Tạp chí văn nghệ quân đội

http://vannghequandoi.vn


Làm nghệ thuật là một lối sống, chứ không đơn thuần là nghề hay nghiệp

Ông đi nhiều, dấn nhập nhiều, hành động nhiều, ở hải ngoại cũng lâu, nhưng có vẻ như trước sau ông vẫn là một con người hướng nội, trú ẩn vào thiên nhiên để dò sâu vào bản ngã, vẫn là một chủ thể duy cảm duy mĩ, không thể nào khác được.
Dịch giả, hoạ sĩ Trịnh Lữ (chân dung tự hoạ)
tro chuyen dau thang 5
Hoàng Đăng Khoa
Dịch giả, hoạ sĩ Trịnh Lữ
 
Dịch giả, hoạ sĩ Trịnh Lữ (chân dung tự hoạ)
Trịnh Lữ (chân dung tự họa)
Ông đi nhiều, dấn nhập nhiều, hành động nhiều, ở hải ngoại cũng lâu, nhưng có vẻ như trước sau ông vẫn là một con người hướng nội, trú ẩn vào thiên nhiên để dò sâu vào bản ngã, vẫn là một chủ thể duy cảm duy mĩ, không thể nào khác được. Tranh của ông, văn dịch và văn sáng tác của ông, cả cuộc đời của ông nữa, cứ đầy lên chất thơ, chất nhạc, đầy lên vẻ đẹp của nỗi buồn. Câu chuyện đời chuyện nghề thú vị mà ông chia sẻ với VNQĐ dưới đây củng cố trong mỗi chúng ta xác tín về tính bí ẩn quyến rũ của duyên phận, và của nghệ thuật.
  • - Sinh ra trong một gia đình có nhiều người làm hội hoạ, bản thân lại tốt nghiệp Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, sau này lại tốt nghiệp chuyên ngành truyền thông tại Mĩ, vậy ông đã khơi dòng riêng dịch thuật giữa nguồn chung gia đình làm nghệ thuật như thế nào?
  • + Chỉ là do hoàn cảnh đưa đẩy thôi, không phải tự tôi chủ động “khơi” được những việc mình đã làm. Chắc là việc chọn mình, chứ mình chỉ chọn được những giấc mơ riêng mà thôi.

  • - Ông có thể nói thêm đôi chút về câu chuyện “việc chọn mình” được không?
    + Cũng chả có gì lạ. Tôi nghĩ chắc ai cũng vậy cả.
    Bố mẹ tôi đều là họa sĩ, nuôi dạy chúng tôi bằng nghề, nên anh chị em chúng tôi đều biết vẽ và thích vẽ. Bố tôi (họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc - PV) thường bảo, “Con nhà thuyền chài thì biết bơi”. Chuyện ấy giản dị rồi.
    Học Mỏ - Địa chất thì là bất ngờ. Năm 1965, học sinh phổ thông không thi vào đại học, chỉ được phép đề đạt nguyện vọng, sau đó ban tuyển sinh sẽ phân công đi học theo quy hoạch đào tạo của Nhà nước, dựa vào lí lịch gia đình và điểm số tốt nghiệp phổ thông. Nguyện vọng thứ nhất của tôi là học Mĩ thuật Công nghiệp, khoa Trang trí Nội thất, nơi bố tôi đang làm trưởng khoa. Nguyện vọng thứ hai là vào Đại học Kiến trúc. Nhưng rồi tôi lại được phân đi học chương trình “Mười cộng Một” của Ti Giáo dục Hà Nội (nay là Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội - PV). Tôi chả có ước mơ làm giáo viên cấp một, nên từ chối quyết định ấy. Đến lúc một người bạn của bố tôi biết chuyện, mới giải tỏa vấn đề lí lịch gia đình để tôi có thể vào đại học, thì lúc ấy chỉ có khoa Mỏ Đại học Bách khoa (năm 1967, khoa này tách ra thành trường Đại học Mỏ - Địa chất - PV) là còn nhận sinh viên, bộ môn Xây dựng Mỏ. Vậy là tôi học Xây dựng Mỏ, tự an ủi cũng có dính tí chút đến “kiến trúc”, và còn may mắn hơn nhiều bạn không được lên đại học vì vấn đề lí lịch, mặc dù giỏi giang hơn mình nhiều.

