. TÔN PHƯƠNG LAN
Trong làng văn, người làm thơ viết lí luận phê bình thì có nhiều, như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi, Vũ Quần Phương, Vân Long, Trần Đăng Khoa…Nhưng người viết lí luận phê bình mà làm thơ thì không có nhiều. Có thể nhắc đến Giáo sư Hà Minh Đức, cây bút phê bình gạo cội đột ngột xuất hiện giữa làng thơ vào thập niên cuối cùng của thế kỷ trước khi đã ngoài sáu mươi tuổi và trong hơn chục năm, ông ra bảy tập thơ liền. Có thể kể đến Giáo sư- nhà thơ xứ Thanh Mã Giang Lân từ thời Trụ cầu Hàm rồng (Giải thưởng thơ báo Văn nghệ 1969-1970) tới nay vẫn vừa làm thơ vừa viết lí luận phê bình dầu công việc chính của ông là giảng dạy…Không nhiều nữa. Và Lê Thành Nghị. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp năm 1970, về Viện Văn học được hơn một năm thì nhập ngũ. Bấy giờ cả nước đang dốc sức dốc lòng cho chiến trường miền Nam. Nhưng, như một cơ duyên, hơn một năm sau, từ một đơn vị chiến đấu, anh được Tổng cục Chính trị nhận về tạp chí Văn nghệ Quân đội. Vẫn là chiến sĩ tiếp tục theo chân các đơn vị ra mặt trận, nhưng vũ khí của Lê Thành Nghị lúc này là cây bút. Hết chiến tranh, anh được chọn đi thi nghiên cứu sinh. Sau khi bảo vệ luận án Phó tiến sĩ ở Đại học Lomonosov (Liên Xô) năm 1981, anh trở lại cơ quan Văn nghệ Quân đội làm việc. Cho đến trước khi nghỉ hưu, anh từng làm biên tập viên, Trưởng ban và Phó Tổng biên tập. Hiện anh đang là Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình hội Nhà văn.

Những ai từng gặp gỡ và tiếp xúc với Lê Thành Nghị đều cảm nhận rằng anh là người chừng mực. Biết anh làm thơ từ ngày còn học phổ thông, nhưng chúng tôi vẫn coi anh là người lí luận phê bình vì anh được đào tạo để làm cán bộ nghiên cứu, vì công việc mà anh phải đảm đương ở Tòa soạn là lí luận phê bình, vì nhà số 4 Lý Nam Đế là nơi có nhiều nhà thơ hội viên thành danh đã và đang làm việc hàng ngày. Thế mạnh ở đây “thuộc về” dân sáng tác.. Nhưng có lẽ coi anh là nhà “gì” đối với Lê thành Nghị là việc không hề quan trọng miễn là được làm việc và làm công việc mà mình yêu thích. Làm thơ, với anh, là năng khiếu bẩm sinh, là một đam mê nên thỉnh thoảng lại thấy thơ anh xuất hiện trên mặt báo. Rừng tràm cuối mùa đông là tập sách đầu tay, cũng là tập thơ đầu, như một tấm giấy thông hành để anh bước chân vào làng văn. Tuy nhiên những bài thơ về cuộc sống chiến đấu, những tâm tư của một người lính trẻ vừa rời ghế nhà trường chưa thể hiện thật rõ bản sắc. Cho nên dân Văn nghệ Quân đội dạo ấy vẫn coi anh là nhà lí luận phê bình hơn là nhà thơ, nhất là sau khi tập tiểu luận phê bình Văn học, sáng tạo và tiếp nhận của anh được Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 1997. Chỉ đến khi Mưa trong thành phố (1999, tái bản có bổ sung 2003) và Mùa không gió (2002) ra đời trong vòng dăm năm - những năm cuối thế kỷ trước và đầu thế kỷ mới - đã cho thấy một bút lực thơ Lê Thành Nghị đang có những bứt phá, bước vào thời kì sung mãn, và có một nhà thơ Lê Thành Nghị mặc nhiên hiện diện trên văn đàn. Giải thưởng Hội Nhà văn về thơ năm 2000 và 2003 là một vinh danh, đương nhiên. Nhưng cái quan trọng là từ những sáng tác đó anh đã ghi dấu ấn của mình vào lòng bạn đọc quan tâm đến thơ bằng sự tìm tòi hướng đi riêng cho thơ bên một cây bút lí luận phê bình vốn đã quen thuộc trong làng văn. Vừa làm thơ vừa viết lí luận phê bình, hai công việc cùng đồng hành, cộng hưởng với nhau, theo thời gian như càng kê nhau cao lên và tạo cho văn nghiệp Lê Thành Nghị những đặc sắc riêng trong hành trình mà không phải ai cũng có. Anh đã được nhận Giải thưởng Nhà nước đợt 3 năm 2012.
