Sóng thơ vẫn dạt dào giữa hai bờ mượt cỏ

Thứ Bảy, 26/09/2026 14:14

.PGS.TS NGUYỄN HỒNG VINH

(Đọc “Hai bờ sông văn” - tập tiểu luận phê bình của Lê Thành Nghị,
NXB Hội Nhà văn, H. 2026)

Tôi cân nhắc mãi khi chọn tít bài như trên để gọi tên “đứa con tinh thần” mới của Lê Thành Nghị. Trong tập tiểu luận phê bình này có tới hàng chục lần ông nhắc đến CỎ - một loài thực vật tượng trưng cho nỗi đời, phận người với vui buồn hòa quyện trong những thời khắc cụ thể, mang cung bậc cảm xúc khác nhau của từng nhân vật thơ hoặc tiểu thuyết. “Hai bờ sông văn”, tôi hiểu là hai lĩnh vực mà ông đã say mê theo đuổi nó - đó là sáng tác thơ và viết tiểu luận phê bình. Tính từ năm 1986 đến nay, ông đã cho ra đời hàng chục tác phẩm chính: Rừng tràm cuối mùa đông (Thơ, NXB Quân đội nhân dân, 1986); Mưa trong thành phố (Thơ, NXB Quân đội nhân dân 1999); Mùa không gió (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2002); Sông trôi không lời (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2010); Khoảng giữa những giọt sương (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2016); Trong tĩnh tại và 100 satna (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2018); Hoa vàng mấy độ (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2024); Tuyển tập thơ (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2020); Văn học sáng tạo và tiếp nhận (Tiểu luận phê bình, NXB Quân đội nhân dân 1997); Trước đèn… thơ (Tiểu luận, NXB Quân đội nhân dân, 2005); Còn lại sau ngôn từ (Tiểu luận phê bình, NXB Văn học 2014); Bóng người trong bóng núi (Tiểu luận phê bình, NXB Văn học, 2017); Cây vườn thức với gió (Tiểu luận phê bình, NXB Văn học 2021); Và năm 2026 này là Hai bờ sông văn (Tiểu luận phê bình, NXB Văn học).

 

Như vậy 14 tác phẩm chính được công bố trong 40 năm được thử thách qua thời gian và đọng lại trong tâm trí nhiều bạn đọc, Lê Thành Nghị xứng đáng nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2018; Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012.

Tiếp nối mạch nguồn sáng tạo trước đó, năm 2026 này, Lê Thành Nghị lại cho ra mắt tập tiểu luận phê bình “Hai bờ sông văn” gồm hai phần, tập hợp những bài viết đã in trên các báo và tạp chí trong mấy năm gần đây. Phần I gồm 30 bài về các tác giả văn học Việt Nam đương đại. Phần II gồm 15 bài viết của các tác giả về Lê Thành Nghị. Có lẽ trong hơn 40 năm lại đây ít có nhà văn nào như ông, bằng sự đam mê bền bỉ, vừa sáng tác thơ, vừa viết lý luận, phê bình văn học, tạo sự cuốn hút đông đảo bạn đọc, trong đó có tôi. Có thể nói một cách hình tượng là, sự nghiệp sáng tác và lý luận, phê bình văn học của Lê Thành Nghị như đôi cánh đều đặn vỗ nhịp trên cái trục chính là hiện thực sôi động của đất nước ta trong thời kì đổi mới, hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều đáng ghi nhận là, các tập in sau đều có cách tiếp cận mới, cách thể hiện được đa dạng hơn, nhiều “chất thơ” hơn, tạo nên sức sống lâu bền trong dòng chảy văn học từ đổi mới (1986) đến nay. Đúng như nhận xét của “anh cả” làng thơ đương đại Hữu Thỉnh: “Lê Thành Nghị - gừng càng già càng cay”.