    - Dạo ấy vấn đề lí lịch chắc nặng nề lắm?
    + Vâng, lí lịch gia đình tôi lúc ấy là “tiểu tư sản văn nghệ sĩ” - nên đáng ngại gấp đôi (cười). Vừa là giai cấp đối kháng, vừa là thành phần có tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, hay dao động, không có lập trường kiên định - theo định nghĩa thời bấy giờ.

    - Như vậy, rốt cục nghề xây dựng mỏ cũng đã không chọn ông. Vậy nghề phát thanh đã chọn ông như thế nào?
    + Tôi có 16 năm làm phát thanh viên tại Đài Tiếng nói Việt Nam, là một quãng đời khá dài, và hoàn toàn ngoài dự định.
    Năm 1970, tôi học xong Đại học Mỏ - Địa chất, nhưng vì chưa phải là đoàn viên Đoàn Thanh niên nên tôi không được cấp bằng tốt nghiệp. Vì chuyện ấy, tôi cũng từ chối quyết định của Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo - PV) phân tôi về công tác tại mỏ Cẩm Phả, và nhận án kỉ luật của Bộ. Trong thời gian sinh viên, tôi có vài sáng kiến kĩ thuật giúp nâng cao năng suất khai thác mỏ bằng hầm lò, và giúp dịch tài liệu kĩ thuật cho Vụ Kĩ thuật Bộ Điện và Than (nay là Bộ Công Thương - PV), nên ông Trần Anh Vinh, Vụ trưởng lúc bấy giờ, lại đề nghị lấy tôi về Vụ để giúp xây dựng tạp chí chuyên ngành. Mặc dù chưa có quyết định của Vụ Tổ chức, ông Vinh đã đưa tôi đi công tác về các vùng mỏ cùng với ông, và tôi cũng đã phác thảo đề cương cho tạp chí. Khi ông Vinh đi công tác Liên Xô về thì mất chức, nghe nói là vì “tư tưởng xét lại”, và tôi cũng mất hẳn cơ hội làm việc với ông.
    Thất nghiệp ngồi nhà, thì nghe tin Đài Tiếng nói Việt Nam tuyển phát thanh viên tiếng Anh cho chương trình đối ngoại và vận động lính Mĩ phản chiến. Tôi vào thử giọng đọc rồi dịch mấy tin tức và một bài xã luận từ tiếng Việt sang tiếng Anh, rồi trúng tuyển, mặc dù chỉ được là “cộng tác viên”, mỗi tháng nhận “thù lao” 30 đồng, chứ không phải biên chế chính thức. Đó là năm 1972.

    - Ông đã học tiếng Anh từ lúc nào và ở đâu để có thể trúng tuyển vào Đài một cách bất ngờ như vậy?
    + Tôi được vỡ lòng tiếng Anh từ lúc còn nhỏ. Nhưng đến khi là sinh viên mới tự học thêm, chỉ vì thích thôi, với hai cuốn từ điển Anh - Nga và Nga - Việt, và còn bị phê bình là “lén lút học tiếng của địch”. Năm 1971, tôi học được nhiều hơn vì chưa có việc làm, chỉ đi vẽ tranh cổ động kiếm tiền ăn mỗi tuần vài buổi, còn thì vào thư viện trung ương, nhờ thẻ của một người bạn giáo viên, cười tươi với chị thủ thư để mượn từ điển và sách để tự học. May mắn là có một bạn làm thợ hàn mà giỏi điện tử, giúp tôi phục hồi cái radio đã cũ nát của bố tôi hồi xưa, đèn công suất phải hàn treo lủng lẳng, mà bắt được cả đài Hoa Kì và BBC, nên các chương trình dạy tiếng Anh của họ giúp tôi học được phát âm và ngữ điệu khá chuẩn, nhất là đài Hoa Kì. Tôi thực sự thích tiếng Anh là nhờ giọng đọc của người dẫn chương trình Voice of America Jazz Hour. Cũng nhờ cái giọng Mĩ tôi bị nhiễm từ đài Hoa Kì mà khi thi tuyển vào Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi được nhận ngay lập tức, vì chương trình Mĩ vận bên quân đội đang rất cần một giọng nam có chất Mĩ.

    - Làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam những 16 năm, chuyện gì đã khiến ông thôi nghề phát thanh tiếng Anh để đi học truyền thông tận bên Mĩ?
    + Vâng, sống không được lựa chọn theo ước mơ, mà chỉ độc một lựa chọn theo bản tính của mình trong mọi tình huống, thì chắc ai cũng qua những bất ngờ như vậy cả. Tôi làm ở Đài cũng say mê công việc lắm. Sau mấy năm thì cũng được vào biên chế, lương phát thanh viên khởi điểm thôi vì chả có bằng cấp gì. Mấy chuyên mục tôi khởi xướng như Music Box và Sunday Show vẫn còn tiếp tục cho đến tận bây giờ. Mà ngoài việc đọc, dịch và biên tập, tôi còn vẽ thiết kế các tài liệu đối ngoại cho Đài, dịch và viết các tài liệu huấn luyện nghề phát thanh báo chí, và làm trợ lí đào tạo tại Việt Nam cho Asia Pacific Institute for Broadcasting Development - Học viện Phát triển phát thanh và truyền hình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, một NGO (viết tắt của chữ Non-Governmental Organization, tức tổ chức phi chính phủ - PV) quốc tế. Đó cũng là thời gian tôi hay dịch, đọc thuyết minh và lồng tiếng cho nhiều phim tài liệu và phim truyện của cả bên điện ảnh và đài truyền hình.
    Sau khi dịch và đọc lời bình thành công cho bộ phim tài liệu Việt Nam - một thiên lịch sử bằng truyền hình, tôi được tăng thêm hai bậc lương. Đó là năm 1984. Hai năm sau đó thì tôi xin thôi việc, vì đã chán những đổi thay về nhân sự và cách làm việc ở Đài kể từ sau kết thúc chiến tranh. Năm 1986 thì tôi vào làm cán bộ chương trình cho Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc, phụ trách các dự án về thông tin, giáo dục, truyền thông do quỹ này tài trợ tại Việt Nam.

     
    bat tay
    Đại sứ Mĩ ted Osius chúc mừng họa sĩ Trịnh Lữ sau khi đọc diễn từ khai mạc triển lãm Đi vẽ phong cảnh Mĩ (2015) - Ảnh: TL

    - Vậy là ông đã chọn công việc ấy? Và ông đã sang Mĩ học truyền thông như một cán bộ chương trình của Liên Hiệp Quốc?
    + Vâng, đó là một chọn lựa theo bản năng sinh tồn. Mà tôi đi học là vì xin được học bổng của Đại học Cornell, chứ không phải của Liên Hiệp Quốc. Trong khi học ở đó, Van Arandon - nhân vật thứ hai của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc - có bảo tôi thôi học để về làm thư kí cho ông ta tại New York, nhưng tôi từ chối, vì chưa bao giờ tôi nghĩ mình có khả năng làm thư kí, và tôi đang rất thích theo học ở Cornell lúc bấy giờ, một nơi có phong cảnh rất đẹp và thư viện thì tuyệt vời. Và cả hai vợ chồng giáo sư hướng dẫn tôi làm tốt nghiệp thì đã giới thiệu tôi với khoa Truyền thông của Đại học tiểu bang Wisconsin tại Madison để có thể sang làm Ph.D (viết tắt của chữ Doctor of Philosophy, là bậc học cao nhất trong các bậc học - PV) tại đó.

    - Và ông đã không lựa chọn cơ hội có vẻ “sáng” này?
    + Vâng. Vì tôi thấy môi trường học thuật cũng không thích hợp với mình; mà tôi cần có thu nhập để duy trì cuộc sống gia đình. Tôi quay về thành phố New York, vì Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc lúc ấy có hợp đồng với tôi làm chuyên gia giúp xây dựng một bộ công cụ truyền thông đa phương tiện để hỗ trợ vận động vốn. Hợp đồng chuyên gia ấy đã giúp gia đình tôi bắt đầu cuộc sống ở đó. Mong ước của tôi lúc ấy là hai con được học ở New York. Sau hợp đồng ấy, tôi làm nhiều nghề khác nhau để sống tại New York City.

    - Ông có thể tiết lộ đôi chút về những nghề ấy?
    + Thì cũng là những việc mình có thể làm được thôi. Dịch và đọc quảng cáo cho các công ti có sản phẩm nhắm vào cộng đồng người Việt ở Bắc Mĩ. Hợp tác với Báo Việt Nam Courrier làm tờ bán nguyệt san Viet Nam Opportunities, xuất bản tại New York, giới thiệu cơ hội làm ăn tại thị trường Việt Nam từ sau khi bình thường hóa quan hệ Việt - Mĩ. Rồi cùng một nhóm nhà báo Mĩ gốc Việt làm chương trình truyền hình tiếng Việt cho hệ thống Direct TV. Cuối cùng là làm nghề gọi là Marketing Designer, thiết kế các tài liệu tiếp thị cho Citibank Private Bank. Sau sự kiện 11/9 sụp đổ hai tòa tháp tại New York City, khi hai đứa con đều đã vào đại học, thì vợ chồng tôi quyết định trở lại Hà Nội. Đó là cuối năm 2002.

