ NGUYỄN BÍCH DUYÊN
(Viết kí ức từ góc nhìn của W.G.Sebald)
W.G.Sebald (1944 - 2001) là một trong số những hiện tượng của văn học phương Tây cuối thế kỉ XX. Di sản tiểu thuyết của ông bao gồm bốn tác phẩm: Chóng mặt, Kí ức lạc loài, Một cái tên, Vành đai sao Thổ, xoay quanh các chủ đề lịch sử, kí ức, lưu vong, chấn thương…, được đặc trưng bởi thi pháp lai ghép thể loại (hư cấu, phi hư cấu, tài liệu, bán tài liệu, du kí, tự truyện…), tính chất liên văn bản đậm đặc, thường xuyên dẫn dắt người đọc rời xa câu chuyện trung tâm, tạo cảm giác tác giả bị lạc đề, kết hợp văn bản và hình ảnh một cách sáng tạo, câu văn dài, tường thuật theo lối gián tiếp… Sáng tác của Sebald đã hấp dẫn độc giả và giới nghiên cứu phương Tây, không ít lời tán dương đã được cất lên với tất cả sự nồng nhiệt, như cách mà Susan Sontag (1933 - 2004) - một nhà phê bình có sức ảnh hưởng lớn của nước Mĩ trong những thập niên cuối thế kỉ XX - đã viết về Sebald: “Liệu sự vĩ đại trong văn chương còn khả thi không? Trước sự suy đồi không thể lay chuyển của hoài bão văn học, cùng với sự lên ngôi đồng thời của những thứ nhạt nhẽo, hời hợt và tàn nhẫn một cách vô nghĩa như những đề tài hư cấu quy chuẩn, thì một sự nghiệp văn chương cao quý hiện nay sẽ trông như thế nào? Một trong số ít những câu trả lời sẵn có dành cho độc giả ngôn ngữ tiếng Anh chính là tác phẩm của W.G.Sebald.”(1)
Sự tán dương mà Sebald nhận được là phần thưởng xứng đáng dành cho một cây bút đã kiến tạo nên một lối viết đặc trưng, mới lạ, lối viết “kiểu Sebald” đặc thù. Song, điều làm cho tác phẩm của ông không chỉ hấp dẫn mà còn được yêu mến đặc biệt, có lẽ vì nó là một thực hành văn chương hết mực nghiêm cẩn của một người đã dành toàn bộ sự nghiệp học thuật lẫn sáng tạo của mình để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Trước nỗi đau của người khác, văn chương có ích gì?
Và câu trả lời của ông, về trách nhiệm và khả thể của văn chương trước nỗi đau, được ông nhắc đến trong bài viết về nhà thơ Friedrich Hölderlin (1770 - 1843): “Có lẽ chỉ để giúp chúng ta ghi nhớ, và dạy ta hiểu rằng một số kết nối kì lạ không thể được giải thích bằng logic nhân quả (…). Có rất nhiều hình thức viết lách; tuy nhiên, chỉ trong văn chương mới có thể có một nỗ lực bồi thường/phục hồi (restitution), vượt lên trên cả việc liệt kê các sự kiện đơn thuần và vượt xa cả những nghiên cứu học thuật.”(2) Với Sebald, bằng cách viết về nỗi đau của người khác, văn chương sẽ nhắc nhở người đọc về sự hiện diện của những nỗi đau, để từ đó, nỗi đau được nhìn thấy, được lắng nghe, được chia sẻ, được thấu hiểu, được thừa nhận, được xoa dịu, được bồi thường, và có thể được chữa trị/chữa lành phần nào. Hay nói cách khác, đích thân văn chương, thông qua việc ghi nhớ, sẽ tái thiết, sẽ thành lập những đài tưởng niệm cho nạn nhân, thúc đẩy cộng đồng ghi nhớ, bồi thường và giúp các nạn nhân tránh thoát được hai hình thức chết vô hình nhưng đau đớn: chết vì nỗi đau bị lãng quên, chết vì nỗi đau bị phủ nhận. Khởi đi từ quan niệm về trách nhiệm và khả thể của văn chương như vậy, Sebald đã tập trung vào viết kí ức, mà cụ thể là kí ức chấn thương của người khác (ít nhiều cả kí ức chấn thương nơi ông), và xem cốt lõi đạo đức của văn chương không gì khác chính là kí ức.