Trong giới phê bình văn học thời gian qua, thường có hiện tượng không ít nhà phê bình chỉ tập trung khám phá cái hay của một tác phẩm thơ, mà ngại viết phê bình các tập truyện ngắn, nhất là tiểu thuyết. Có thể hiểu nguyên nhân chính là các bài thơ, tập thơ vốn đã mang “chất thơ” rồi, người viết chỉ cần minh họa bằng mấy lời bình phẩm cho “vị thơ” đậm đà hơn, chẳng cần để tâm nhiều lắm về cái chiều sâu của “cái hay” ấy là gì; nó theo khuynh hướng nào? Điều này thường gặp ở mục Đọc sách trên một số báo, tạp chí, nhất là ở một số tạp chí của Hội Văn học, nghệ thuật địa phương. Nói rộng ra là mảng lý luận, phê bình vẫn chưa theo kịp sáng tác, chưa thật sự là “người bạn đồng hành” cùng sáng tác. Trước thực trạng đó, việc ra mắt tập tiểu luận phê bình này của Lê Thành Nghị là sự bổ sung đáng quý, góp sức cùng với một số nhà phê bình khác lấp dần khoảng trống đó

'Hai bờ sông văn", cuốn sách mới nhất của/về nhà thơ, nhà phê bình Lê Thành Nghị.
Trong cuốn “Hai bờ sông văn” với 15 gương mặt được Lê Thành Nghị giới thiệu, phẩm bình, các tập truyện hoặc tiểu thuyết được ông chăm chú đọc kỹ lưỡng và phân tích tinh tế, chỉ ra nhiều nhân vật được các tác giả dày công thể hiện, làm rõ bản sắc, nhất là nhấn mạnh những nhân tố quyết định thành công của tác phẩm. Ví như tập truyện Bất chợt mai vàng của Nguyễn Trí Huân viết về những vấn đề hậu chiến. Tập truyện gồm hai tập truyện vừa: Bất chợt mai vàng và Con họa mi lông xù vừa bay vừa hót. Bằng chiều sâu trải nghiệm trong cảm nhận tác phẩm, Lê Thành Nghị phát hiện cái tài của tác giả khi xây dựng nhân vật Phong với những góc cạnh đa chiều: từ người thanh niên cốt cán trong cải cách ruộng đất lúc nào cũng hừng hực đấu tố, làm cho dân làng tìm cách xa lánh, nhưng khi đứng trong đội ngũ người lính, Phong chiến đấu dũng cảm trước kẻ thù xâm lược, từ cuộc chiến tranh chống Mỹ đến cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, rồi trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang. Đến đây, người đọc tưởng thế là đủ với một nhân vật như Phong, nhưng với trách nhiệm của người cầm bút, Nguyễn Trí Huân lại tiếp tục miêu tả trạng thái của Phong trong thời bình. Tôi tâm đắc cách phân tích nhân vật điển hình bằng những chi tiết điển hình khi ông đề cập những suy ngẫm và hành động của Phong khi đã rời quân ngũ, “được về làm việc tại một cơ quan, giữ các chức vụ quan trọng, nhưng Phong luôn sống trong mặc cảm tội lỗi, chưa bao giờ thanh thản và hết ân hận. Để cứu chuộc những lỗi lầm quá khứ, Phong luôn có ý thức giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là con em trong dòng họ mình”. Rồi các khía cạnh nhân vật người lính khác như Tuân; những số phận của nhiều người vợ ở hậu phương xa chồng đằng đẵng, đến lúc thời bình lại gặp những hoàn cảnh éo le, Lê Thành Nghị cho rằng, những trang viết của Nguyễn Trí Huân gợi bao thương cảm, xót xa với người đọc. Kết thúc bài viết, ông chỉ ra cái căn cốt tập truyện của Nguyễn Trí Huân: “Với một văn phong điềm đạm, dung dị, kỹ lưỡng, giầu chất thơ…, Nguyễn Trí Huân đã để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm về cuộc sống, đánh thức trong mỗi người đọc niềm xúc động thiêng liêng về con người, những con người dù mang trong mình nỗi ân hận lỗi lầm, vẫn ánh lên tình người trong hoàn cảnh đặc biệt. Gợi nên tính nhân đạo ấy trong người đọc cũng là một trong những chức năng cao cả của văn học” (trang 76). Mang chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, các nhân vật trong một số tác phẩm văn xuôi (tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự...) cũng như các tác phẩm thơ trong tập sách này đều được Lê Thành Nghị nhìn nhận, phân tích dưới lăng kính chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, nhờ vậy các nhân vật dù mang những góc cạnh khác nhau, “đều được người đọc chia sẻ và nghiền ngẫm suy tưởng theo hướng thiện”, thể hiện qua các bài viết về tiểu thuyết Cuộc phân tranh của nhà văn Thiên Sơn (từ trang 22-32); Những vị tướng tôi từng biết (ký chân dung) của Nguyễn Mạnh Đẩu (trang 80-87); Chiếc bách giữa dòng, tiểu thuyết của Trần Đức Trí (trang 112-118) và một số bài khác…

