Cha tôi - người lính thông tin

Thứ Hai, 09/02/2026 06:49

Mùa thu. Từng sợi nắng vàng vương hồng trên mái bếp. Ngoài vườn những bông hoa bìm bìm rung rinh theo làn gió, cạnh bờ giậu lích chích tiếng chim sâu bên những vạt sương còn vương trên lá cỏ. Căn nhà bình yên đến kì lạ trong nắng tinh khôi. Mẹ cắt một đóa hoa đem vào cắm trên chiếc bình gốm Chu Đậu rồi sai đứa cháu ra trước hiên nhà hái giúp bà mấy lá trầu. Mẹ ngồi têm trầu bên cánh phản bằng gỗ mun, mùi thơm của lá trầu quế lẫn vào mùi vỏ của cây chay làm cay cay khóe mắt. Mẹ bảo, cách đây hơn sáu mươi năm là ngày cha lên đường nhập ngũ. Thời gian trôi nhanh quá, chẳng mấy mà hết đời người.

Cha ngồi sưởi nắng trước hàng cau, bóng cha đổ dài trên sân gạch, mái tóc đã bạc trắng theo năm tháng, đôi bàn tay đầy vết đồi mồi loang từng đốm nhỏ. Cách đây vài năm, nhìn đôi bàn tay gầy guộc của cha lần giở những kỉ vật chiến trường còn sót lại sau ngày giải phóng miền Nam như những báu vật, lòng tôi chợt rưng rưng thổn thức. Cha lấy từ vỏ hòm đạn cá nhân ra một chiếc võng dù, chiếc ống nhòm cũ kĩ, một đôi quân hàm đã bạc phếch màu thời gian, một cuốn sổ ghi chép trong chiến trường, chiếc bi đông đựng nước bằng nhôm, bức ảnh đen trắng chụp cùng đồng đội đã ố vàng, bong tróc và đặc biệt một con chim chích bông nhỏ được khâu từ mảnh vụn chiếc tăng và nhồi bông rất khéo để tặng chị gái tôi trong những ngày cha nằm dưỡng thương trong trạm phẫu. Đó là tất cả những kỉ vật của cha tôi sau ngày chiến thắng. Những đồng đội của cha trong bức ảnh bây giờ người còn, người mất, có những người đã ngã xuống trong cuộc chiến và mãi mãi nằm trong lòng đất mẹ, những người đã hi sinh xương máu và một phần cơ thể cho ngày thống nhất đất nước. Đó là những ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt trong lòng người chiến sĩ như cha tôi và những người may mắn được trở về.

Tháng 2 năm 1964 cha tôi nhập ngũ vào Tiểu đoàn C31 - D16 - S320 đóng quân tại thị trấn Chi Lê tỉnh Hòa Bình (cũ) nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Cha bảo, vẫn còn nhớ mùa thu năm 1964. Mùa thu năm ấy, đất rừng khô rang, sỏi đá mấp mô dưới gót giày vải. Những tân binh trẻ trong mùa diễn tập đầu tiên, vai chưa từng đeo balo nặng cùng nhau lên đường mang theo lí tưởng cách mạng và trái tim bừng cháy ngọn lửa yêu nước. Họ khênh vác, luyện tập, cơ động liên miên qua những vùng núi non trùng điệp. Mảnh đất Chi Lê luôn có những cơn mưa rừng bất chợt, nắng cháy da, mưa thối đất, những người lính phải bò qua Dốc Cun, một con dốc khá nguy hiểm với nhiều khúc cua, vách núi và vực sâu. Dốc Cun - Hòa Bình nối với các huyện Kim Bôi, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu là tuyến đường huyết mạch, điểm nóng trong thời kì chiến tranh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ cứu nước.

Sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, năm 1966 cha tôi được điều động về đơn vị huấn luyện thông tin C7 - D16 - Quân khu 3. Là một người lính thông tin, nối liền mạch chiến trường bằng dây điện thoại, bằng tín hiệu điện đài giữa bom đạn ngút ngàn, cha tôi và đồng đội nhiều đêm phải ngủ trong rừng lạnh dưới tấm tăng rách. Bò dưới họng súng của địch để nối dây thông tin bị đứt, bàn tay rớm máu qua những hàng rào dây thép gai. Những người lính thông tin chiến trường luôn phải bảo đảm liên lạc giữa các đơn vị qua các máy rung. Đôi khi chỉ kịp nghe tiếng “Đã đến chốt an toàn”, “Đề nghị anh em thực hiện ngay nhiệm vụ trong đêm”, “Nghe rõ”, “Hết” qua máy điện thoại, nhưng đó là sự sống còn trong từng trận đánh. Nhiều lần cha tôi đã tưởng không thể trở về, vì lạc rừng, sốt rét…

