.NGUYỄN XUÂN THỦY
Sông Hiếu là phụ lưu lớn nhất của sông Lam ở phía Tây xứ Nghệ. Năm 1961, đoàn khảo sát của Cục Quân giới, Tổng cục Kỹ thuật đã lựa chọn để đặt kho quân giới chiến lược mang tên 710 trong khu vực nông trường quốc doanh Tây Hiếu, biến nơi đây thành điểm tập kết vũ khí, đạn dược lớn cho chiến trường theo chủ trương đưa hậu cần vào sâu hơn phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam. Sau 65 năm, qua bao biến đổi theo nhiệm vụ từng thời kì, Kho 710 năm xưa chính là tiền thân của Kho K812, Cục Quân khí, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật hôm nay.
Từ thành phố Vinh, theo Quốc lộ 48 chúng tôi ngược dòng sông Hiếu, về với Tây Hiếu hôm nay. Giữa non xanh nước biếc của xứ Nghệ, giữa cảnh sắc bờ bãi mía ngô rợp hai bờ sông xanh mướt là thấp thoáng những câu chuyện về những người lính quân khí trong suốt 65 năm gắn bó với mảnh đất này. Từng trang sử xếp lớp như từng lớp phù sa sông Hiếu bồi đắp cho vùng đất đậm dày kí ức về chiến tranh cách mạng. Ở hôm nay, trong những dồn dịch, sắp xếp địa giới hành chính mới, thị xã Thái Hoà, nơi được coi là trung tâm của miền Tây Nghệ An những năm trước đây cũng đã chia thành các phường. Kho K812 hiện nay bao gồm cả Phân kho PK816 ở khu vực huyện Nghĩa Đàn xưa. Từng lớp người đến và ở lại, gắn bó với ngành quân khí, đến hôm nay, đã là thế hệ thứ ba, thứ tư gắn bó với mảnh đất nắng lửa này.
Họ đã bắt đầu cuộc đời một người lính kho như thế nào? Đó là điều tôi muốn tìm hiểu, bởi cái lí do bắt đầu đôi khi nó lại đặt con người ta lên một hành trình để đi mãi, đi mãi… đến hai, ba thế hệ. Và trả lời câu hỏi đó thật không dễ, không thể một câu là xong, để mà tìm hiểu cho thấu đáo mọi nhẽ thì đó thường là một câu chuyện.
Tôi đã bắt đầu bằng những mảnh vụn như thế…
*
* *
Tại Trạm bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí Phân kho PK816, Kho K812 tôi đã gặp anh Cao Vi Lượng và anh Dương Đức Hải, hai người được coi như cặp bài trùng của đơn vị. Anh Dương Đức Hải sinh năm 1976, quê Lệ Thuỷ, Quảng Trị, mang hàm trung tá QNCN là thợ sửa chữa vũ khí bộ binh và cũng là xạ thủ bắn giỏi toàn quân. Trong cuộc thi thợ sửa chữa quân khí giỏi toàn quân năm 2016, anh giành giải nhất, còn năm 2024 giành giải ba. Cái sự tinh giảm vĩ mô cũng đã soi chiếu đến góc nhỏ nơi những người lính quân khí, hai tổ sửa chữa vũ khí bộ binh từ 10 người xuống còn 4, một tổ trưởng, một tổ phó và hai tổ viên. Quy trình bảo quản vũ khí bộ binh phải tách mỡ ra để thay mỡ mới, công việc này sử dụng lò nung nóng để tách mỡ. Sau khi kiểm tra, cập nhật tình trạng kĩ thuật mới nhúng mỡ trở lại. Môi trường làm việc thường xuyên tiếp xúc với dầu mỡ, khói bụi, không khí lúc nào cũng như có sương mù. Các anh được hưởng 15% phụ cấp đặc thù quân sự. Những bệnh mà người làm bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí lâu năm hay mắc phải thường là ngứa, xương khớp, xoang… Sau này môi trường làm việc được cải thiện hơn khi trên đầu tư xây dựng một hệ thống hút khí độc, một hệ thống xử lí chất thải rắn, một hệ thống xử lí chất thải độc hại. Với súng K54, trung bình bảo dưỡng 10 khẩu một công, với tiểu liên là 6-7 khẩu, còn trung liên phải tháo báng, phần gỗ bàn giao cho tổ mộc, phần sắt thép các anh làm. Có thể hình dung Trạm bảo dưỡng sửa chữa vũ khí bộ binh như một lò mổ súng. Súng lớn súng bé, súng to nhỏ đều được tiểu phẫu, trung phẫu ở đây.