Điều đáng lưu ý trong quan niệm của Sebald nằm ở chỗ, ông luôn trăn trở về khía cạnh đạo đức của viết kí ức. Sự trăn trở này sẽ chi phối cách ông quan tâm, lựa chọn loại kí ức nào, của ai để viết/kể/ghi nhớ. Khi được hỏi về kí ức mà ông dành nhiều sự chú ý, ông nói: “Tôi nghĩ đó là vấn đề về trọng lượng riêng. Theo một nghĩa nào đó, bạn càng già đi, bạn càng quên nhiều hơn. Điều đó chắc chắn đúng. Những mảng lớn trong cuộc đời bạn dường như tan biến vào hư vô. Nhưng những gì còn sót lại trong tâm trí bạn lại đạt đến một độ dày đặc đáng kể, một mức độ trọng lượng riêng rất cao. Và tất nhiên, một khi bạn bị đè nặng bởi những loại sức nặng đó, rất có thể chúng sẽ nhấn chìm bạn. Những kí ức kiểu đó thường có xu hướng trở thành gánh nặng lớn về mặt cảm xúc.”(3) Như vậy, Sebald sẽ chủ yếu viết về những kí ức “có trọng lượng riêng” lớn, những kí ức còn sót lại sau sự sàng lọc của thời gian, có sức nặng và có sức phá hủy khủng khiếp. Những kí ức này là một kiểu người chết quay trở về, là những bóng ma từ trong quá khứ chưa bao giờ ngừng đeo bám người mang vác chúng. Trong tác phẩm của Sebald, những kí ức thuộc loại này là kí ức về Holocaust, về quê hương, về người thân… - những kí ức mà nhân vật của ông không thể rũ bỏ, và hầu hết trong số họ đều bị chính kí ức của mình “nhấn chìm”: hoặc họ lựa chọn tự sát, hoặc họ tìm cách xóa sạch kí ức, hoặc họ thực hiện những cuộc trao truyền kí ức. Những cuộc “đào thoát” khỏi sự tấn công của kí ức mà nhân vật của ông thực hiện là minh chứng mạnh mẽ cho việc con người một khi đã mang chấn thương, thì họ gần như không thể thoát khỏi sự bủa vây và phá hủy của nó, như ông từng khẳng định: “Tôi nghĩ không có cách nào để chúng ta có thể thoát khỏi nó (kí ức có trọng lượng riêng cao). Điều duy nhất bạn có thể làm và điều mà hầu hết mọi người dường như có thể làm rất thành công là khuất phục nó.”(4)
Tuy nhiên, không phải tất cả kí ức thuộc loại này đều khiến Sebald nỗ lực ghi nhớ trong văn chương của mình. Ông quan tâm đến nội dung của kí ức chấn thương, đồng thời cũng đặc biệt lưu ý đến chủ thể chấn thương. Mối bận tâm trí tuệ lẫn tình cảm của ông là dành cho lịch sử bị đàn áp của nhóm thiểu số: “Tôi cảm thấy rằng trên hết, cần phải viết về lịch sử đàn áp, phỉ báng các nhóm thiểu số, (mà tất cả những) nỗ lực (đàn áp đó) gần như đã đạt được nhằm tiêu diệt cả một dân tộc.”(5) Nói cách khác, ông quan tâm đến những nạn nhân của bạo lực và thảm họa (bao gồm cả thảm họa chính trị - lịch sử lẫn thảm họa sinh thái), chính xác hơn nữa, là những nạn nhân mà nỗi đau của họ vì nhiều lí do hoặc bị đẩy ra vùng ngoại vi, hoặc bị vùi chôn vào sương mù của quên lãng. Trong mối quan tâm của ông, không có sự phân biệt hay xếp hạng nỗi đau dựa trên bất kì tiêu chí nào, mà mọi nỗi đau của tất cả các nạn nhân đều cần được biết đến và được thừa nhận, cần được tưởng niệm và bồi thường. Đó là lí do tác phẩm của ông dù rất khó đọc, song lại có khả năng gây xúc động mạnh mẽ nơi người đọc, vì trong đó có những nỗi đau chưa được cất tiếng: nỗi đau của những đứa trẻ thoát khỏi bàn tay tử thần của Holocaust nhưng bị chính những mảnh vỡ của kí ức Holocaust kết liễu đời mình khi về già; nỗi đau của những người chỉ mang một phần ba dòng máu Do Thái, không bị đưa vào các trại tập trung nhưng vẫn chọn tự sát để khép lại bi kịch làm một người vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm (trong sự tự nhận thức) của Holocaust; nỗi đau của những đàn cá trích bị hủy diệt hàng loạt… Có thể nói, bằng văn chương, Sebald đã khắc ghi những nạn nhân bên lề này lên đài tưởng niệm, từ đó thúc đẩy thực hiện sự tưởng nhớ như là một thực hành đạo đức thiết yếu. Điều này giải thích vì sao với các thực hành văn chương của mình, Sebald được xem là “…người bảo vệ thiết yếu của kí ức lịch sử, tận tâm đảm bảo rằng sự tàn phá và thương vong của lịch sử không tan biến như làn sương mù mà ông vô cùng yêu thích. Ông làm điều này, không phải với bất kì quan niệm lạc quan nào về sự tiến bộ hay cải cách, mà vì tính toàn vẹn của chính hành động đó và vì sự hài lòng trong việc phục hồi những gì đã mất mà trong ngôn ngữ nó sẽ được trường tồn.”(6)
