Cả đám hàng binh, tù binh giật mình, bởi bộ đội ăn cơm nắm, lương khô, đói khát, nhưng tù binh Mĩ vẫn đều đặn có đường, sữa, thuốc lá. Ông Phạm Nông (77 tuổi) lại sống với kí ức hàng binh, cảm ơn chính sách tù binh của phía cách mạng.
Cái ba lô bạt của tôi đâu rồi bà?
Ông Nông lụi cụi trong căn buồng tối và gọi bà vợ già. Căn buồng ẩm mốc. Ông lão cất kì những kỉ vật trong góc hòm và sẽ mang theo khi ông từ giã cõi đời. Mũ, ba lô hả? Bà vợ già của ông nói ấm ứ cho qua chuyện vì biết cứ tới ngày lễ lớn của đất nước thì ông chồng già lại mang kỉ vật ra để kể chuyện.
- Đây, bên Xí nghiệp gạch ngói của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tặng tui để về quê.

Nơi đặt di ảnh của cha mẹ cũng là nơi người mẹ từng đặt ảnh thờ ông Nông. Ảnh: Lê Văn Chương
Ông Nông thường giơ mấy kỉ vật này ra khi bắt đầu câu chuyện chứng minh rằng mình từng là công dân vùng vĩ tuyến chứ đâu phải tù binh tù biếc gì đâu khi ai đó ở thị trấn Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi bảo “ông Ba Nông từng bị Cộng sản bắt làm tù binh”.
Tháng 5/1972.
Những tờ báo ở miền Nam như Độc Lập, Đông Phương, Sài Gòn Mới… liên tục đăng tình hình chiến sự ở trang nhất, bởi Vùng 1 chiến thuật (Quảng Trị, Thừa Thiên) đang nóng từng ngày. Bà Trần Thị Chí chạy ra chạy vào xóm nhỏ và nhìn những tàu lá quanh nhà dường như đang ngả màu úa vàng, hoặc rách te tua. Người ta nói với bà về chuyện thiên, địa, nhân tương ứng, giống như khi Tả quân Lê Văn Duyệt qua đời thì những hồ sen ở làng Bồ Đề (Mộ Đức, Quảng Ngãi) đều cạn ráo. Còn khi cụ Huỳnh Thúc Kháng qua đời và đám tang khiêng ngang nhà, lúa trì trì rũ xuống như sau cơn bão.
- Thằng Nông đi tong rồi!
Bà Chí nhận tin cậu con trai thi rớt tú tài, bị bắt đi quân dịch và đã có giấy báo tử từ Quảng Trị. Chồng mất sớm, giờ tới thằng con trai có dáng ốm nhách, hiền queo được đưa lên bàn thờ. Người ta nói chuyện, hồi đó nếu bà bỏ ra 3 cây vàng thì chạy cho con né được gọi quân dịch 1 năm, may ra còn sống. Nhưng bà chạy đâu ra, rồi năm sau lại có giấy gọi thì lấy đâu 3 cây vàng nữa.
Lúc ấy, cậu lính ốm nhách Phạm Nông, 24 tuổi trực đài thông tin đóng tại Làng Vây. Trung tá Phạm Văn Đính dẫn 1.500 lính ra đầu hàng quân giải phóng. Đúng ra, cậu Nông cũng ra hàng trong số lính này, nhưng đi xuống thị xã Đông Hà, khi quay lên thì bị kẹt bởi mưa đạn pháo nên cậu phải nhập vào một đơn vị khác.
- Hai miền gần thống nhất rồi, tụi tao lo học nghề lái xe sau này nuôi vợ con.
Đám lính trong đơn vị kháo nhau và từ “học nghề, giải ngũ” được nhắc đến nhiều hơn. Khi nào thì hết đánh nhau? Tại một số địa phương, binh lính 2 bên gặp nhau với 2 sắc cờ, giao lưu đá bóng, súng ống quăng hết một bên. Tấm ảnh Hai người lính của nhà báo Chu Chí Thành chụp người lính giải phóng và người lính chế độ Sài Gòn tại chốt Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị vào năm 1973 nói lên câu chuyện này.
Vụ việc giấy báo tử của cậu Nông gởi về gia đình liên quan tới cuộc đào tẩu bí mật, chạy ngược sang hàng ngũ cách mạng. Tháng 4/1972, ý nghĩ đào tẩu ra miền Bắc để giữ mạng sống càng được cậu Nông ấp ủ sau lần chết hụt thứ mấy mươi mà cậu không không tính được.
Cơ hội đến vào ngày 1/5/1972.
Là lính thông tin nên cậu Nông nghe lỏm tin “di tản khỏi Quảng Trị”. Cơ hội tốt nhất để chạy ra miền Bắc.Trên đường tháo chạy trong loạn quân rời bỏ Quảng Trị, cậu Nông đã lùi lại và biến mất. Cậu bơi nhanh sang sông Mỹ Chánh (sông Ô Lâu). Bơi ra giữa sông, cậu không sợ súng, pháo từ phía cách mạng, chỉ sợ pháo bầy từ biển dội vào thì đời cậu đi tong. Mà điều đó không phải chờ lâu. Trực thăng UH - 1 mới đó đã xè xè trên bầu trời, súng Gatling (M134) mỗi phút có thể xả 4.000 viên đạn từ 6 nòng xoay đang quần đảo trên không gian.