    - Tôi nhớ ông được giải thưởng dịch thuật của Hội Nhà văn Hà Nội cho cuốn Cuộc đời của Pi vào năm 2004, rồi năm 2005 là giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, cũng cho cuốn ấy. Và sau đó là hàng chục đầu sách dịch rất được người đọc yêu mến nữa. Vậy có nghĩa là ông chính thức trở thành dịch giả sau khi trở lại quê nhà. Cơ duyên nào đã đưa ông đến với lĩnh vực khó nhưng giàu hấp lực này?
    + Vì lúc mới về tôi chưa biết sẽ sống bằng cách nào, chưa có việc gì làm, nên khi có người bảo tôi dịch cuốn Life of Pi, đọc qua thấy thích, nên tôi nhận lời. Nhưng cũng phải nói là tôi vẫn thích đọc và dịch từ khi mới võ vẽ tiếng Anh. Thời sinh viên, tôi đã dịch truyện ngắn, chỉ để học thôi. Thời làm ở Đài, truyện ngắn tôi dịch đã được đăng trên báo Văn nghệ, và những câu chuyện hễu của Billy Borker do tôi dịch thì được Nhà xuất bản Tác phẩm Mới in thành sách (cuốn Chuyện hễu của Billy Borker, 1978 - PV). Nhưng đúng là sau khi có giải thưởng cho Cuộc đời của Pi, tôi mới dành thời gian dịch nhiều sách, và được gọi là dịch giả.

    - Và ông đã sống được bằng nghề dịch?
    + Không đâu. Trong lúc vẫn dịch sách, tôi sống bằng các hợp đồng chuyên gia truyền thông chiến lược và phát triển.

    -  Truyền thông chiến lược và phát triển là công việc gì, thưa ông?
    + Nói cụ thể nhé, tôi giúp văn phòng Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc xác định vấn đề tại sao quy mô chương trình tại Việt Nam nhỏ hơn trước rất nhiều, mà số cán bộ văn phòng lại tăng gấp nhiều lần, đề xuất một sơ đồ tổ chức hợp lí hơn, và xây dựng quy trình kiểm tra chất lượng đào tạo; hỗ trợ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa nội dung dân số phát triển vào giáo trình xã hội học; giúp Tổng cục Thống kê viết tài liệu vận động hỗ trợ tổng điều tra dân số. Với Đại học Y tế Công cộng, tôi giúp ban giám hiệu xây dựng chiến lược phát triển qua mấy giai đoạn, và các chiến lược truyền thông hỗ trợ cho quá trình thực hiện chiến lược ấy. Với Quỹ Từ thiện Atlantic (một tổ chức phi chính phủ Hoa Kì, đã đầu tư tổng cộng hơn 380 triệu đô la cho y tế và giáo dục đại học tại Việt Nam - PV), thì tôi giúp chương trình của họ tại Việt Nam xác định nhu cầu truyền thông, lập kế hoạch thực hiện, và tổng kết những công việc cùng các bài học kinh nghiệm của họ tại Việt Nam thành ba cuốn sách song ngữ Anh - Việt, có ích cho cả phía Việt Nam và những nhà đầu tư nhân đạo ngoại quốc đang muốn vào Việt Nam.
     
    - Thì ra, ông còn là một chuyên gia truyền thông thực thụ. Chắc sẽ có dịp chúng ta chuyện trò sâu hơn về chủ đề này; giờ xin được quay lại chủ đề dịch thuật. Dịch giả Đào Tuấn Ảnh cho rằng, người dịch ngôn ngữ khác sang tiếng Việt phải đảm bảo điều kiện cần là rất giỏi ngoại ngữ, nắm được văn hóa, tư tưởng của nguyên tác…, và điều kiện đủ phải là văn sĩ thấm đượm sâu xa ngôn ngữ Việt. Ông có bổ sung gì không?
    + Chắc thế là đủ rồi, vì ngôn ngữ đã phản ánh mọi thứ kiến văn khác. Có thể thêm bản tính chân thực, vốn sống phong phú, và lòng tận thiện tận mĩ trong công việc, tôi nghĩ vậy.

