Tạp chí văn nghệ quân đội

http://vannghequandoi.vn


Thơ Phạm Tiến Duật: không chỉ là thơ mà là tiếng nói, cuộc sống, suy nghĩ của những người lính

Sáng 4/12, tại Hà Nội, Hội nhà văn Việt Nam cùng gia đình, bạn bè, người yêu thơ Phạm Tiến Duật tổ chức Lễ Kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ.
Thơ Phạm Tiến Duật: không chỉ là thơ mà là tiếng nói, cuộc sống, suy nghĩ của những người lính
logochuan - Sáng 4/12, tại Hà Nội, Hội nhà văn Việt Nam cùng gia đình, bạn bè,  người yêu thơ Phạm Tiến Duật tổ chức Lễ Kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ. Đây là dịp để những vần thơ của “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại” được đánh thức, nhắc nhớ, ngân vang trong lòng những thế hệ đã qua và thế hệ trẻ hôm nay.
 
ptduat
Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, thơ của Phạm Tiến Duật không phải là thơ nữa mà là “thánh kinh”, là huyền thoại của những người lính thời chống Mĩ. Rồi ông kể câu chuyện những người lính giữ chốt trên một quả đồi ven đường mòn Hồ Chí Minh trong chiến tranh. Họ bị bao vây. Những đơn vị ở bên ngoài không thể nào tìm cách tiếp cận được họ ngoài hệ thống liên lạc bằng điện đài. Khi cấp trên hỏi họ cần gì thì họ trả lời: “Chúng tôi cần thơ Phạm Tiến Duật”. Những người lính trên điểm chốt ấy biết rằng có thể tất cả họ sẽ hi sinh. Cái cần nhất lúc đó đối với họ không phải là thức ăn, nước uống. Cái cần nhất đối với họ trước cái chết là một bài ca của sự sống vang lên đôi lúc như một bản thánh kinh. Một bộ phận được phân công chuyển thơ của Phạm Tiến Duật lên điểm chốt đó. Bộ phận này đã tháo thuốc nổ trong một đầu đạn súng cối và cho thơ Phạm Tiến Duật vào đó rồi bắn lên chốt. 

Cùng chung suy tư như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà văn Nguyễn Văn Thọ, một người lính thực thụ  cho biết ông đến với thơ Phạm Tiến Duật tự nhiên như bao người lính khác. Vì thơ ông không chỉ là thơ nữa, mà là tiếng nói, cuộc sống, suy nghĩ, hơi thở bom đạn của những người lính trực tiếp đối diện với kẻ thù. Nơi mà câu thơ “ Đường ra trận mùa này đẹp lắm” vang lên theo ý nghĩa đẹp nhất. Mùa của các binh đoàn nối nhau ra mặt trận, mùa của tuổi trẻ và yêu thương.

Nhà văn Đỗ Chu nhắc lại những kỷ niệm với nhà thơ. Nhấn mạnh mảng thơ chiến tranh là mảng thơ không ai thay thế được Phạm Tiến Duật. Tiếc rằng, những dự định sáng tác của nhà thơ còn nhiều mà ông chưa kịp thực hiện. Có thể coi đó là mất mát lớn của văn học nước nhà.

 
3
Nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam phát biểu tại Lễ kỉ niệm
 
Đi sâu vào mảng thơ chiến tranh của Phạm Tiến Duật, nhà thơ Trần Đăng Khoa khẳng định trong thơ ca chiến tranh, cách mạng có ba đỉnh cao thơ là Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật ở ba tầm khác nhau, ba góc độ khác nhau, có tác động lớn vào cuộc kháng chiến. Với nhà thơ Tố Hữu là góc độ toàn dân. Nhà thơ Chế Lan Viên là đội ngũ trí thức. Còn nhà thơ Phạm Tiến Duật là cánh trẻ. Phạm Tiến Duật có công đổi mới thơ ca, đưa thơ ca trở lại đời sống thường ngày. Bản thân thơ ông đi được vào đời sống lính tráng là vì nó mang nhiều đặc điểm của tấu nói, rất tự nhiên, sinh động... Khẳng định còn dãy Trường Sơn là còn Phạm Tiến Duật. Rất mong có một con đường, một bảo tàng mang tên nhà thơ.

Nhà thơ Trần Nhương dự Lễ Kỷ niệm với cuốn sách Tuyển tập Phạm Tiến Duật (Phần 1: Thơ và Trường ca) mà ông cùng những người bạn của mình đã làm mười năm trước. Cuốn sách được lên kế hoạch, thực hiện với thời gian rất ngắn, khi nhà thơ lâm bệnh và chuẩn bị về vùng mây trắng. Trong sách có chân dung nhà thơ Phạm Tiến Duật do chính nhà thơ Trần Nhương phác họa trong một đêm, vẽ bằng tình cảm và trí nhớ.

Khép lại buổi Lễ Kỷ niệm nhà thơ Hữu Thỉnh kể lại lần công tác tại Phú Thọ cùng nhà thơ. Trong một buổi chiều mùa đông rất lạnh, cả hai cùng về ngọn đồi nơi chôn cất mẹ của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Nhà thơ châm hương, gió bay lên trời, mắt nhà thơ ướt. Mẹ nhà thơ tên gì có ai biết đâu. Cũng như vợ nhà thơ, người ta vẫn gọi là chị Vân. Chị nhà thơ, chị Tình, người đã hát ru ông bên huyệt mộ như đã hát ru đứa em nhỏ mấy chục năm trước. Những người phụ nữ không mang họ, chỉ có tên, đứng ở phía sau...
 
Nhà thơ Phạm Tiến Duật (14/1/1941 – 4/12/2007) sinh ở huyện Thanh Ba, Phú Thọ. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, nhưng ông không dạy học mà lên đường nhập ngũ, chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn.

Năm 1970 ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ. Chiến tranh kết thúc, ông về làm việc tại Hội Nhà văn Việt nam.

Năm 2001 được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Năm 2012 được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

Những tập thơ chính của ông gồm: 
Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970); Ở hai đầu núi (thơ, 1981); Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983); Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994); Nhóm lửa (thơ, 1996); Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997); Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17/11/2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng)

 
Phương Phương