Viết về nỗi đau của người khác, với Sebald, là viết từ vị trí của kẻ ngoại cuộc. Ý thức rất rõ vị trí này, Sebald đặc biệt coi trọng các yêu cầu về mặt đạo đức trong việc tìm kiếm, tiếp cận và tự sự nỗi đau. Trước hết, về việc tiếp cận kí ức chấn thương của tha nhân, ông chia sẻ: “Có một quan niệm phổ biến rằng nói ra những chấn thương là tốt, nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Đặc biệt nếu bạn là người khơi mào khiến người khác phải nhớ lại, phải nói về quá khứ của họ…, bạn không chắc liệu sự xâm nhập của mình vào cuộc đời ai đó có gây ra một mức độ tổn thương ngoài ý muốn mà lẽ ra người đó đã có thể tránh được hay không. Vì vậy, có một vấn đề đạo đức trong đó.”(7) Có thể thấy, Sebald đã rất suy tư về đạo đức của việc tìm kiếm và lắng nghe kí ức vì e ngại quá trình tự sự chấn thương khiến người kể một lần nữa trải nghiệm chấn thương và khiến họ đau đớn. Sự cẩn trọng này đã chi phối cách Sebald xây dựng hình tượng người nghe chuyện trong tác phẩm của mình. Người nghe chuyện của ông về cơ bản đều là những người lắng nghe có đạo đức: tôn trọng sự riêng tư, cảm xúc, cách kể của người kể, đặc biệt thể hiện mức độ nhận dạng và đồng cảm cao độ với kí ức của người kể. Thái độ đạo đức này tuy không đảm bảo người kể tránh được chấn thương do việc kể chuyện gây ra, song có thể tránh gây ra thêm một vết thương mới: vết thương của việc không được lắng nghe đúng cách. Dẫu vậy, với Sebald, đây vẫn là một việc làm “…mang tính xâm phạm. Bạn thực sự xâm phạm vào cuộc sống của người khác, như tôi đã phải làm khi cố gắng tìm hiểu về những câu chuyện này, và bạn không biết liệu mình đang làm một điều tốt hay điều xấu.”(8)
Những băn khoăn về đạo đức còn được Sebald đặt ra trong việc thể hiện nỗi đau của người khác. Trước tiên là vấn đề chính danh trong tự sự, ông băn khoăn rằng liệu ông có đang chiếm dụng câu chuyện của người khác hay không. Ông nhận thấy đây là một địa hình thật sự khó khăn dành cho những vị trí viết là kẻ ngoại cuộc: “Tôi nghĩ chắc chắn việc một người dân ngoại Đức viết về cuộc sống của người Do Thái không phải là không có vấn đề. Có những ví dụ về điều đó, các nhà văn đã cố gắng làm điều này (…) - thật đáng xấu hổ. Theo nghĩa là họ chiếm đoạt cuộc sống hàng ngày của những người khác. Có lẽ họ không cố ý như vậy, chúng có thể được thực hiện với mục đích tốt nhất, nhưng trong quá trình thực hiện nó lại không đúng, không đúng về mặt đạo đức. Nghĩa là, có điều gì đó được rút ra từ cuộc đời của các nạn nhân và làm hài lòng tác giả hoặc độc giả.”(9) Ở đây, Sebald thẳng thắn phê phán cách các nhà văn Đức trước đó đã sử dụng câu chuyện của nạn nhân cho các mục đích cá nhân, trong khi đó, theo ông, “…ngay cả khi nói chuyện với những người mà bạn có thể muốn miêu tả, vẫn có những ngưỡng mà bạn không thể vượt qua, nơi bạn phải giữ khoảng cách.”(10)