Một công đoạn mà anh Hải và anh Lượng mô tả khá ấn tượng đó là nhuộm đen. Đầu tiên là tách mỡ, tách màng mỡ, rồi tách a xít, sau đó sẽ tẩy gỉ, lúc đó mới đủ tiêu chí để nhuộm đen lại. Quan trọng nhất ở công đoạn này là khống chế nhiệt độ nước gồm sắt sunfat nhằm mục đích tạo ra một lớp oxit sắt đen trên bề mặt kim loại để tránh bị ăn mòn, giảm phản quang nhưng cũng phải duy trì độ chính xác về kích thước của vũ khí cũng như chi tiết, thiết bị. Người thợ phải khống chế nhiệt độ lò trong khoảng 137 đến 1420C. Mỗi vũ khí trang bị khi nhuộm đen sẽ đi qua ba lò, người thợ thực hiện công đoạn này sẽ phải ở khu vực lò liên tục 90 phút trong điều kiện nhiệt độ cao và hơi độc. Ở nhà trường có dạy công đoạn nhuộm đen nhưng thường không có trải nghiệm thực tế mà khi về đơn vị mới học hỏi dần từ những đàn anh đi trước. Anh Hải nói rằng, phần xử lí bề mặt sẽ quyết định chất lượng của sản phẩm có đạt yêu cầu hay không. Theo anh Hải, đòi hỏi quan trọng nhất của công đoạn nhuộm đen bắt đầu từ khâu pha hoá chất, phải đảm bảo đúng tỉ lệ, sau đó là việc khống chế nhiệt độ. Những người thực hiện công đoạn nhuộm đen đều là những người thợ tay nghề cao, 7/7.
Bố mẹ anh Hải cũng đều là người trong ngành, cụ thể là ở Kho 816 trước đây. Bố anh sinh năm 1935, sau thời gian chiến đấu tại chiến trường Lào chuyển ngành về ngành quân khí. Mẹ anh ở Đô Lương, Nghệ An, khi đó là công nhân quốc phòng. Họ gặp nhau và nên duyên, có 5 người con thì 4 người nối nghiệp bố mẹ. Ngoài anh Hải còn chị Dương Thị Hương, anh Dương Đức Hạnh cùng làm ở Trạm bảo dưỡng sửa chữa, chị Dương Thị Huyền thì làm thủ kho vũ khí. Ngoài ra còn một người cháu con anh Hạnh là Dương Đức Bình cũng làm việc tại kho. Như vậy gia đình anh Hải là gia đình quân khí thế hệ thứ ba.
Những gia đình như thế ở Kho K812 hay Phân kho PK816 không thiếu.
Nhập ngũ tháng 2 năm 1995, sau huấn luyện anh Hải về Kho 816 trước đây, sau đó đi học Trung cấp kỹ thuật vũ khí tại Vĩnh Phúc. Anh Hải cũng có thời gian vào Kho K897 tại Mang Jang, Gia Lai năm 2004 cùng với 9 người khác, rồi mới trở lại 816. Vào Gia Lai rồi lại trở về xứ Nghệ, mãi đến năm 40 tuổi anh Hải mới lập gia đình, hiện anh ở cách Kho chỉ 500 mét, trong khu tập thể của những người lính quân khí.
Còn anh Cao Vi Lượng sinh năm 1982, quê Diễn Châu, Nghệ An thì có sự ổn định tuyệt đối. Nhập ngũ tháng 3 năm 2002, sau khi học Trung cấp vũ khí anh về Kho K816 năm 2007 và gắn bó với Trạm sửa chữa từ đó cho đến nay. Bổ sung về nhuộm đen anh Lượng cho biết, việc xử lí bề mặt rất quan trọng, bề mặt đạt yêu cầu thì nhuộm mới đạt yêu cầu, bề mặt mà không sạch nhuộm xong sẽ bị lấm chấm. Người thợ có kinh nghiệm chỉ nhìn bể hoá chất đã biết có đạt yêu cầu hay không. Một quy trình nhuộm đen kéo dài 2 tiếng, người thợ có nghề chỉ cần đi qua bể hoá chất thấy rát mặt là đã biết bị thừa sút. Để có được những đúc kết rất “cơ địa” như thế anh Lượng đã phải trải qua những năm tháng học hỏi, trải nghiệm thực tế và rút kinh nghiệm. Người thầy đầu tiên dạy cho anh trở nên lành nghề như bây giờ chính là anh Dương Đức Hạnh, anh trai của anh Dương Đức Hải. Học nhuộm đen, học soi hàng, học kiểm tra kĩ thuật, cả tiêu chí kĩ thuật và kinh nghiệm cảm nhận của người thợ. Học từ đàn anh để vận dụng vào công việc, sáng tạo hoàn thiện theo từng thời kì, để đến bây giờ đến lượt Lượng, Hải dạy lại các thế hệ sau. Đôi khi thực tế là người thầy lớn nhất, như anh Lượng, đã làm nhuộm đen tới 10 năm mới đi… tập huấn nhuộm đen. Đó là lớp tập huấn 15 ngày diễn ra vào năm 2017.

