.VŨ CÔNG CHIẾN
Bắt đầu từ nửa cuối tháng ba năm 1975, tâm thế những người lính Tây Nguyên chúng tôi như bước sang trang mới. Khí thế, hào hùng, pha nhiều cảm giác lạ lẫm, lạ tới mức không thể lí giải nổi.
Sau Chiến thắng Buôn Ma Thuột, những người lính Sư đoàn 320A chúng tôi làm nhiệm vụ cắt đường 14 để cô lập thị xã Buôn Ma Thuột, không cho địch từ Pleiku xuống ứng cứu đã nhanh chóng chuyển sang nhiệm vụ mới: Vận động đánh cắt đường 7 và truy kích địch, không cho những đơn vị lớn của chúng rút chạy xuống đồng bằng. Từ Cheo Reo đến đường 7 rồi thị trấn Củng Sơn và cuối cùng là giải phóng thị xã Tuy Hòa đúng ngày 1/4.
Không còn cảnh làm công trình phòng ngự chốt giữ đánh cầm canh với địch như năm 1974 nữa, lúc này chỉ có đi là đi, ngày tiếp ngày đánh và đuổi địch chạy dài. Quên luôn cả chuyện mỗi khi dừng chân đều phải đào hầm như trước. Bàn chân chóng mỏi hơn khi phải chạy dài trên đường nhựa và lần đầu được tiếp xúc với dân, được úy lạo bằng những thứ hoa quả lạ đã rất lâu không được ăn. Cơm thì thật no vì lấy được trong những kho hậu cần hay thậm chí trên những thùng xe tải của địch bỏ lại khi rút chạy.
*
* *
Cuối tháng ba rồi những ngày tháng tư năm 1975 ấy, quân ta liên tục tiến công, mỗi ngày giải phóng một tỉnh miền Trung. Chúng tôi chưa ai dám nghĩ đến ngày kết thúc chiến tranh, chỉ biết rằng mình đã rời bỏ cao nguyên sau nhiều năm sống cùng rừng núi để cùng nhiều đơn vị bạn đi tiếp trên con đường chiến tranh lúc này rất sôi động, hướng về phía Sài Gòn.
Sau khi giải phóng thị xã Tuy Hòa xong được mấy ngày, chúng tôi ngược trở lại Tây Nguyên. Những trận mưa đầu mùa làm cho nhiều đoạn đường đất trên đường số 7 lầy lội và lép nhép, nhưng chúng tôi vẫn lầm lũi hành quân. Về lại thị xã Cheo Reo của tỉnh Phú Bổn, nơi chúng tôi vừa ở đó chỉ nửa tháng trước, đơn vị tôi được nhận thêm tân binh, được nghỉ ngơi một ngày. Sau đó, cùng đội hình sư đoàn, cả Trung đoàn 9 chúng tôi hành quân về Bình Dương để chuẩn bị cho những trận đánh lớn sắp tới. Thật vui và náo nức khi lần này được hành quân bằng xe ô tô. Cả một đoàn xe dài trăm chiếc, toàn GMC thu được của địch trong Chiến dịch Tây Nguyên. Trong số lính lái xe, có cả những người mới học lái hoặc những hàng binh tình nguyện. Nhưng không hề gì vì các xe nối đuôi xen kẽ nhau đúng kiểu lính cũ kèm lính mới. Trên đường 14 quân ta đi nườm nượp, chỉ có quân vào mà không có quân ra.
Nhưng để giữ bí mật quân sự, đoàn xe vẫn phải chạy ban đêm. Ban ngày, điểm dừng chân thường là những cánh rừng cao su ven đường 14. Có những rừng cao su rậm rạp như đã rất lâu không có người khai thác. Muỗi bay vo ve khắp rừng. Địch không còn làm chủ bầu trời như trước nữa, nhưng dọc đường hành quân của cả sư đoàn, vẫn có vài đơn vị bị máy bay ném bom, thiệt hại chút ít.
Sau vài ngày, vượt qua Sông Bé chúng tôi vào tới Bình Dương. Bộ đội được bổ sung thêm đầy đủ súng đạn và tranh thủ tập thêm kĩ thuật tác chiến trong thành phố. Phải tranh thủ học, dựng những chòi giả làm tầng nhà gác để tập thao tác bắn B40, B41 vì ít ngày trước khi đánh Tuy Hòa, vài người lính trong tiểu đoàn tôi đã bị thương vì bỏng do hơi lửa súng phụt xuống đất hất lên. Cấp trên phổ biến, vài ngày nữa đơn vị sẽ hành quân tiếp, vượt sông Sài Gòn về vùng Củ Chi. Sư đoàn 320A chúng tôi là một mũi tấn công vào hướng Tây Bắc Sài Gòn.