    - Đọc Rừng Na-uy lần đầu, tôi bị ấn tượng và ám ảnh đến mức không muốn đọc lại nữa vì sợ nhỡ cái ấn tượng, ám ảnh đó ít nhiều thuyên giảm. Sau đó, tôi lần lượt tìm đọc các tác phẩm của Murakami được dịch sang tiếng Việt, không còn đặc biệt ấn tượng, ám ảnh như lần đọc Rừng Na-uy nhưng cơ bản vẫn là thích. Càng ngày tôi càng gặp nhiều sự đánh giá không cao dành cho Murakami, và được biết nhiều hội thảo quốc tế về Murakami đã và sẽ diễn ra nhiều nơi trên thế giới, vì tác phẩm của nhà văn này có khả năng phân hoá, “chia rẽ” người đọc rất cao. Ông “bảo vệ” tác giả Rừng Na-uy “của mình” như thế nào?
    + Với tôi, Rừng Na-uy là lời kể chuyện còn chân tình và giản dị của tác giả, và vì thế nó chinh phục được đông đảo người đọc. Sau này Murakami có vẻ để tâm đến việc “cách tân” lối viết nhiều hơn. Những tác phẩm mới này thích hợp với trào lưu chung coi cái rắc rối khó hiểu mới là cao sang, cái lạ lẫm mới là đáng kể, lấy cái độc đáo thay thế cái đẹp. Thế giới văn chương của Murakami ngày càng kì ảo hơn, đan xen với thế giới nôm na quen thuộc, và luôn lảng vảng vẽ đùa bỡn giễu nhại. Chắc vì thế mà nó “phân hóa” và “chia rẽ” bạn đọc, như lời anh nói. Tôi nghĩ làm được như vậy cũng là một thành công không hề nhỏ của Murakami.

    - Có lẽ đúng thế thật (cười). Tạm rời chủ đề văn chương dịch thuật ở đây. Tôi muốn biết, với ông, “giá trị thặng dư” của những năm tháng sống, làm việc, học tập trên đất Mĩ, ngoài vốn liếng ngoại ngữ, còn là gì.
    + Còn là… một vỡ lẽ giản dị, rằng con người ở đâu cũng vậy thôi, chả khác gì nhau về cốt lõi tham sân si, và ai cũng muốn được sống ở nơi gọi được là nhà mình.

    - Giản dị vậy thôi?
    + Vâng, giản dị vậy thôi.

    - Ông đi nhiều, dấn nhập nhiều, hành động nhiều, ở hải ngoại cũng lâu, nhưng tôi cảm nhận trước sau ông vẫn là một con người hướng nội, trú ẩn vào thiên nhiên để dò sâu vào bản ngã. Những tác phẩm ông chọn dịch và những bức hoạ của ông cho tôi cảm nhận ấy…
    + Anh cảm nhận về tôi như vậy ư? Những người chỉ biết tôi qua chữ và tranh đều nghĩ về tôi giống như anh. Mà những người biết nhiều về tôi bên ngoài chữ và tranh thì lại nói khác hẳn cơ (cười).