Bảo quản súng K54 tại Phân kho PK816, Kho K812. Ảnh: Xuân Thủy
Chất lượng nhuộm đen của Phân kho PK816 thuộc hàng top, tốt nhất toàn quân, một số đơn vị đã về đây học hỏi. Nhưng mỗi thời kì lại có những chuyển đổi, cải tiến cần cập nhật. Ban đầu nhuộm đen ở Phân kho PK816 đun lò bằng củi, là thời của những năm trước, năm 2021 đơn vị lắp đặt dây chuyền nhuộm tự động bằng điện, đun dầu có cảm biến nhiệt không còn phải làm thủ công nữa. Trước đây riêng việc phụ trách đun củi cũng mất ba bốn người. Số lao động giảm đi, năng suất chất lượng cũng nâng cao. Mọi thứ sẽ tốt dần lên, môi trường làm việc của người thợ cũng dần được cải thiện. Anh Lượng bảo, tới đây sẽ còn áp dụng công nghệ sơn của Nhật, hiện đang trong quá trình thử nghiệm ở Kho K680, sau đó sẽ nhân rộng ra các kho khác. Cũng như các loại vũ khí trang bị sửa chữa bảo dưỡng mà các thế hệ sau làm sẽ ngày một hiện đại hơn, nhiều tính năng hơn.
Hiện thợ bảo dưỡng sửa chữa vũ khí chưa được công nhận bệnh nghề nghiệp như bên mảng đạn dược, vì kết quả giám định độ độc hại dưới mức quy định, tuy nhiên một số anh chị làm việc lâu năm cũng mắc các bệnh hiểm nghèo như K phổi và các bệnh đường hô hấp khác. Khám bình thường chưa ra bệnh nhưng có anh Cương cẩn thận tự bỏ tiền đi khám bằng quét AI thì phổi cũng bị nhiễm độc. Nguyện vọng của anh chị em mong muốn có quy định hợp lí hơn đối với những người thợ ngành vũ khí.
Bố của Lượng cũng là bộ đội quân khí. Ngày nhận quyết định nghỉ hưu ông đã khóc. Đời người thợ ai cũng một lần nhận quyết định nghỉ hưu. Đến lượt các anh rồi cũng thế khi cũng đều ở mức hai mươi, ba mươi năm công tác. Ngay ở Phân kho PK816 khi chúng tôi có mặt cũng có những người chuẩn bị nhận quyết định chờ hưu như các chị Hồ Thị Sơn, Phan Thị Lý. Thế hệ này về, thế hệ khác sẽ lại cầm lái, sẽ lại trám vào những khoảng trống mà các anh chị để lại.
Để bắt đầu một cuộc đời quân khí đôi khi là sự kế tiếp, nhưng đôi khi cũng giản dị như một cơ duyên. Ở Phân đội 3, Đội vệ binh bảo vệ kho đạn, Kho K812 tôi gặp anh Mai Văn Minh. Anh Minh vừa đi xây rãnh thoát nước về. Đây là một trong những phần việc cần củng cố trước mùa mưa của bộ phận vệ binh. Hành trình lính kho của anh Minh có phần lòng vòng. Tháng 9 năm 1994, từ quê ở Ba Đình, Thanh Hoá, anh nhập ngũ vào Kho K812 và có 10 năm ở đây. Khi sắp đến thời điểm xuất ngũ, Chủ nhiệm Kho K812 Hán Đức Chinh hỏi anh, cháu có muốn phục vụ quân đội lâu dài không, Minh bảo, nhưng cháu chỉ học hết cấp ba, chú Chinh nói, thế cũng được rồi, có người còn chưa học hết cấp ba mà. Vậy là sau cái gật đầu của anh, chú Chinh đi Hà Nội họp tranh thủ báo cáo cấp trên, độ một tháng sau thì có quyết định. Đi học sơ cấp rồi trung cấp đạn xong anh Minh về lại Kho làm việc. Đến năm 2006, khi Kho K899 thành lập ở Lâm Đồng anh Minh nằm trong số anh em xung phong vào kho mới. Anh đã làm dây chuyền sửa chữa đạn, tổ trưởng tổ cần vụ bốc xếp ở kho mới nơi vùng đất phía Nam, đến năm 2024 mới quay lại Kho K812 vì lí do bố mẹ vợ già yếu cần người chăm sóc. Giải thích việc sẵn sàng vào Lâm Đồng công tác, anh Minh nói rằng, trong đơn xin phục vụ quân đội lâu dài có điều cuối cùng là sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, đi bất cứ đơn vị nào quân đội cần, thế nên việc anh vào Kho K899 cũng là bình thường.