Điều tôi muốn nói trước tiên là chất văn trong nhiều tiểu luận phê bình của Lê Thành Nghị. Cảm giác rõ là anh không vội vàng khi, dẫu đã có ý rồi, vẫn trở trăn để gửi hồn mình vào những dòng văn viết về đồng nghiệp. Cho nên trong Còn lại sau ngôn từ - tập phê bình tiểu luận gần đây nhất của anh - chất hàn lâm gần như rất ít dầu những bài viết này, mỗi bài tiếp nhận đề tài từ những cách khác nhau, vẫn sâu sắc và tinh tế. Và có thể nói, so với hai tập tiểu luận trước đó - Văn học, sáng tạo và tiếp nhận, Trước đèn… thơ - biên độ mở rộng hơn, vang hơn và sâu hơn cả về hiện thực và tư tưởng nghệ thuật. Phải chăng là chính tố chất của một người làm thơ đã khiến cho văn phong khoa học của anh có được vẻ mượt mà, lập ý rõ ràng mà không bị khô khan, duy lý. Anh biết tận dụng lợi thế của một người được sống gần gũi với giới sáng tác, được đi nhiều, kể cả trong chiến tranh và sau chiến tranh, cả trong nước và ngoài nước. Lê Thành Nghị viết về một tác giả nào thường anh kết hợp giữa văn và đời, giữa cái nét đời thường và cốt cách văn chương hiện trong văn thơ người ấy, như viết về Xuân Thiều, Dũng Hà, Nguyễn Khải, Hồ Phương... Và quan trọng hơn là anh viết về họ với sự trân trọng, như viết về các nhà thơ nhà văn nữ.... Có thể tìm thấy không mấy khó khăn đặc tính này trong những bài viết về các đồng nghiệp mặc áo lính nhiều hơn số mà tôi vừa kể trên (Những người làm ta thêm tin yêu con người, Có một cỗ xe tứ mã, Đã lặn một ngôi sao mai, Một mùa hè giá buốt của chiến tranh, Trở lại bến đò xưa lặng lẽ, Từ truyện ngắn của một cây bút trẻ) về thầy giáo và bạn văn thời đại học (Thơ như là thêm cánh bay, Nhưng có lẽ với anh ngày đã muộn), hoặc về một số nhà thơ đã mất…Tôi thích một sự phải chăng trong đánh giá một số vấn đề đang đặt ra trong đời sống văn học hiện nay trong các bài viết về thơ, tiểu thuyết, phê bình. Đương nhiên, có thể còn đôi điểm với một số người nào khác sẽ cần phải trao đổi thêm, nhưng việc đưa ra chủ kiến trong tầm kiến văn mình có là điều cần thiết. Và người chưa hẳn đồng tình cũng khó để bác bỏ những nhận xét của anh với cái lý cái tình chắc chắn mà không phô trương, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Cái nhìn của anh khi thì mang tính khái quát, khi thì cụ thể cho thấy ở anh khả năng vươn rộng, đào sâu của một ngòi bút đa năng.
Trở lại với thơ Lê Thành Nghị. Cũng có thể nói chính tri thức của một người được đào tạo bài bản vào thời kì mà sự học đang được mỗi người ý thức một cách nghiêm túc, đã chắp cánh cho anh trong khả năng kiếm tìm cho thơ một hướng đi, thể hiện qua cái tôi trữ tình của một người làm thơ đang dần chuyên nghiệp. Như chúng ta đã biết, Giải thưởng Nhà nước mà anh được nhận là trao cho hai tập thơ. Đó là một khẳng định về những đóng góp của anh cho thể loại này. Nhưng điều đó cũng hàm nghĩa đặt lên vai anh một trách nhiệm.
Khoảng giữa những giọt sương - tập thơ mới nhất của Lê Thành Nghị - ra đời khi anh sắp bước vào tuổi bảy mươi là những chiêm nghiệm của anh về thể thái nhân tình, về lẽ đời, về con người và cuộc sống sau ngót chục năm giã từ công việc bận rộn ở Tòa soạn nhưng cũng lại khá “tíu tít” với công việc với tư cách Trưởng Ban Lý luận phê bình của hội Nhà văn. Có một người bạn vong niên tâm sự cùng tôi: nhiều khi quên mình đã cao niên; nên vẫn làm việc như lúc còn trẻ; nên tâm hồn vẫn non xanh trước sự vật, con người… Lê Thành Nghị mở đầu tập thơ bằng bài Cây trong vườn tháng ba, có lẽ có cùng tâm sự ấy: Không có nhiều như thế - những chiều xanh / Nắng và gió, cây và người quên tuổi / Người bắt chước lá non khi gió thổi / Cây run như trước cuộc hẹn hò.
Lê Thành Nghị từng than: Thơ tôi ít người biết / Có lẽ không phải vì quá kém/ Lỗi tại tôi không biết PR. “Hữu xạ tự nhiên hương”. Tôi thích lối thơ cách tân trên nền truyền thống, những triết lý sâu mà nhẹ, thích lối viết không nặng tính hàn lâm mà cũng không nghiêng quá về bình. Có thể tôi bắt gặp điều đó trong những trang viết của Lê Thành Nghị. Đương nhiên, không thể nói là những trang viết của anh không còn tì vết. Nhưng, điều đó, xin để vào một dịp khác có điều kiện để tìm hiểu kỹ hơn con đường sáng tạo của hai nhà (nhà thơ – nhà lí luận phê bình) trong một này.
Quan Nhân 2016 - 2018.
T.P.L
VNQD