Tạp chí văn nghệ quân đội

http://vannghequandoi.vn


Hiện thực cuộc sống là nơi bắt đầu và cũng là đích đến của người nghệ sĩ cách mạng

Đón chào năm mới Mậu Tuất, Văn nghệ Quân đội vừa có cuộc trò chuyện với PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ - UVTƯ Đảng, Tổng Giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam , Chủ tịch Hội đồng Lí luận phê bình Văn học - Nghệ thuật Trung ương.
Hiện thực cuộc sống là nơi bắt đầu và cũng là đích đến của người nghệ sĩ cách mạng
crt2
 
ĐỖ BÍCH THÚY
NGUYỄN THẾ KỶ
 
nguyen the kyTrong những năm qua, đời sống văn học - nghệ thuật - báo chí nước nhà đã ghi dấu ấn đậm nét trên nhiều lĩnh vực; nhiều thành tựu nhưng cũng đặt ra không ít vấn đề khiến cả nghệ sĩ và công chúng đều quan tâm. Đón chào năm mới Mậu Tuất, Văn nghệ Quân đội vừa có cuộc trò chuyện với PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ - UVTƯ Đảng, Tổng Giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam (TNVN), Chủ tịch Hội đồng Lí luận phê bình (LLPB) Văn học - Nghệ thuật Trung ương (ảnh).
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
 
PV: Thưa ông Nguyễn Thế Kỷ, chúng ta đang đứng trước thềm của năm mới. Ngoảnh nhìn lại, với tư cách là người đứng đầu một cơ quan tư vấn cho Đảng, Nhà nước về lĩnh vực lí luận, phê bình văn học, nghệ thuật, ông đánh giá như thế nào về đời sống văn học - nghệ thuật (VH-NT) nói chung, ở nước ta những năm qua?

Ông Nguyễn Thế Kỷ: Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước” và Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn học, nghệ thuật trong thời kì mới”, những năm gần đây, hoạt động văn học, nghệ thuật của ta có bước chuyển đáng mừng. Đội ngũ những người hoạt động văn học, nghệ thuật có sự phát triển đáng kể cả về số lượng, chất lượng, nhất là các văn nghệ sĩ trẻ, nữ, những người hoạt động trong Quân đội, Công an, dân tộc thiểu số, cả người Việt ở ngoài nước. Trong không gian cởi mở, với sự tiếp xúc, giao lưu ngày càng mạnh mẽ với thế giới, các văn nghệ sĩ của chúng ta đã thể hiện sự nhạy bén với cái mới, tích cực thể nghiệm sáng tạo và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thị Thu Huệ, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Bình Phương, Mai Văn Phấn, Đỗ Bích Thúy, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Di Li, Đỗ Tiến Thụy, Vi Thùy Linh… (trong văn học); các đạo diễn Đặng Nhật Minh, Lê Hoàng, Đỗ Minh Tuấn, Victor Vũ, Trần Anh Hùng, Vũ Ngọc Đãng, Dustin Nguyễn, Nguyễn Hoàng Điệp, Lương Đình Dũng… (trong điện ảnh); các đạo diễn sân khấu Hoàng Quỳnh Mai, Triệu Trung Kiên, Trần Quang Hùng, Đức Thịnh, Vũ Minh, Thành Lộc, Anh Tú, Chí Trung... (trong sân khấu); các kiến trúc sư Hoàng Thúc Hào, Võ Trọng Nghĩa (trong kiến trúc)… Thiết chế văn hóa của ta cũng được tăng cường. Đó là các trại sáng tác, nhà triển lãm, trưng bày, rạp chiếu phim, nhà biểu diễn, nhà hát. Chỉ riêng mảng báo chí, xuất bản về văn hóa, văn nghệ, chúng ta có có 80 cơ quan báo chí về văn học, nghệ thuật/840 cơ quan báo chí cả nước; 5 nhà xuất bản chuyên ngành văn học, nghệ thuật/60 nhà xuất bản cả nước. Những “bà đỡ” quen thuộc của đội ngũ văn nghệ sĩ như Báo Văn nghệ, các Tạp chí: Thơ; Văn nghệ Quân đội; Lí luận, phê bình văn học, nghệ thuật; Nhà văn và Tác phẩm; Hồn Việt; Mỹ thuật; Điện ảnh; Sân khấu; Âm nhạc; Kiến Trúc; Nghệ thuật biểu diễn; Nguồn sáng; Nhịp điệu... Các nhà xuất bản: Văn học; Hội Nhà văn; Văn hóa Thông tin; Âm nhạc; Trẻ; Thế giới; Phụ nữ...