*
* *
Lính quân khí không chỉ là nam giới làm các công việc nặng nhọc, vất vả, độc hại và cũng không chỉ những người con xứ Nghệ, họ còn ở các vùng quê khác cùng về đây làm nhiệm vụ của người lính quân khí. Không chỉ ở các vùng lân cận Nghệ An mà còn ở các tỉnh phía Bắc. Lực lượng đóng tại Kho K812 chuyên về đạn, tôi đã gặp những chị em có thâm niên công tác hàng chục năm đến từ các vùng quê. Tại Trạm bảo dưỡng sửa chữa đạn tôi gặp chị Bùi Thúy Hòa, quê Cao Phong, Hoà Bình trước đây. Nguyên do đến với vùng miền Tây xứ Nghệ của chị Hòa cũng rất tự nhiên. Chị gái của Hoà là Bùi Thị Thu Thanh lấy chồng làm việc tại Kho. Vào theo chị, ngày đầu về Kho, Hòa được đưa về ở trong căn phòng 10 mét vuông của dãy nhà cấp 4 lợp tôn, ăn cơm bếp tập thể, tối đói thì ăn mì tôm cân, rừng núi âm u chỉ có tiếng chim không thấy tiếng người, đã có những đêm Hòa khóc vì nhớ nhà. Anh rể thấy tội quá hỏi cô có muốn về kho ở Hòa Bình cho gần nhà không. Khó khăn là thế nhưng khi đứng trước sự lựa chọn Hòa lại quyết định ở lại. Thế nhưng những năm tháng đó cũng là những năm tháng nhiều kỉ niệm. Hơn mười chị em từ các miền quê đều chưa chồng, có miền Bắc có miền Trung, có những người ở Hưng Yên, Hoà Bình, Hà Nội cùng ăn cùng ở cùng làm. Mỗi khi đạn về cần nhập kho, hòm đạn M21 nặng cả trăm cân bốn người mới khiêng nổi. Có những thứ máy móc không làm thay con người được, với đạn dược, dù nặng vẫn cần sự cẩn trọng, nhẹ nhàng và chính xác của bàn tay con người.
Trong các công việc của bảo dưỡng, sửa chữa đạn dược Hòa chia sẻ, bảo dưỡng thuốc nổ là nguy hiểm độc hại nhất. Những việc cần làm với từng khối thuốc nổ TNT như bong gôm, dầu chảy, bong tróc… Hoà từng đi dự Đại hội Thi đua quyết thắng cấp Tổng cục giai đoạn năm 2019-2024, đại diện cho chị em phụ nữ Kho K812.
Ở Kho K812 tôi còn gặp chị Vũ Thị Thu Hương, sinh năm 1976, quê Ân Thi, Hưng Yên. Nhập ngũ năm 1995, chị về Kho K870 ở Gia Lai, sau đó, năm 1998 mới về Kho K812. Sở dĩ về K812 là vì một cơ duyên. Khi học Cao đẳng kĩ thuật Vinhempic ở Biên Hòa chị đã bén duyên với một người bạn học cùng ở Nghĩa Thuận, Nghĩa Đàn. Ra trường, chị có nguyện vọng xin về Kho K812 để gần nhà của anh. Hai người kết duyên, có hai con, đến nay con đầu của họ đã xây dựng gia đình trước dấu mốc 30 năm hai vợ chồng gắn bó với ngành quân khí. Những năm tháng gian khó dần qua đi, vợ chồng người lính quân khí hoà cùng đời sống sinh hoạt của lính quân khí, của người dân xứ Nghệ, từ cái thời nhà ai có tivi là tất cả qua xem chung, cùng bàn tán về một bộ phim, một chương trình truyền hình, thiếu thốn nhưng lại đậm đà tình cảm, sự sẻ chia, đùm bọc. Nhà anh chị trong khu tập thể, cách xa trung tâm, con đạp xe ra Thái Hòa học sáu bảy cây số, đất kẹt vào bánh xe không đi được, nhìn con vừa khóc vừa dắt xe mà thương chảy nước mắt. Con lên cấp hai phải đi học xa, đứa đầu kì một còn đưa đón, kì hai tự đi, đứa hai thì được đưa đến lớp bảy. Chị Hương hiện là uỷ viên BCH Hội Phụ nữ Kho K812, những khó khăn đã dần qua, và cũng dần quen, ngày ngày sau giờ làm việc chị vẫn đi bộ quanh sân bóng, quanh hồ Lác, cảm thấy gắn bó thân thương với nơi này. Xứ Nghệ tự bao giờ đã thành quê hương thứ hai của chị.

