Tạp chí văn nghệ quân đội

http://vannghequandoi.vn


Thập kỷ bỏ đi

Đó là một người đàn ông cao, xanh xao cỡ khoảng ngoài bốn mươi tuổi với mái tóc vàng hoe đẹp như tượng và có tính cách chẳng ra e dè cũng chẳng phải nhút nhát, mà phải nói là tổng hòa của cả hai dạng tính cách đó (Truyện ngắn của Scott Fitzgerald - Mỹ)
Thập kỷ bỏ đi
Truyện ngắn của SCOTT FITZGERALD (Mỹ)

Bước chân vào văn phòng của tờ tuần báo có đủ mọi dạng người và Orrison Brown cũng có đủ mọi mối quan hệ với họ. Ngoài giờ làm việc, anh là “một trong những biên tập viên” ở đây, còn trong giờ làm việc thì anh đơn giản chỉ là một người đàn ông tóc xoăn mà một năm trước đây từng là biên tập viên Tạp chí cười Dartmouth Jack-O-Lantern. Giờ thì Orrison hết mực vui lòng nhận những công việc chẳng mấy ai thích quanh văn phòng như vuốt cho phẳng bản in khó đọc cho tới những việc sai vặt không tên.

Có vị khách bước vào phòng làm việc của tổng biên tập. Đó là một người đàn ông cao, xanh xao cỡ khoảng ngoài bốn mươi tuổi với mái tóc vàng hoe đẹp như tượng và có tính cách chẳng ra e dè cũng chẳng phải nhút nhát, mà phải nói là tổng hòa của cả hai dạng tính cách đó. Trên danh thiếp của người đàn ông ghi Louis Trimble, gợi nên một ký ức mơ hồ, nhưng không biết bắt đầu từ đâu, với Orrison. Thực ra, Orrison cũng chẳng phải bận tâm về điều đó cho tới khi có tiếng chuông vang lên trên bàn làm việc và kinh nghiệm cảnh báo với Orrison rằng ông Trimble sẽ là món đầu tiên trong bữa trưa hôm nay của anh.

“Người nắm giữ mọi bữa trưa” của Orrison bước vào: “Xin giới thiệu với ông Trimble, đây là Orrison Brown. Orrison này, ông Trimble đã đi vắng một thời gian khá dài. Hay cũng có thể nói là ông ấy cảm thấy rằng mình đã đi vắng một thời gian khá dài – gần 12 năm. Nhiều người có thể sẽ cho rằng họ rất may mắn khi không phải chứng kiến những gì xảy ra trong vòng một thập kỷ vừa qua”.

Orrison đáp: “Vâng, đúng vậy”.

Sếp của Orrison nói tiếp: “Hôm nay tôi không thể đi ăn trưa cùng nên nhờ anh đưa ông Trimble tới đường Voisin hay Khu phố 21 hay bất cứ nơi nào ông ta muốn. Ông Trimble sẽ thấy có rất nhiều điều ông ấy muốn xem đấy”.

Ông Trimble ngần ngại một cách lịch thiệp: “Ồ, tôi có thể tự mình đi loanh quanh đây được”.

Sếp Orrison nói: “Tôi biết, tôi biết. Không ai hiểu rõ nơi này hơn cái cách anh đã từng hiểu nó, và nếu Orrison có tìm cách lý giải cho anh về những toa xe không ngựa kéo thì cứ đuổi cậu ấy về đây với tôi. Anh về đây vào lúc 4 giờ chiều được chứ?”

Orrison với tay lấy mũ. Khi xuống thang cuốn, anh hỏi: “Ông đã đi vắng mười năm nay thật sao?”

Ông Trimble bảo: “Họ đã bắt đầu xây tòa nhà Empire State (Tên gọi khác của thành phố New York). Việc này có ý nghĩa gì?”

Orrison thăm dò: “Vào khoảng năm 1928. Nhưng như sếp tôi nói, ông đã may mắn khi không phải chứng kiến rất nhiều điều. Có lẽ sẽ có nhiều điều thú vị để xem”.