Những băn khoăn về đạo đức tiếp tục chi phối cách Sebald lựa chọn cách viết về kí ức chấn thương. Không chỉ tìm cách tiếp cận kí ức của người khác với nỗ lực giảm thiểu tối đa nguy cơ gây ra nỗi đau nơi họ, cũng không dừng lại ở sự trăn trở làm cách nào để không phạm phải tội lỗi của việc chiếm đoạt và tùy tiện sử dụng kí ức của người khác, Sebald còn hướng đến mục tiêu trình hiện kí ức chấn thương nhưng không làm tê liệt năng lực đạo đức của người đọc. Chẳng hạn, vì vị trí là một người Đức không phải Do Thái, lại là con của một người đã từng tham gia phục vụ cho Đức Quốc xã, vì Holocaust là một sự kiện khủng khiếp, nên ông cho rằng “…viết về trại tập trung theo quan điểm của tôi là thực tế không thể.”(11) Do vậy, ông chọn cách viết có thể đạt được hai mục tiêu. Thứ nhất, phải làm cho người đọc thấy rằng Holocaust hay các sự kiện lịch sử đau thương khác, nỗi đau của nạn nhân luôn là mối bận tâm của người viết thông qua việc thể hiện mối bận tâm của người kể chuyện. Ông nói: “Người đọc cần được nhắc nhở rằng người kể chuyện có lương tâm, rằng anh ta có lẽ đã và đang quan tâm đến những câu hỏi này từ lâu.”(12) Có thể thấy, với Sebald, việc đặt sự chú ý của mình vào những chủ đề khó khăn này đã là một biểu hiện đạo đức - đạo đức của việc không thờ ơ, không lãng quên. Thứ hai, những chủ đề nhạy cảm, có khả năng gây ra chấn thương liên/xuyên chủ thể phải được thể hiện trong hình thức phù hợp để ngăn ngừa sự thương hại lẫn tủi thân, ngăn chặn khả năng tạo ra sự tê liệt hay khiến người đọc bị chấn động và ám ảnh. Ông nói: “Và đây là lí do những cảnh kinh dị chính không bao giờ được đề cập trực tiếp. Tôi nghĩ chỉ cần nhắc nhở mọi người là đủ, bởi vì tất cả chúng ta đều thấy những hình ảnh, nhưng những hình ảnh này cản trở khả năng tư duy diễn ngôn, khả năng suy ngẫm về những sự vật này của chúng ta. Và cũng có thể làm tê liệt khả năng đạo đức của chúng ta. Theo quan điểm của tôi, cách duy nhất mà người ta có thể tiếp cận những vấn đề này là gián tiếp, tiếp tuyến, bằng cách tham khảo hơn là đối đầu trực tiếp.”(13)
Cách thức tiếp cận gián tiếp của Sebald có thể là sử dụng bút pháp đối lập khi phản ánh sự kinh hoàng. Như khi được hỏi về điều này, ông chia sẻ: “Tôi nghĩ có lúc Benjamin đã nói rằng chẳng ích gì khi cường điệu hóa những thứ vốn dĩ đã kinh khủng rồi. Và từ đó, bằng cách suy luận rộng ra, người ta có thể kết luận rằng: có lẽ để lột tả trọn vẹn mức độ của sự kinh hoàng, ta cần phải nhắc nhở người đọc về những khoảnh khắc hạnh phúc viên mãn của cuộc đời. Bởi lẽ, nếu chỉ tồn tại bằng trí tưởng tượng của mình trong le monde concen-trationaire (thế giới của những trại tập trung) thì bằng cách nào đó bạn sẽ không còn khả năng cảm nhận được nó nữa. Vì vậy, sự tương phản là điều bắt buộc.”(14) Trong tác phẩm của mình, Sebald có khuynh hướng tạo sự tương phản giữa một quá khứ hạnh phúc với một hiện tại bất hạnh để tránh gây ra sự tê liệt về cảm xúc và nhận thức là vì vậy. Bên cạnh đó, Sebald còn sử dụng kĩ thuật viết đồng dạng. Đây là kĩ thuật đặt cạnh nhau những chi tiết, hình ảnh, sự kiện có vẻ hết sức ngẫu nhiên, không có mối quan hệ nhân quả hay logic nào, nhưng lại cùng hướng đến một chủ đề chung vốn chỉ được nhận ra bằng phương pháp loại suy. Ngoài ra, cách viết lan man, phát triển các ý tưởng như theo mô hình thân rễ, đến mức tưởng như lạc đề nhưng luôn ẩn ý về một đích đến mà ông muốn người đọc phải tự suy luận (như từ hình ảnh bụi, đường sắt, lều trại… nghĩ về trại tập trung, từ đó lại nghĩ về Holocaust, và xa hơn nữa là toàn bộ lịch sử tự nhiên). Như vậy, tuy kĩ thuật viết đa dạng, linh hoạt, nhưng tất cả đều hướng đến lối viết gián tiếp, tiếp tuyến, chủ đích ám gợi rất đặc trưng của Sebald. Lối viết này hướng đến khơi gợi cảm giác về nỗi đau một cách dai dẳng, day dứt, từ đó đánh thức sự đồng cảm với nỗi đau nơi người đọc - điểm xuất phát để tiến tới hình thành những suy tư đạo đức về việc bồi thường cho các nạn nhân, ít nhất, và trước tiên là thông qua hành động tưởng nhớ.