Trung tá QNCN Đặng Tuấn Hanh, Thủ kho đạn Kho K812 trước tấm bảng ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Xuân Thủy
Bây giờ Kho K812 đã được đầu tư xây mới các nhà kho theo tiêu chuẩn hiện đại và thông minh, có hệ thống báo cháy, hệ thống đo nhiệt… Tôi đã gặp ở đây một người thủ kho sắp đi hết con đường của một người lính quân khí, Trung tá CN Đặng Tuấn Hanh. Anh Hanh quê Hà Tĩnh, vào kho năm 1996 và làm thủ kho từ năm 2000 cho đến nay, chỉ còn một năm nữa anh sẽ được nghỉ chờ hưu. Gần 30 năm quản lí đạn dược, hàng nghìn lô đạn đã qua tay anh trông nom, bảo quản, từ các lô đạn pháo mỗi hòm nặng cả trăm cân hay các kho đạn súng nhỏ. Chia sẻ một chút kinh nghiệm thủ kho, anh Hanh bảo, cần quan tâm nhất là các hộp rời, lẻ, dễ thất thoát, sẽ phải để mắt nhiều hơn. Ngày trước đạn chưa bao gói, các hộp sắt phải cắt ra để hoá thí nghiệm đánh giá chất lượng và mức độ an toàn, quản lí các hộp này cũng cần rất chú ý, nhất cử nhất động người thủ kho phải nắm được.
Công việc của lính kho xứ Nghệ, vùng đất thiếu mưa thừa nắng cũng mang lại những vất vả đặc thù. Ngày trước kho cơ bản là các nhà cấp 4 lợp tôn, thời tiết miền Tây xứ Nghệ khắc nghiệt, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 7 trời nắng nóng, công tác thông gió rất cần thiết, nóng quá thì xe cứu hoả phải vào phun nước lên mái tôn để giảm nhiệt. Đêm cần thông gió cho kho nên việc ở lại làm thêm đến tám chín giờ tối với anh Hanh và các thủ kho đạn khác là thường. Sáng ra, bốn năm giờ đã phải vào mở cửa. Công việc của người thủ kho đạn cứ trải hết mùa hè nóng bức đến mùa đông giá lạnh. Mỗi kho đều nằm biệt lập giãn cách theo quy định hàng trăm mét, được giới hạn trong các ụ chống nổ lây nên người thủ kho cũng làm việc biệt lập, thường chỉ có một mình. Sau lưng anh Hanh là bảng công tác có ghi: “Vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội, vì vậy phải quý trọng nó, phải tiết kiệm, ngăn nắp, phải sử dụng hợp lí”. Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là lời nhắc nhở sâu sắc về mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội và Nhân dân, cũng là lời nhắc nhở đối với mỗi người lính quân khí trong việc giữ gìn, bảo quản từng viên đạn. Hơn một trăm nhà kho của Kho K812 hôm nay mới phân nửa được hiện đại hoá bằng các nhà mái vòm thiết kế mới, còn lại vẫn còn các nhà kho cũ, một năm nữa anh Hanh sẽ rời vị trí và những đồng nghiệp của anh sẽ vẫn ngày đêm bên những kho đạn, chăm chút từng chi tiết nhỏ nhất.