Ông Trimble đáp: “Không thể nói là tôi đã may mắn được”.

 
image1
Minh họa của PHẠM HÀ HẢI

Hai người xuống tới đường và cái cách ông Trimble nhăn mặt trước những âm thanh huyên náo của các phương tiện giao thông khiến Orrison phải tiếp tục phỏng đoán: “Phải chăng đã có thời gian ông phải cách ly khỏi cộng đồng?”

Ông Trimble trả lời: “Hiểu theo một cách nào đó thì có thể là vậy”.

Cách ông Trimble trả lời một cách thận trọng khiến Orrison đi tới kết luận rằng vị khách này sẽ không nói gì trừ khi ông ta muốn, đồng thời anh cũng băn khoăn không hiểu có phải ông ta đã dành cả thập kỷ 30 (1930s) trong tù hay nhà thương điên hay không.

Anh nói: “Đây là Khu phố 21 nổi tiếng. Ông có nghĩ chúng ta nên ăn ở nơi nào khác không?”

Ông Trimble dừng lại, cẩn thận nhìn tòa nhà bằng đá cát kết nâu: “Tôi vẫn nhớ thời điểm khi con phố 21 trở nên nổi tiếng, quãng chừng cũng bằng thời gian với sự nổi tiếng của nhân vật phản diện Giáo sư Moriarity (nhân vật trong một số truyện trong tiểu thuyết trinh thám Sherlock Holmes của nhà văn Scotland Arthur Conan Doyle). Tôi nghĩ chúng ta có thể đi bộ tới Đại lộ số 5 cách đây khoảng 5 phút và ăn ở bất cứ chỗ nào chúng ta gặp, nơi chúng ta có thể ngắm những con người trẻ trung”.

Orrison liếc nhìn ông Trimble, lại nghĩ tới những thanh chấn song cùng những bức tường xà lim xám xịt. Anh băn khoăn không hiểu mình có phải giới thiệu cho ông Trimble vài cô gái dễ tính hay không. Nhưng ông Trimble không có vẻ gì là có ý nghĩ đó trong đầu. Biểu hiện dễ thấy nhất vẫn là một sự tò mò tột bậc nhưng thầm kín và Orrison đang cố liên hệ ông ta với nơi ẩn náu của Đô đốc Byrd ở Nam cực hay những phi công lạc lối trong những cánh rừng nhiệt đới ở Brazil. Có một điều rõ ràng là ông Trimble là, hoặc đã từng là, một tay có tiếng. Nhưng manh mối duy nhất cho thấy hoàn cảnh sống của ông Trimble - với Orrison thì manh mối đó chẳng dẫn đến đâu - là việc ông ta rất tuân thủ tín hiệu đèn giao thông và luôn đi bộ sát về phía các cửa hàng chứ không phải phía ngoài đường.

Ông Trimble dừng lại, chăm chú nhìn qua cửa sổ một cửa hàng may đồ nam, bảo: “Nơ bướm, lâu lắm rồi tôi không nhìn thấy nó, kể từ khi tôi rời đại học đến giờ”.

“Ông học ở đâu?’

“Viện Công nghệ Massachussetts”.

“Một trường đại học rất tuyệt”.

“Tuần tới tôi sẽ quay lại thăm nơi đó. Chúng ta tìm quán ăn nào quanh đây thôi. Anh chọn đi”.

Ngay gần góc phố là một quán ăn có mái hiên nhỏ.

Orrison hỏi khi hai người đã ngồi vào bàn: “Ông thường muốn nhìn vào đâu nhất?”

Trimble ngẫm nghĩ.

Orrison gợi ý: “Có thể là… phía sau gáy, hay cổ chẳng hạn – xem cái cách đầu người ta được gắn vào thân ra sao. Tôi thì muốn nghe hai bé gái kia nói gì với bố mình. Không hẳn chính xác là những gì chúng nói mà liệu rằng từ ngữ có được phát âm một cách rõ ràng hay không, hay là rất nhỏ… hay nhịp điệu, giai điệu trong khi nói chẳng hạn. Nhạc sĩ Cole Porter từng trở lại Mỹ vào năm 1928 bởi ông cảm thấy có nhiều giai điệu mới ở đó”.