    - Nhưng, tranh của ông, văn dịch và văn sáng tác của ông, cả cuộc đời của ông nữa, trong cảm nhận của tôi, cứ đầy lên chất thơ, chất nhạc, đầy lên vẻ đẹp của nỗi buồn. Có vẻ như trước sau ông vẫn là một chủ thể duy cảm duy mĩ, không thể nào khác được. Nhân nhắc đến tranh ông, tôi được biết cuốn Đi vẽ - Nhật kí hội họa 2014, và cuộc triển lãm Đi vẽ phong cảnh Mĩ của ông đầu năm 2015 là một sự kiện chưa từng có trong sinh hoạt hội họa trong nước, một hoạt động nghệ thuật có ý nghĩa trong lịch sử quan hệ Việt - Mĩ, khiến cho Đại sứ Ted Osius đã đích thân đến dự và có diễn từ khai mạc. Với một cuộc đời nhiều nghề nghiệp và biến động như đã chia sẻ, sau cuối ông chính danh hoạ sĩ như thế nào?
    + Như bố tôi thường nói, mà ở đầu cuộc trò chuyện tôi đã dẫn, “Con nhà thuyền chài thì biết bơi”. Anh chị em chúng tôi đều lớn lên trong xưởng vẽ của bố mẹ, học vẽ cùng với học sinh của bố mẹ. Đến tuổi này, tôi mới nhận ra mình thật sự thừa hưởng được từ trong gia đình quan niệm coi hội họa, âm nhạc và lao động tạo tác nói chung là một lối sống, chứ không phải đơn thuần là nghề hay nghiệp.
    Tôi nhớ là mình thích vẽ từ lúc còn chưa biết cầm bút. May mắn hơn là tôi được theo bố mẹ đi vẽ ngoài, tập nhiễm tình yêu thiên nhiên từ rất sớm, và được dạy những kĩ năng cơ bản một cách tự nhiên thoải mái ngay ở nhà. Hồi lớp 4 lớp 5 tôi được mấy giải thưởng quốc tế cho tranh vẽ thiếu nhi do một tạp chí Ấn Độ tổ chức hàng năm. Thời sinh viên sơ tán lên tận rừng núi ven sông Kì Cùng, tôi cũng suốt ngày lang thang vẽ cỏ cây sông núi ở đó. Từ cuối những năm 1970 cũng đã tham gia triển lãm với các họa sĩ trẻ Hà Nội, bán được những bức tranh đầu tiên cho mấy người Thụy Điển, mà là tranh trừu tượng. Thời làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam, sang Pnom Penh trong đoàn chuyên gia giúp xây dựng lại chương trình phát thanh tiếng Anh của nước bạn, tôi cũng mang theo giá vẽ và giấy, màu, vẽ một loạt chân dung những người Campuchia, thành thân thiết với họ. Hai năm học ở Cornell, tôi vẽ nhiều phong cảnh sơn dầu, làm hai triển lãm tranh tại một gallery địa phương, được tờ Ithaca Journal bầu chọn là Artist of the Year 1993. Tranh phong cảnh của tôi đến giờ vẫn treo trong phòng họp của khoa Truyền thông, và trong trường Âm nhạc Ithaca Talent Education. Hồi ở New York, đi làm đủ nghề, tôi vẫn vẽ, và còn nhận vẽ cả chân dung, cũng có thêm thu nhập. Đại khái là ở đâu, làm việc gì, thì tôi vẫn cứ vẽ, luôn đọc và tìm đến bảo tàng để thưởng thức và học hỏi kĩ thuật cũng như lịch sử hội họa, mới không thấy đời tẻ nhạt. Ở đâu tôi cũng cố thu xếp một chỗ để vẽ ở nhà. Và tôi rất thích đi vẽ phong cảnh; thích ngồi giữa trời đất cây cỏ rừng núi sông hồ thanh vắng, cảm thấy mình là một phần của thiên nhiên lúc nào cũng sinh động hài hòa. Mà thực sự là tôi không nghĩ gì đến chuyện mình có phải họa sĩ hay không. Lần đầu tiên tôi thấy mình được gọi họa sĩ là trên mấy bài báo viết về triển lãm của mình ở Ithaca, New York. Tờ báo của Đại học Cornell cũng có bài phỏng vấn về quan niệm hội họa của tôi. Dạo ấy là năm 1992 - 1993, vẫn còn chiến tranh lạnh. Một nghiên cứu sinh Việt Nam đi học truyền thông mà lại vẽ cảnh vẽ người địa phương, rồi triển lãm và được tán thưởng ở Mĩ, cũng là chuyện hiếm. Còn ở nhà thì hình như chỉ từ sau triển lãm Đi vẽ phong cảnh Mĩ, mọi người mới bắt đầu gọi tôi là họa sĩ.

    - Cảm ơn ông đã chia sẻ câu chuyện rất riêng tư của mình. Xin được hỏi ông một câu riêng tư nữa. Sinh ra và lớn lên trong “một gia đình trí thức - nghệ sĩ Hà Nội có nhiều người tài hoa”, điều này có khiến hành trình làm người và làm nghệ sĩ của ông bị áp lực không?
    + Có lẽ anh đang hỏi về áp lực bản thân tôi phải sống và làm nghệ thuật cho xứng đáng với gia đình mình?

    - Đúng là như vậy, thưa ông.
    + Tôi chưa bao giờ cảm thấy mình bị áp lực kiểu này. Những quyết định của tôi trong cuộc sống và mọi công việc là toàn theo bản năng sinh tồn và ham thích một cách tự nhiên, không phải vì cố được “tài hoa” như ai khác. Tôi mải sống, chứ không mải lo phải xứng đáng với ai hoặc với cái gì. Với tôi, như đã nói, làm nghệ thuật là một lối sống, chứ không đơn thuần là tạo tác ra những bức tranh, bức tượng, bản nhạc, áng văn thơ…

    -  Trân trọng cảm ơn ông đã dành thời gian chia sẻ với bạn đọc VNQĐ!