Cần nói thêm rằng, tạo được sức hấp dẫn của các bài viết về các tác phẩm văn xuôi nhờ cách diễn đạt dung dị, đầy chất thơ của Lê Thành Nghị; mặt khác là nghệ thuật khái quát các vấn đề nổi bật của từng tiểu thuyết, truyện, ký. Ví như sau khi phân tích các chi tiết điển hình, Lê Thành Nghị đã chỉ ra 3 điểm đặc sắc trong các bài viết của Nguyễn Mạnh Đẩu - nguyên nhân của nguyên nhân làm nên sự quý mến của bạn đọc dành cho tác giả, được Lê Thành Nghị gọi tên đúng bản chất: Thứ nhất là tính trung thực; Thứ hai là tinh thần học hỏi; Thứ ba là tấm lòng của người viết (trang 81-87). Đây là sự đúc kết thể hiện chất lý luận trong phê bình rất cần thiết cho việc nâng cao chất lượng sáng tác. Điều đặc biệt, với cây bút tài hoa, có bài ông phân tích tác giả không chỉ là nêu bật cái hay trong những tác phẩm của họ, mà còn khám phá chiều sâu cái đẹp trong nhân cách sống của tác giả, khiến tôi đọc xong bài viết của Lê Thành Nghị rớm lệ. Đó là bài Nguyễn Trí Huân tin cậy trong cuộc đời, tài năng trong văn chương (trang 40-49). Có lẽ với sự khâm phục tài năng và đức độ của con người Nguyễn Trí Huân, Lê Thành Nghị đã dành 2 bài trong tập sách này để nói về tác giả. Theo tôi, đó là sự ưu ái đúng, rất cần thiết đối với một tác giả đã đồng hành cùng ông trong công tác biên tập nhiều năm và trở thành Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội trước ông. Điều ấy tôi càng thấm thía vì sao xã hội ta rất trân trọng những nhà văn đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh giữ nước cũng như người đang còn sống vừa có tài năng, vừa là tấm gương sáng về lẽ sống và phong cách sống.

Cùng với niềm trân quý những nhà văn viết văn xuôi, trong tập này Lê Thành Nghị đã dành nhiều trang để giới thiệu gần chục tác giả của những tập thơ được công chúng thơ yêu mến. Cái làm nên sự hấp dẫn người yêu thơ là, ngay từ đầu đề bài viết đã được ông mài giũa trau chuốt, lựa chọn nên giàu sức gợi mang tính khái quát về từng gương mặt thơ. Ví như Hạt sương trong cỏ mai (về nhà thơ Như Bình, trang 33), Đắng cay giấu dưới tầng sâu (về thơ của nhà thơ Đỗ Nam Cao, trang 98); Thơ Nguyễn Đức Hạnh, nỗi niềm thành mây trắng (trang 95); Khuất Bình Nguyên tha hương là để tìm về (trang 106); Một mình nhấp một chiều thu (về thơ Đoàn Văn Thanh, trang 119); Ngô Đức Hành: Rễ tôi bám chặt rú Nghèn (trang 129); Đi về phía mặt trời, tập thơ mới của Lê Cảnh Nhạc (trang 135); Những câu thơ về hạnh phúc (về thơ của Nguyễn Thành Tâm, trang 150); Câu thơ ngân như ngọn gió không lời (về thơ của Trần Nam Phong, trang 155); Trần Nhương, vẫn bao giây phút bần thần (trang 163); Tôi nợ cuộc đời này cả những thương đau (về thơ của Mai Thìn, trang 175), và về nhiều nhà thơ khác…