Trong không khí khẩn trương như vậy thì thằng Bình (người Hà Tĩnh) ở trung đội tôi bị lên một cái nhọt to tướng ở bắp chân phải, tím sậm một vùng và có mủ, có ngòi. Cậu ta phải nằm nghỉ ở lán tạm, chẳng tham gia tập tành được gì cùng trung đội. Anh Thiện, y tá đại đội đến kiểm tra bảo nặng đấy, không ra trận được đâu, nhất là sắp tới toàn hành quân bộ. Tôi là trung đội trưởng, nghe thế thì hoảng quá. Cả trung đội tôi lúc này quân số cũng chỉ có hơn chục người. Nếu phải để cậu Bình ở lại phía sau thì cũng phải cử thêm hai người nữa khiêng đến chỗ có bệnh xá, đường xa chẳng biết thế nào.

Quân giải phóng tiến vào đánh chiếm sân bay Hòa Bình ở thị xã Buôn Ma Thuột năm 1975 Ảnh: TTXVN
Tôi nằn nì y tá Thiện:
“Anh xem có cách nào cho cậu ta đỡ hơn mà đi theo đơn vị được không chứ để nằm lại thì gay quá. Trung đội em đang ít người, trận tới nghe nói đánh nhau to, thiếu hắn là gay lắm”.
Anh Thiện nghe thế thì cứ lặng im xoa xoa tay quanh cái nhọt của thằng Bình mãi rồi mới nói:
“Thực ra bị cái nhọt to thế này cũng không phải là ghê gớm lắm đâu nếu có thuốc, tiếc là cao lang y đơn vị không có. Nhưng nếu như tìm được lá táo nhai đắp để hút được mủ và cái ngòi theo cách dân gian thì hai ngày sau có thể đi lại được. Cậu cho bộ đội tìm thử xem”.
Mới nghe thế, mắt Bình sáng lên đầy hi vọng. Cậu ta túm lấy tay tôi:
“Giúp em với. Em muốn được ra trận lần này cùng các anh”.
Tôi nhìn cậu ta gật đầu. Ngay sáng hôm ấy tôi cho anh em trong trung đội tỏa đi tìm. Nửa ngày trời cả trung đội lần sục khắp khu rừng cây lúp xúp xa dân này mà không thể tìm thấy cây táo nào, dù là táo dại. Tôi nói lại với y tá Thiện rồi lên báo cáo đại đội, có lẽ đành phải để cậu Bình ở lại vậy.
Đầu giờ chiều, bỗng y tá Thiện tới gặp tôi, kéo ra một góc rừng, cười cười mãi rồi mới nói:
“Kiểu cái nhọt của Bình, còn có một cách xử lí khác, nhưng chưa làm bao giờ. Đó là trực tiếp hút mủ và ngòi bằng… miệng. Hay là...”
Tôi tròn mắt nhìn y tá Thiện. Nghe ghê bỏ mẹ, ai làm bây giờ?
Tôi phân vân quá, ý nghĩ cứ loang loáng trong đầu. Trận tới thiếu Bình là thiếu một tay súng B40 vào loại khá. Chính cậu ta là người duy nhất của đại đội trong trận đánh ở đường 7 mới cách đây một tháng đã dùng B40 bắn cháy một chiếc xe tăng M48 của địch và đã được đề nghi tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Còn bây giờ, đơn vị tôi đã trải qua những năm chiến đấu dài dài, quân số còn ít mà trận đánh lớn lại sắp đến rồi. Thêm một tay súng là thêm sức mạnh cho đơn vị, là niềm tin vững tâm của đồng đội khi ra trận có thêm người chia lửa…
Tôi và y tá Thiện chui vào lán, tới chỗ Bình nằm. Nhìn cái vẻ mặt nhăn nhó chìa hai cái răng cửa như cái răng thỏ của Bình, vừa như cầu xin, vừa như nhận lỗi, tôi bỗng thấy thương cậu ta như đứa em ở nhà của mình. Ngồi bên cạnh, đưa tay xoa nhẹ lên vùng nhọt của Bình một lát, tôi quay qua y tá Thiện nói với giọng dứt khoát:
“Tôi sẽ hút nhọt cho Bình”.
Vừa nghe thế, cậu Bình há hốc mồm nhìn tôi ngơ ngác. Sau nghe y tá Thiện nói sẽ phải chữa cái nhọt bằng cách như thế, Bình ta cúi đầu xuống không dám nói gì. Chắc hắn cũng không ngờ chính tôi, trung đội trưởng, sẽ làm cái việc ấy.
Tôi với anh Thiện dìu Bình ra bên bờ suối, để ngồi thõng chân xuống nước. Y tá Thiện ngồi ôm, còn tôi lội xuống đứng dưới lòng suối. Anh Thiện day day và nặn cái nhọt của Bình một lúc cho mềm ra, rồi chích nhẹ một mũi dao. Mủ từ đó ứa ra, trắng đục. Tôi nhắm mắt lại một cái, rồi ghé mồm vào đó hút mạnh. Xong, tôi nhè ngay xuống suối rồi hớp một ngụm nước suối to thổi phì phì cho đỡ ghê. Được vài nhịp như thế thì có vẻ quen. Cái nhọt của Bình xẹp dần, có vẻ đã hết mủ. Y tá Thiện lấy tay nắn nắn rồi bảo tôi:
“Vẫn còn cái ngòi. Phải hút nốt ra chứ nếu để lại thì không khỏi được đâu, nó sẽ mưng mủ trở lại. Đã tới đây rồi thì cậu phải dùng lưỡi đánh vào cái ngòi cho nó lỏng ra rồi hút nốt mới được”.