Kỷ vật chiếc mũ cối được ông Nông gìn giữ đã hơn 50 năm
Cậu Nông ra hàng quân giải phóng. Người ta chưa kịp hỏi “cậu ở đơn vị nào” thì đã được chào đón bởi một trận đạn pháo tơi bời bên bờ sông.
Nằm im dưới hầm, pháo còn bắn nữa!
Mấy người lính giải phóng thuộc Sư đoàn Sao Vàng ấn cậu hàng binh xuống căn hầm chật chội. Trời đất như nghiêng ngả. Sau trận phi pháo bắn nát bờ sông rồi vài ngày tiếp tục bị pháo 105mm nã xuống, cậu được đưa xuống ở với dân, chờ nhận lệnh của cấp trên.
Cậu hàng binh không bị trói, không bị bịt mắt mà được thả lỏng ngay sau khi người chỉ huy hỏi họ, tên, quê quán và cười “lính gì mà như học sinh”. Cậu Nông thót tim và nhẩm tính, mới bơi qua sông mà đã thoát chết tới mấy lần. Những ngày được các bà mẹ ở Quảng Trị nuôi, cậu Nông nhớ đến mẹ già ở quê. Hành trình vượt Trường Sơn ra miền Bắc bắt đầu khi phía quân giải phóng gom đủ 20 hàng binh, tù binh. Khổ vì ăn theo tiêu chuẩn của quân giải phóng, mỗi ngày chỉ được phát vài miếng lương khô và cơm nắm ngày 1 bữa nếu so với lúc ở tiền đồn, tiêu chuẩn ăn được cấp theo khẩu phần MCI (viết tắt của Meal Combat individual - Bữa ăn chiến đấu cá nhân), có đủ cả thịt hộp, thịt gà, kẹo caramen, cà phê, trà chanh, kẹo cao su, thỉnh thoảng thêm chai bia la de.
Mỗi khi qua trạm, 2 người lính dẫn đường đều kí xác nhận về số lượng người được dẫn giải. Rồi một ngày, đám hàng binh, tù binh thở phào vì điểm dừng chân là trại tù binh K15 nằm trong rừng. Cả đám chú ý tới tiếng chào hỏi. Thì ra có 2 tù binh là phi công Mĩ. Khẩu phần ăn của 2 viên phi công này có đủ bơ, sữa, bánh, thuốc lá, trong khi bộ đội có mơ cũng không kiếm được món này. Phi công được đối xử tốt thì mọi người sẽ có bữa ăn ngon, cả đám nhao nhao và bữa trưa đầu tiên được dọn ra đúng như điều họ nghĩ, có đủ cơm, rau, tương đen của Trung Quốc.
Kết quả thanh lọc 14/20 lính được công bố là hàng binh, trở về làm thường dân ở tại xã Vĩnh Chấp, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Thời gian đầu tiên, cả nhóm không được giao bất cứ việc gì, chỉ ăn và đi tát cá, được hưởng tiêu chuẩn 12kg gạo, 18 đồng phụ cấp/tháng. Cả đám được giải thích, nguồn tài trợ quốc tế dành cho đối tượng chính sách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Giữa năm 1973, cả đám hàng binh được chính quyền cho 2 lựa chọn, trở thành lính của Trung đoàn Khe Sanh hoặc đi làm công nhân. Nói đến chuyện đánh nhau thì thằng nào cũng ngán nên cả đám viết đơn xin đi công nhân. Cậu Nông được biên chế về Xí nghiệp gạch ngói Vĩnh Linh, tiền lương 32 đồng/tháng, tiền ăn 18 đồng/tháng. Cuộc sống yên bình, cả bọn quên hẳn những suất ăn MCI có socola Mĩ. Nhưng rồi có một thứ không quên. Cả đám luôn mong chờ ngày thống nhất đất nước để trở về.
Các o xinh đẹp và trẻ tuổi ở xí nghiệp gạch ngói Triệu Phong thường rủ cậu Nông đi sang các xã để xem chiếu phim. Cậu Nông thích nghe các o râm ran nói chừ, ri, mô, tê, răng, rứa… Các o thường gặng hỏi khi cậu Nông kể chuyện những món ăn mà ở miền Bắc không hề biết, như cá hộp Mackerel, sữa Kim Cương Foremost, kem dưỡng da Thorakao, xà phòng thơm Ca Ba, kem đánh răng Hynos, mì Vị Hương 1 tô, bột ngọt Vị Hương Tố, xá xị Con Cọp BGI...
Tháng 3/1975, cậu Nông reo mừng khi nghe đã giải phóng tới Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi. Đến 30/4/1975, mọi thứ bùng nổ khi Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng.
Bà Trần Thị Chí, mẹ của ông giờ đây chỉ còn là một tấm di ảnh trên bàn thờ, ngay cạnh người chồng chết sớm. Vị trí đặt ảnh của bà cũng từng là nơi đặt di ảnh của cậu con trai Phạm Nông tử trận. Hai người em trai của ông tham gia chiến trường Campuchia, một người mất sớm, một người là thương binh. Sau 50 năm, ông Nông vẫn nâng niu những kỉ vật và sẽ theo ông cho tới khi trở về với người mẹ, từng 3 năm làm đám giỗ con trai.
LÊ VĂN CHƯƠNG
VNQD