Đại tá Hoàng Mạnh Hùng, Phó chủ nhiệm Kho K812 lái xe điện đưa chúng tôi đi một vòng quanh khu vực Kho, dọc những con đường đi tuần, những bốt gác. Bên ngoài hàng rào có một con đường tí xíu, gọi là đường nhưng chỉ là dải bê tông hẹp đặt lên đất, nhỏ nhưng chạy bao quanh cả diện tích bạt ngàn của kho. Anh Hùng bảo, con đường này anh em vệ binh đặt tên là “đường lưỡi rắn”, vì nó giống như lưỡi rắn. Tuy thế, chiều dài lại vô tận, bước chân người vệ binh sẽ bước trên ấy tuần tra, đêm cũng như ngày, đi mãi mà “lưỡi rắn” lúc nào cũng vẫn ở phía trước. Nhờ con đường lưỡi rắn ấy mà anh em cảnh vệ đi trực ngày mưa đã đỡ lầy lội hơn, có chỗ sạch sẽ mà đặt chân, và cũng tránh được nhiều nguy cơ khác, trong đó có cả việc tránh những lưỡi rắn thật vốn ẩn mình khắp các bờ bụi, búi cây ngọn cỏ dưới bước chân. Đã từng có vệ binh đi tuần bị rắn cắn phải tháo mất một đốt ngón tay. Để có sự hiện diện của con đường lưỡi rắn này là cả một câu chuyện phía sau liên quan đến một người lãnh đạo, Trung tướng Lê Quý Đạm. Khi đang là Cục trưởng Cục Quân khí, trong quá trình đi kiểm tra các kho, thấy anh em đi tuần vất vả ông đã có sáng kiến làm con đường này. Những câu chuyện ấy được anh Hùng tích lũy trong những năm tháng gắn bó với Kho K812 khi năm 1997, anh về làm Phó trạm trưởng Trạm bảo dưỡng sửa chữa đạn. Những năm tháng trước đó các nhà kho còn tạm bợ đơn sơ nói gì đến nơi ăn chốn ở. Có nhà kho chỉ có mái chẳng có vách, có trần, đạn để phơi trần thông thống. Hàng rào bao quanh cũng là hàng rào thép gai sau đó mới đầu tư xây tường bao. Đường lưỡi rắn được triển khai sau thời điểm đó, khoảng năm 2001 và nó vẫn còn mãi đến bây giờ, in dấu không biết bao nhiêu bàn chân người lính gác kho.
Bây giờ ở Đội vệ binh đã có phòng camera, ở văn phòng Kho cũng vậy, dọc hàng rào bảo vệ luôn có các camera giám sát. Quá trình chuyển đổi số đã hỗ trợ cho công tác bảo vệ, giữ gìn an ninh an toàn rất nhiều, chỉ cần ngồi trong phòng là có thể nắm bắt được di biến động trên từng đoạn đường, hoạt động của anh em làm công tác tuần tra, canh gác. Anh Hùng bảo, mỗi thế hệ đóng góp một chút, bỏ công sức một chút để tạo nên những bước phát triển. Một vùng kho nép mình vào núi nơi miền Tây xứ Nghệ bao nhiêu năm nay, từ khi rừng còn hươu nai, khỉ, lợn rừng, rừng già còn cây trườn ra chắn đường chắn lối. Hòa bình, Kho được xây dựng lại, để xây thì phải rà phá bom mìn. Thời chiến tranh bom ở đâu rơi đều được kiểm soát. Trong những lần cải tạo, xây dựng mới các nhà kho trên các nền kho cũ bị bom Mĩ đánh hỏng, hư hại, công tác rà phá bom mìn đều được tiến hành với sự hỗ trợ của lực lượng công binh, hơn 60 quả bom được xác định còn trong khu vực Kho chưa nổ đã được tìm kiếm, hóa giải được phân nửa. Đại tá Võ Văn Sáu, Chủ nhiệm Kho K812 nói với tôi, qua nắm bắt theo dõi vẫn còn 36 quả bom rơi xuống khu vưc kho mà chưa nổ và đến nay vẫn chưa xác định được hết vị trí. Đó chỉ là một phần trong hàng trăm quả bom khác đã rơi xuống và đã nổ trên đất này. Những lỗ hút khi bom rơi chui sâu vào lòng đất vẫn còn đó, nhưng bom chui đi đâu thì chưa xác định được. Khi xây dựng lại kho mấy năm trước, công binh về rà phá, hàng loạt chuối rừng cao ngần ngẫn hai tầm người được đốn hạ để tìm bom. Theo danh sách còn 36 quả, mới tìm được 28 quả. Quả tìm thấy gần nhất là năm 2024, khi chuẩn bị mặt bằng để xây dựng một nhà kho mới đã phát hiện, còn lại cơ quan chuyên môn ghi nhận vẫn còn 8 quả bom ngậm sâu trong những địa tầng của vùng kho K812. Đường Hồ Chí Minh mở ra, những thôn xóm xung quanh dần đông đúc, Thái Hòa từ khi nào đã lên thị xã, được coi là trung tâm của miền Tây xứ Nghệ. Kho K812 cũng bớt quạnh quẽ hơn. Bây giờ thì thị xã lại chia thành phường Thái Hòa, phường Tây Hiếu và xã Đông Hiếu.