Có thể thấy, Sebald là một người viết có ý thức rất rõ về công việc viết lách của mình. Từ chỗ xác định trách nhiệm của văn chương là phải ghi nhớ những chấn thương khủng khiếp nhưng chưa được cất lời vì bị đàn áp (bởi các cơ chế tự vệ khác nhau), đến tìm kiếm cách thức tiếp cận và trình hiện những chấn thương đó một cách đạo đức nhất có thể, Sebald cho thấy mình là một người viết đặt vấn đề đạo đức tự sự lên hàng đầu. Theo đó, dù viết với bất kì mục đích tốt đẹp nào, ông cũng xem việc đáp ứng các yêu cầu về mặt đạo đức là tối thượng và tối hậu. Chỉ có như vậy, người thực hành văn chương mới thực hiện trúng, và đúng trách nhiệm ghi nhớ và khả năng bồi thường/phục hồi của mình khi đứng trước nỗi đau của người khác. Và Sebald đã thực sự viết - nghiên cứu và sáng tạo - dưới sự điều hướng mạnh mẽ của tâm niệm này. Điều này đã góp phần làm cho văn chương của Sebald không chỉ được tôn vinh vì những đóng góp về mặt nghệ thuật hay tư tưởng, mà còn bởi nó đã kêu gọi sự chú ý đến khía cạnh đạo đức của việc tự sự, đặc biệt là tự sự nỗi đau của người khác.
Tuy vậy, Sebald cũng cho rằng dù viết theo cách nào cũng phải đối mặt với những khó khăn về mặt đạo đức, điều đó làm cho ông khó chịu lẫn lo âu, đến mức ông luôn cảm thấy hoài nghi với công việc viết lách của mình: “Toàn bộ việc chiếm đoạt cuộc sống của người khác làm tôi khó chịu. Và tất nhiên tôi không bao giờ chắc chắn mình không phạm phải những sai lầm về chiến thuật, phán đoán và phong cách…”(15) Và ngay cả khi được động viên rằng viết về những điều khủng khiếp là điều đau lòng nhưng cần thiết, Sebald vẫn không che giấu sự nghi ngại của mình: “Tôi thấy điều đó yên tâm ở mức độ nào đó, nhưng nó sẽ không làm dịu đi tất cả những nghi ngờ mà tôi có về nó.”(16) Vì vậy, ông chưa bao giờ khẳng quyết rằng tác phẩm của mình là một thực hành đã đạt được yêu cầu về mặt đạo đức do chính ông đặt ra. Nói cách khác, điều mà ông cảm thấy chắc chắn nhất không phải là về cách ông viết, mà là ý thức về việc viết, rằng khi viết về nỗi đau của người khác, “…người ta phải rất cẩn thận.”(17) Có thể nói, ở một góc độ nào đó, sự lưu ý của Sebald, rằng “người ta phải rất cẩn thận” khi viết về nỗi đau của người khác, có lẽ cũng là một “di sản” quan trọng mà cuộc đời và sự nghiệp của Sebald để lại cho hậu thế, khi ông khép lại hành trình sống và viết của mình vào một ngày mùa đông năm 2001 - trong một tai nạn khi đang lái xe gần Norwich (Anh).
V.N.B.D
--------
1. Sontag, S. (2009). “A Mind in Mourning” (Một tâm hồn sầu muộn). In trong Sontag, S. (2009). Where the Stress Falls. Penguin Books.
2. Sebald, W. G. (2006). “An Attempt at Restitution” (Một nỗ lực bồi thường). In trong Sebald, W. G. (2006). Campo Santo. Modern Library.
3-17. Schwartz, L. S. (2010). The Emergence of Memory: Conversations with W. G. Sebald (Sự trỗi dậy của kí ức: Những cuộc trò chuyện với W. G. Sebald). Seven Stories Press.
VNQD