Tôi im lặng làm theo hướng dẫn của y tá Thiện. Bình vừa kêu đau, vừa kêu buồn quá. Chúng tôi phải cho ngậm cái khăn mặt chứ cứ nghe kêu như thế thì sốt ruột lắm. Bất ngờ, tôi tóp má hút mạnh một cái, lôi được cái ngòi to như hạt ngô đá bật ra, thổi phù xuống suối. Thế là xong. Bây giờ mới là lúc tôi vục mặt xuống suối súc miệng sùng sục. Anh Thiện đã chuẩn bị sẵn cái bàn chải đánh răng có tra thuốc, bảo tôi đánh răng kĩ vào.
Cái vết nhọt của Bình bây giờ đỏ lòm, rỉ máu. Y tá Thiện dùng panh ngoáy bông vào đó lau nốt, mặc cho cu cậu cong người lên vì đau, dù đã cắn chặt cái khăn trong miệng. Thêm một cái gạc có tẩm thuốc nữa nhét vào, sau đó anh băng vết thương lại cho thằng Bình. Cái chân của Bình có vẻ ổn, đỡ đau nên nét mặt giãn ra, chỉ còn tiếng suýt nhẹ qua kẽ răng. Y tá Thiện cầm túi thuốc đi về lán. Khi chỉ còn lại hai người bên bờ suối, Bình bỗng ôm chặt lấy chân tôi, khóc như trẻ con. Tôi không nói gì, chỉ nhẹ nhàng xoa tay lên vai cậu ta an ủi rồi dìu về lán.
Hôm sau anh Thiện lại thay băng, lại nhồi thuốc vào chỗ vết nhọt cho Bình. Kì lạ thay, chỉ sau mấy lần thay băng và cho thuốc, vết thâm trên bắp chân Bình dịu hẳn, không còn tấy đỏ nữa. Gặp tôi, hắn đã cười, tuy còn vẻ ngượng nghịu.
*
* *
Ba ngày sau, khi đơn vị chúng tôi có lệnh hành quân chuyển vị trí, vượt sông Sài Gòn về đất Củ Chi chuẩn bị cho trận đánh mới thì Bình đã chống gậy đi cùng trung đội được, chúng tôi chỉ còn phải mang hộ ba lô và súng.
Đến nơi mới, được nghỉ vài hôm, Bình khỏi hẳn và vẫn cùng chúng tôi tham dự được trận đánh lịch sử cuối cùng của đơn vị, trận đánh căn cứ Đồng Dù sáng 29/4/1975 trên cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn.
Hình như cái việc hút mủ cho đồng đội như tôi đã làm cũng ít xảy ra. Anh em trong cả đại đội nhìn tôi với con mắt vị nể, nhất là y tá Thiện. Khi báo cáo đại đội, đại đội trưởng vừa cười vui vừa bảo tôi:
“Thằng Thiện láu cá quá. Lẽ ra là y tá, chính hắn phải làm việc đó mới đúng. Nhưng thôi, việc xong rồi, chúng tớ biểu dương cậu”.
Tôi không nghĩ như đại đội trưởng nói, ai làm mà chả được. Tôi làm ở đây là vì tình thương đồng đội, coi Bình như đứa em của mình thôi. Công thần mà làm gì. Còn Bình, sau vụ đó hắn coi tôi như anh trai, bảo gì cũng nghe. Vậy là được rồi.
Kết thúc chiến tranh được vài tháng, trung đoàn chúng tôi lại được lệnh quay lên cao nguyên làm nhiệm vụ tiễu trừ Fulro. Tụi Fulro ẩn nấp trong rừng, hoạt động như lũ phỉ. Những trận đánh nhỏ và lắt nhắt liên tục xảy ra, chúng tôi phải luồn rừng truy lùng để tiêu diệt hoặc gọi hàng chúng. Và dù rất ít, nhưng đơn vị chúng tôi cũng có tổn thất. Bình hi sinh trong một lần đụng độ với Fulro. Tôi buồn và thương vô cùng…
Chiến tranh đã kết thúc tới hơn nửa thế kỉ rồi. Mỗi năm vào những ngày cuối tháng tư tôi lại thường hay nhớ về những trận đánh cuối cùng của đơn vị mình trong chiến tranh, với nhiều kỉ niệm cùng đồng đội, đặc biệt với Bình, và không hiểu sao lần nào cũng cảm thấy xót xa.
V.C.C
VNQD