65 năm ra đời nơi miền Tây xứ Nghệ, được đồng bào các dân tộc Nghệ An đùm bọc, chở che, đồng hành trong một số nhiệm vụ, vượt qua những thời khắc khó khăn nhất, giờ đây, đất và người Tây Hiếu vẫn còn lưu dấu những câu chuyện về một “hệ sinh thái K812” trong kí ức của rất nhiều người. Nơi đây có những “vùng quân giới” phủ xanh cây, có màu áo của những người lính kho với những cống hiến thầm lặng, nhiệm vụ thầm lặng và việc chia sẻ về nó thuộc diện “bí mật quân sự”.
*
* *
Hôm sau, anh Hùng tiếp tục cầm lái xe điện chở chúng tôi đi trong vùng kho, qua những nhà kho kiểu cũ, qua những nhà kho kiểu mới đạt chuẩn hiện đại nhất. Bất ngờ qua một khúc cua tôi thấy tấm biển “Khu vực xử lí đạn cấp 5” bèn hỏi và được biết, đạn cấp 5 là đạn đã quá hạn sử dụng, qua công tác hoá nghiệm được kết luận không còn đảm bảo an toàn, cần loại khỏi biên chế. Sau khi có quyết định xử lí của Cục Quân khí, Kho sẽ thành lập hội đồng và đội xử lí để thực hiện nhiệm vụ. Chủ yếu ở dạng đạn này là đạn thu hồi sau chiến tranh, đã có thời gian dài nằm trong kho trên nửa thế kỉ, gặp các vấn đề và biến đổi tính chất, thành phần hoá học. Tôi đã đề nghị được gặp những người chuyên làm công việc này.
Ngồi trước mặt tôi là Thiếu tá QNCN Nguyễn Ngọc Mai, sinh năm 1976, Tổ trưởng Tổ 1, Đội cần vụ bốc xếp đạn. Anh Mai đã có thâm niên mười sáu năm làm công tác này. Anh cho biết, tựu trung có 4 phương pháp tiêu hủy đạn là tháo gỡ, hủy nổ, hủy đốt, hủy chôn. Tuỳ từng loại đạn khác nhau sẽ có phương pháp xử lí khác nhau. Đầu tiên đạn xử lí sẽ được đưa về khu tháo gỡ, với đạn có bộ lửa sẽ dùng thiết bị tháo bộ lửa ở viên đạn ra trước, sau đó tháo đầu đạn, thuốc phóng, bộ lửa tháo ra sẽ có phương pháp tiêu huỷ riêng. Anh Mai chia sẻ, đạn 57 cao xạ là khó tháo nhất vì mối liên kết giữa đầu đạn và vỏ liều có hai vòng dập còn các loại lựu pháo 152mm hay M21 thì lại to về trọng lượng. Với đạn súng cỡ 14,5mm trở xuống (trừ tác dụng của đạn là nổ cháy nhanh) thì hủy đốt bằng lò chuyên dụng. Thuốc tháo từ các quả đạn sẽ tiêu hủy bằng cách rải đều trên bãi hủy và châm lửa đốt. Những cột lửa màu cam bùng lên cao đến ba bốn mươi mét là hình ảnh quen thuộc với những người làm công việc tiêu hủy đạn dược như Nguyễn Ngọc Mai, Bùi Thế Hà, Lô Minh Phương... Vị trí tiêu huỷ là Lèn Mồng, một hẻm núi nằm ngoài khu vực Kho. Mỗi loại đạn lại đòi hỏi một phương pháp tiêu hủy phù hợp. Với B40 thuốc nổ nhồi bên trong là thuốc nổ mạnh nên các anh phải đào hố sâu 1,5m đưa xuống để tận dụng áp lực của đất, tuỳ theo đặc tính và công dụng của từng loại đạn mà tính toán và có phương pháp tiêu hủy phù hợp, đảm bảo an toàn. Một đội xử lí đạn cấp 5 thường từ 15 đến 25 người gồm các thành phần cả cảnh giới, quân y, đại diện các chuyên ngành và những người thợ trực tiếp. Có đợt liên tục 15-20 ngày đội tiêu huỷ chỉ hủy đạn B40, sáng đào 5 hố, chiều đào 5 hố, đào xong xếp đạn xuống, đặt thuốc nổ mồi để hủy đạn. Người làm công việc này phải tỉ mỉ, cẩn trọng, đặt sự an toàn của bản thân và đồng nghiệp lên cao nhất. Nhìn số liệu đạn cấp 5 các anh đã tiến hành hủy trong năm 2025 khiến tôi có chút giật mình: 400 tấn đạn cần tiêu hủy, trong đó tháo gỡ 300 tấn, hủy đốt 100 tấn, hủy nổ 1 tấn. Kho K812 đã ra 11 quyết định chia làm 11 đợt mới xử lí hết số đạn này. Đợt dài nhất mà anh Mai và đồng đội tiêu hủy kéo dài đến 2 tháng.