Cuộc chiến chống Mĩ cứu nước lúc bấy giờ vô cùng khốc liệt. Trên lưng mỗi người lính ngoài khí tài là các phương tiện kĩ thuật nhằm bảo đảm kịp thời thông tin liên lạc, điện đàm với bộ đội công binh, pháo binh và pháo phòng không. Nhiều lần nghe cha kể về những năm tháng vượt núi cao, rừng rậm, suối sâu để chuyển và nhận những bức điện từ sở chỉ huy, đặt mạng lưới thông tin liên lạc sao cho vừa đảm bảo bí mật vừa thông suốt vô cùng khó khăn, gian khổ. Cha nói, chỉ có những người lính vào sinh ra tử mới hiểu thấu cái giá của hòa bình và chỉ những người lính trong cuộc chiến mới mong mỏi hòa bình hơn bất cứ ai, bởi họ là những người trực tiếp cầm súng chiến đấu. Đồng đội của cha nhiều người đã hi sinh anh dũng trong chiến trường Đường 9 - Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, Cồn Cỏ, Gio Linh, Triệu Phong những năm 1968 - 1972. Những loạt bom bất ngờ, những trận sốt rừng dai dẳng đã cướp đi nhiều chiến sĩ trẻ. Tất cả được cha ghi chép lại trong cuốn sổ tay mà cha gọi là Nhật kí thông tin chiến trường 1966 - 1973.

Chiến tranh qua đi, hòa bình được lập lại, cuốn nhật kí chiến trường và những lá thư cha tôi viết vẫn được mẹ gói ghém thật kĩ càng bằng những lớp ni lông và để trong vỏ chiếc hòm đạn Liên Xô cũ cha mang về như một kỉ vật còn sót lại của người lính thông tin. Chiếc hòm gỗ hình chữ nhật để trên gác xép, năm 2007 thì bị mối mọt gặm nhấm một phần bộ quân phục, chiếc võng dù và cả những lá thư. Cha bần thần mất mấy ngày, riêng tôi vẫn nhớ những lá thư đã úa vàng, có những lá thư đã nhạt nhòa nét mực, có những con tem đã bạc phếch màu thời gian. Còn sót lại một vài lá thư cha viết “Binh trạm thông tin 1971. Mai em! Anh đang cùng đồng đội hành quân… Chiến tranh đang bước vào thời kì ác liệt nhất, nhưng anh tin một ngày gần đây chiến tranh sẽ kết thúc, anh và đồng đội sẽ trở về…”; hoặc “Ninh Bình mùa khô năm 1969. Đêm qua mưa rừng, sốt cả đêm lúc nóng, lúc lạnh. Không biết ba hôm nữa có khỏi không? 28 tháng 11 này cả đơn vị phải di chuyển đến địa bàn mới. Hôm qua anh Việt tiểu đoàn trưởng quê Tuy Lai đã thông tin cho mình. Tất cả phải sẵn sàng, mình cũng đã quyết định rồi, dù khó khăn bom rơi, đường lấp, pháo nổ mình vẫn cứ đi”; “Thứ sáu 17-2-70. Đơn vị đã hết gạo và sắn. Còn một ít lương khô dự phòng cho anh em thương binh trạm phẫu. Mọi người phải ăn độn xu hào xin trong làng”…

Chiến tranh là đau thương mất mát, có thể hủy diệt cuộc sống, nhưng rõ ràng không thể hủy diệt được ý chí con người và những lá thư. Đâu đó, trong những bảo tàng quân sự vẫn còn những lá thư úa vàng, cháy dở, những lá thư được viết trên trang sổ tay xé vội, trên vỏ bao thuốc lá Trường Sơn, những lá thư làm an lòng những người vợ, người mẹ ở hậu phương.

Cha tôi và những người lính thông tin vẫn tươi nguyên màu kí ức và lòng tự hào về sắc lính của mình. Những người lính trở về, không chỉ kể lại lịch sử, mà còn truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ như chúng tôi về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và khát vọng đổi mới, xây dựng quê hương, đất nước.

ĐINH TIẾN HẢI

VNQD
Thống kê