Giờ thì Orrison dám chắc mình đã có manh mối và chút tế nhị để anh chẳng cần phải quá lưu tâm tới vấn đề đó. Anh thậm chí còn dằn lòng không nói rằng tối nay sẽ có một buổi hòa nhạc tại Tòa nhà Carnegie.

Ông Trimle bảo: “Sức nặng của những chiếc thìa... Chúng rất nhẹ. Một chiếc bát nhỏ với một chiếc que… Con mắt hiếng của người bồi bàn. Tôi từng biết anh ta nhưng giờ thì anh ta chắc sẽ không nhận ra tôi đâu”.

Thế nhưng khi họ rời khỏi nhà hàng, vẫn người bồi bàn đó nhìn ông Trimble bối rối vẻ như anh ta sắp nhận ra người quen. Ra khỏi nhà hàng, Orrison cười phá lên: “Sau mười năm thì mọi người sẽ quên thôi”.

Ông Trimble bảo: “Ồ, tháng Năm vừa rồi tôi có ăn tối ở đây…”

Nói đến đó ông Trimble đột nhiên nín bặt. Thật là điên rồ! Orrison quyết định trở thành một hướng dẫn viên, chỉ tay hăng hái: “Từ đây ông có thể nhìn thẳng là thấy Trung tâm Rockefeller, Tòa nhà Chrysler và Tòa nhà Armidstead, mới nhất trong các tòa nhà ở đây”.

Ông Trimble ngoan ngoãn nhìn theo, bảo: “Tòa nhà Armistead. Ừ, đúng. Tôi thiết kế nó đấy”.

Orrison lắc đầu vui vẻ. Anh đã quen đi cùng với đủ loại người khác nhau, nhưng với một người thế này thì…

Anh dừng lại bên chiếc bảng đồng trên cột đá của tòa nhà có ghi dòng chữ: “Khánh thành năm 1928”.

Ông Trimble gật đầu: “Nhưng cũng năm đó tôi say rượu – say suốt ấy mà. Vì thế tôi chưa bao giờ nhìn thấy tấm bảng này được dựng lên cả”.

Orrison kinh ngạc, ngần ngại bảo: “Ồ, vậy ông có muốn vào trong xem một chút không?”

“Tôi đã từng bước vào đó rất nhiều lần rồi. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó – tấm bảng này. Còn giờ nó lại không phải là thứ tôi muốn thấy. Tôi không thể vào xem lúc này được. Tôi chỉ muốn nhìn thấy mọi người qua lại, muốn thấy quần áo, giày ủng, và mũ mão của họ được làm nên từ những vật liệu gì. Cả bàn tay và đôi mắt của họ nữa. Anh có thể bắt tay tôi một cái được không?”

“Ồ được thôi”.

“Rất cảm ơn anh. Tôi nghĩ điều này có vẻ kỳ cục, nhưng mọi người sẽ nghĩ rằng chúng ta đang chuẩn bị chia tay. Tôi sẽ đi về đại lộ phía trên kia một chút, vì thế chúng sẽ tạm biệt ở đây. Bảo với sếp anh là tôi sẽ có mặt vào lúc bốn giờ”.

Orrison nhìn theo vị khách, nửa ngờ rằng ông ta sẽ rẽ vào quán rượu, nhưng chẳng có điều gì về vị khách này gợi tới điều đó cả.

Orrison thốt lên đầy cảm thán: “Chúa ơi, ‘say sưa’ suốt một thập kỷ!”.

Anh đột nhiên sờ lên lớp vải áo khoác của mình và đưa ngón tay cái ấn mạnh vào lớp đá granit của tòa nhà kế bên.

HỮU DƯƠNG (dịch)