Gương mặt se sắt vì nắng gió nhưng ánh mắt thì nhanh như chim cắt, anh Mai nói về những công việc kề cận với hiểm nguy. Ngồi cạnh anh là Thượng uý Nguyễn Văn Nhật, Phó đội trưởng Đội Cần vụ, bốc xếp đạn. Ra trường về Kho, Nhật từng làm trợ lí kĩ thuật trước khi xuống Đội. Anh cũng được đơn vị tạo điều kiện đi học, hiện đã xong Thạc sĩ tại Học viện Kỹ thuật Quân sự, dù cuộc sống còn những khó khăn, hai vợ chồng vẫn ở nhà thuê nhưng anh vẫn thu xếp để phấn đấu. Bố mẹ vợ Nhật trước cũng làm ở Kho K812, ông Đoàn Trọng Quỳ, nguyên Đội trưởng Tổ Tu bổ và bà Trần Thị Lộc, Thủ kho bảo quản đạn, ông bà đã nghỉ hưu hơn mười năm. Sự bén duyên hoàn toàn ngẫu nhiên. Có những kết nối cứ âm thầm diễn ra như vậy ở vùng Kho K812.
Buổi chiều, chúng tôi cùng Đại tá Hoàng Mạnh Hùng đi dọc khuôn viên đơn vị, cả vùng kho rộng mênh mông, ngoài cổng là vành đai lòng dân, chính là khu gia đình của những cán bộ, công nhân viên kho, những người thợ các thế hệ đã gắn bó với Kho K812 các thời kì. Trong khuôn viên những cây săng lẻ bạc trắng như một biểu tượng của Trường Sơn, của vùng đất phía Tây xứ Nghệ. Hồ Lác bao năm qua vẫn thế, đi hết một vòng hồ là đủ thể dục buổi chiều, từ chỗ là sình lầy, qua mấy lần cải tạo giờ đã được kè quanh bờ, tạo cảnh quan và lối đi, cũng là nguồn cung cấp nước cho công tác phòng cháy chữa cháy. Một vùng kho xứ Nghệ ẩn mình trong địa thế của Tây Hiếu, Đông Hiếu xưa các thế hệ tiền bối đã khảo sát và lựa chọn. Anh Hùng dẫn chúng tôi đến một khu vực đặc biệt, đó là nghĩa trang liệt sĩ của đơn vị. Đây là nơi yên nghỉ của các liệt sĩ, những người lính quân khí đã hi sinh trong quá trình làm nhiệm vụ. Nhìn những tấm bia khắc tên những người lính kho tuổi đôi mươi, cái nắng cuối ngày xứ Nghệ như gay gắt hơn. Các anh các chị đã nằm lại nơi đây, mãi mãi tuổi hai mươi nơi một vùng kho ấp ôm bởi núi đồi.
65 năm vật đổi sao dời, nhưng có những nhiệm vụ của người lính vẫn không thay đổi, có những công việc máy móc công nghệ vẫn không thể làm thay con người. Những người lính quân giới từ các miền quê đã đến và ở lại nơi miền Tây xứ Nghệ, làm tròn bổn phận của mình. Trời Tây Hiếu vẫn xanh ngắt trong cái nắng gay gắt của mùa hè, dòng sông Hiếu vẫn uốn mình cuộn chảy, là phụ lưu lớn nhất góp nước cho sông Lam. 65 năm nước chảy xuôi dòng, các thế hệ lính quân giới bên dòng sông Hiếu cũng vậy, họ như một phụ lưu để góp cho dòng chảy dài rộng của ngành quân khí thêm sung mãn, tròn đầy.
N.X.T
VNQD