Bên cạnh những ưu điểm, thành tựu đạt được, văn học, nghệ thuật nước nhà cũng bộc lộ một số hạn chế
, khuyết điểm. Xuất hiện một số khuynh hướng thiếu lành mạnh như giới thiệu, cắt gọt, in và phát hành tác phẩm của một số cây bút chống cộng trước năm 1975; đòi “khơi thông một dòng văn học đang âm thầm chảy”, “hợp lưu” giữa văn học, nghệ thuật phản động, vọng ngoại trước đây với văn học, nghệ thuật cách mạng. Đã và đang xuất hiện gần đây đó khuynh hướng “hạ bệ”, “giải thiêng”, “bôi đen” các văn nghệ sĩ tên tuổi trên văn đàn, phủ nhận phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, dè bỉu nền văn nghệ của chúng ta là văn nghệ “minh họa”, “ru ngủ”, “tô hồng hiện thực”; công khai, hoặc bóng gió, ám chỉ, đả kích chế độ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ, kêu gọi “trí khôn nhà văn ở đâu?”, kích động văn nghệ sĩ và giới trẻ “phản tỉnh”, “sám hối”, “hạ bệ thần tượng”...

Một số tác phẩm văn nghệ khai thác đề tài về các vụ án, “thương mại hoá” hoạt động văn nghệ. Cái đẹp, cái tốt của đời sống xã hội chưa thực sự là dòng chủ đạo trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Tính định hướng thẩm mĩ, định hướng tư tưởng xã hội chưa được gìn giữ và nâng cao. Chất lượng các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật được công bố chưa cao, chưa đáp ứng mong đợi của xã hội. Không ít đài, kênh truyền hình khai thác, sản xuất, tiếp phát sóng quá nhiều các chương trình phim truyện, trò chơi, giải trí nước ngoài có nội dung không phù hợp với văn hóa Việt, vọng ngoại, lai căng.

PV: Không chỉ là một người làm báo, làm công tác quản lí, ông còn là một nhà thơ, đặc biệt, là một người viết kịch bản sân khấu. Ông nghĩ thế nào khi sân khấu nói chung, sân khấu truyền thống nói riêng, đang ở tình trạng thiếu vắng công chúng. Anh chị em nghệ sĩ vẫn không ngừng nỗ lực làm mới, với hi vọng kéo công chúng lại gần, như cái thời “hoàng kim” cách đây vài chục năm. Theo ông, sân khấu của ta đang đối diện với những bài toán nào?

Ông Nguyễn Thế Kỷ: Cũng giống như nhiều nước, sân khấu nước ta đang đứng trước sự cạnh tranh, sự “lấn sân” của các loại hình giải trí hiện đại. Mặt khác, khi những người làm công tác lãnh đạo, quản lí, sáng tạo, biểu diễn trong ngành sân khấu chưa phản ánh, lí giải một cách lôi cuốn, thuyết phục những vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống đương đại, những đổi mới, cách tân sân khấu chưa theo kịp với sự phát triển của đời sống, thì sân khấu vẫn còn nhiều gian khó. Đã có một thời, sân khấu nước ta đạt đến sự thăng hoa ngoạn mục với nhiều vở diễn của trong nước, của nước ngoài. Những năm đầu Đổi mới, sân khấu Việt Nam tỏa sáng với các vở diễn xuất sắc, để đời, có tác giả đến vài ba chục năm sau các đoàn nghệ thuật còn dựng lại kịch bản như Tôi và chúng ta, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Bệnh sĩ, Lời thề thứ 9, Mùa hạ cuối cùng, Nàng Sita... (kịch bản Lưu Quang Vũ); Nhân danh công lí (Võ Khắc Nghiêm - Doãn Hoàng Giang); Mùa hè ở biển (Xuân Trình)... Ở thập niên 80 của thế kỉ trước, cả nước có 156 đơn vị sân khấu với 7.700 nghệ sĩ (trong biên chế). Tất nhiên, con số này không hoàn toàn phản ánh đúng các mặt tích cực của sân khấu Việt Nam lúc đó.