Là tiến sĩ văn học được đào tạo bài bản ở Trường đại học tổng hợp quốc gia mang tên Lômônôxốp (thời Liên Xô cũ), từng làm công tác biên tập nhiều năm ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, sau đó làm phó tổng biên tập Tạp chí này - một Tạp chí có uy tín lớn cả trong và ngoài quân đội, năm nay tròn 70 tuổi. Với trí tuệ uyên thâm cùng với kinh nghiệm “bếp núc văn chương” đã giúp ông có cái nhìn toàn diện, đa chiều từ ngày ông biên tập chỉn chu các bản thảo gửi đến Tòa soạn, trước khi đưa in ra mắt bạn đọc, đó là những cơ sở quan trọng để sau này khi thẩm định một tác phẩm, bằng bài viết hoàn chỉnh, ông có cái nhìn biện chứng, chừng mực, khách quan - những nhân tố cần thiết đối với người viết lý luận, phê bình.

Sau tập tiểu luận phê bình “Bóng người trong bóng núi”, Lê Thành Nghị chọn 14 gương mặt - chân dung thơ độc đáo, gồm những nhà thơ tiêu biểu được rèn luyện, trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ở tập này, ông chú ý giới thiệu gương mặt những nhà thơ thời bình xuất hiện từ đầu thế kỉ 21 đến nay. Điều đó thể hiện rất rõ trách nhiệm của nhà thơ đi trước trong việc phát hiện và cổ vũ, động viên thế hệ đi sau, hầu hết chưa phải là nhà thơ chuyên nghiệp, nhưng trên hành trình thơ đầy hứa hẹn. Những tập thơ được giới thiệu trong tập sách này chưa phải là hoàn mĩ, nhưng đều đáng quý là, ông khám phá những “vỉa chìm góc khuất” của các tác giả thơ đáng để người đọc suy ngẫm; chất thơ được ông tinh lọc qua các dẫn chứng đầy thuyết phục. Trong bài Ngô Đức Hành, rễ tôi bám chặt rú Nghèn, nói về nỗi lòng sâu nặng với một trong những mảnh đất tiêu biểu của miền Trung chứa gió Lào quạt lửa, nhiều sỏi đá nằm dưới “những đồi sim không đủ quả nuôi người” (Chế Lan Viên), cũng là mảnh đất không xa lạ đối với những người lính từ nhiều vùng quê qua đây trước khi ra trận.

Tôi nể phục Lê Thành Nghị, bằng kinh nghiệm nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm đã chỉ ra một đặc điểm có tính phổ quát là, nhiều nhà thơ trong tập sách này dù đề cập những suy tưởng khác nhau về phận người, phận đời, nhưng đều nhắc về cha, mẹ với nhiều cung bậc da diết khác nhau, mà Ngô Đức Hành là ví dụ điển hình. Tôi say mê đọc những câu đầy sức gợi: Lưng cha lấm đất quanh năm/ Mẹ như dẻ lúa mà thành quê thôi/ Mùa đông buốt cả nụ cười/ Mùa hè phơi giọt mồ hôi trên đồng. Chính vì vậy, vùng đất nghiệt ngã này đã giữ chân Ngô Đức Hành, mà anh như một gốc cây vững chãi cắm rễ xuống đất Nghèn. Cho dù đi xa vẫn canh cánh nỗi nhớ quê hương: Mẹ là bóng dáng làng quê/ Khi con còn mẹ đường về ngắn thôi. Với Đoàn Văn Thanh, nỗi nhớ quê là sự thao thiết trong đêm: Làng xưa ngăn ngắt ao bèo/ Người đi hun hút trăng theo gió lùa. Trong cái tưởng như cô đơn ấy, càng trân quý tình cảm con người sưởi ấm cho nhau: Một đời trầu để nhớ cau/ Đời người sao chẳng thương nhau… một đời. Với Lê Cảnh Nhạc, là những vần thơ ca ngợi cái đẹp làm nên sắc thái mỗi vùng đất, con người trên dải đất hình chữ S nằm cạnh biển Đông. Đấy là Tuyên Quang: Người đẹp đồi chè ngắt đầy đọt nắng/ Làn da măng bóc ngực căng phồng. Đây là Đất mũi Cà Mau: Chiều hoa nắng buông ánh ngày cuối biển/ Ngàn vạn cánh cò xao động trắng hoàng hôn. Đây là miền Tây Bắc: Bồng bềnh tinh khôi như sương như mây/ Rưng rung xuân về hoa ban nở trắng…

Tình yêu con người, nhất là tình yêu lứa đôi đều được Lê Thành Nghị chỉ ra cái đa sắc, đa màu, như nữ nhà thơ Nguyễn Thành Tâm có nhiều câu thơ, bài thơ về hạnh phúc với những hình tượng đẹp làm xao xuyến người đọc: “Em là bản nhạc/ Vô tình chạm - nhưng chỉ anh dạo được/ Khúc tình ca ngủ suốt nghìn năm”. Bao thử thách trong hành trình để tìm đến với anh, em vẫn vượt lên, vẫn chưa bao giờ mất niềm tin và khát vọng đợi chờ: “Về đi anh, hồ vẫn đầy mà mắt em đã cạn/ Những vì sao ngày cũ lẻ loi buồn/ Trăng vẫn thắp niềm tin mây che khuất/ Đủ soi một góc đường - em đợi anh”. Với Trần Nam Phong, không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn mượn thiên nhiên để nói cái tâm thế nhớ thương đầy vơi: “Tôi sẽ nhận cùng em hoa cúc/ Nhớ thương nào ngắm lại những ngày ngâu/ Mưa ướt áo thu về một nửa/ Buổi chiều đi vời vợi cánh buồm nâu”. Dưới ngòi bút của người viết phê bình tinh tế, Lê Thành Nghị phát hiện cái mới, cái lạ khi viết về tình yêu của nữ nhà thơ Như Bình với nhiều cung bậc của tâm hồn, “cảm giác hạnh phúc đi liền với trầm cảm mong manh, kiếp phù du và định mệnh, sự đa đoan và nỗi cô đơn. Hạnh phúc là lĩnh vực có biên độ rộng, tuỳ thuộc vào quan niệm của từng người”. Theo trạng thái cụ thể của tâm hồn, Như Bình đã có ngày hạnh phúc: “Em về ngủ giữa sen trắng/ mộng bình yên một đóa thôi/ ru em miền hương thơm nắng/ ngắm em sáng mảnh gương trời”. Sự chờ đợi đi liền cô đơn thăm thẳm: “Anh ở đâu, người đàn ông của em/ Triệu triệu người trái đất vẫn cô đơn. Nhưng chị vẫn nuôi ước mơ: “Cho em một ngày/ rũ bỏ hết những vô nghĩa/ rũ bỏ em” để đến với tình yêu đích thực. Có lẽ vì trân trọng “cái ảo - thực, cái thổn thức, cái ảo vọng và hy vọng, cái mong manh và cái tự tin” trong thơ Như Bình, trong đoạn kết giới thiệu tác giả thơ, Lê Thành Nghị đã trích dẫn một câu thơ “gói ghém một lời nhắn gửi đến bạn đọc yêu thơ”:

“Xin người đừng đụng vỡ

hạt sương trên cỏ mai”.

Còn nhiều khía cạnh khác về cuộc đời, về số phận con người, về nhân tình thế thái... mà các tác giả thơ trong tập sách của Lê Thành Nghị đã đề cập, nhưng xin nhường cho bài viết khác.

 

Chặng đường 40 năm với nhịp đi vững chãi cả ở mảng sáng tác và lý luận, phê bình, Lê Thành Nghị đã gặt hái nhiều thành công, mà “Hai bờ sông văn” là một mùa gặt mới, chắc chắn được đông đảo bạn đọc ghi nhận và dõi theo. Chúc “sóng thơ” của ông luôn dào dạt giữa hai bờ cỏ mượt!

Tháng 8/2026

N.H.V

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong văn của tôi ít được hư cấu vì tôi không có tài hư cấu. Vì thế đọc lên là biết ngay đó là ai. Hơn nữa tôi cũng hay để tên nhân vật là tên nguyên mẫu...(NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)