Bước sang thời kì cơ chế thị trường, cùng với sự phát triển của nhiều loại hình giải trí hiện đại và tiện lợi như truyền hình, băng, đĩa VCD, DVD, internet..., sân khấu nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Quan niệm “xóa bao cấp” một cách máy móc, lạnh lùng buộc nhiều bộ, ngành, địa phương phải giảm số lượng đơn vị và nhân lực làm nghệ thuật; đã xảy ra tình trạng sáp nhập một cách cơ học, vô cảm đoàn chèo với đoàn cải lương, đoàn tuồng; đoàn dân ca với đoàn kịch nói, múa rối... Tuy mỗi năm, một đoàn nghệ thuật có từ 1-2, thậm chí 3 vở trình diễn nhưng lượng người xem ít dần. Lí giải nguyên nhân của điều vừa nêu, có người cho rằng do thiếu kịch bản hay, điều này đúng; có người cho rằng chúng ta còn thiếu những đạo diễn, diễn viên, nhạc công, họa sĩ... chưa máu lửa với nghề như thời trước, điều này cũng đúng một phần; có người cho rằng do truyền hình, phương tiện nghe nhìn hiện đại, internet... đã kéo mất phần nhiều công chúng của sân khấu, điều này cũng đúng... Nhưng có một nguyên nhân có thể coi là “đầu tiên”, ấy là nguồn lực giúp các đoàn nghệ thuật “sống” được ngày càng cạn dần. Một vở diễn chỉ đầu tư 400 đến 500 triệu đồng (ở trung ương) hay 300 đến 400 triệu (ở địa phương), khi dựng vở xong, không còn tiền để các nghệ sĩ húp cháo (đúng nghĩa đen), đi thuê rạp, đi về các địa phương để biểu diễn. “Cơm áo không đùa với khách thơ”, luôn đúng với bất cứ môn nghệ thuật nào, với bất cứ nơi đâu. Chỉ có con đường xã hội hóa, “nhà nước và nhân dân cùng làm”, văn nghệ sĩ cùng làm thì mới giải quyết được khâu ách yếu này. Tôi đã có 3 kịch bản được dàn dựng và công diễn thành công, cũng phải đi con đường đó. Tất nhiên, xin khẳng định một chân lí, với nghệ thuật, không có chuyện “ít ruồi, nhiều ruồi” như cách nói của Aziz Nesin, mà yếu tố quan trọng nhất là tài năng và tâm huyết, là sự dấn thân của người nghệ sĩ. Hoạt động sân khấu nước nhà đã có những điểm sáng, những tín hiệu vui. Đó là đã có một số đơn vị sân khấu chủ động tạo nguồn lực, tổ chức hoạt động năng động, có các vở diễn mới, hấp dẫn, vừa tạo đất cho nghệ sĩ và kéo khán giả đến với sân khấu. Đi đầu trong hoạt động này là Nhà hát Kịch Việt Nam, Nhà hát Cải lương Việt Nam, Nhà hát Tuổi trẻ (Hà Nội), Nhà hát dân ca Huế, Sân khấu thử nghiệm 5B Võ Văn Tần, nay là Nhà hát Sân khấu nhỏ của Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh...
 
vconcert
V Concert: Hòa nhạc năm mới 2018 tại Nhà hát Lớn Hà Nội
 
PV: Mới đây, đài truyền hình VTC vừa tổ chức chương trình V Concert, rất thành công. Theo như tôi biết, thì V Concert sẽ được tổ chức thường niên vào mỗi dịp đầu năm mới. Nhạc cổ điển là một loại hình kén chọn người xem, chi phí thì không hề nhỏ. Vậy ngoài V Concert, VOV - VTC sẽ làm gì đối với những loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, thưa ông?

Ông Nguyễn Thế Kỷ: Bạn nên nhớ, Nhà hát Đài TNVN (trước đây gọi là Đoàn ca nhạc Đài TNVN) có tuổi nghề đã 69 năm (ra đời năm 1949). Rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi đã công tác, thành danh ở nơi này. Thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước, cùng nhiều ca sĩ, nhạc sĩ, đạo diễn nổi tiếng, Đoàn Ca nhạc TNVN còn có Dàn nhạc Bán cổ điển  cùng các nghệ sĩ, nhà chỉ huy tên tuổi như  Hoàng Vân, Cao Việt Bách, Thanh Tùng, Lê Đình Lực, Doãn Nguyên, Lê Ha Mi... Dàn nhạc của Đài biểu diễn ở Nhà hát Lớn, ở các sự kiện quan trọng, làm nhạc cho phim truyện, phim tài liệu, cho các chương trình ca nhạc phát trên sóng của Đài.

Sự kiện “V Concert: Hòa nhạc năm mới 2018” do Đài TNVN tổ chức đã giúp công chúng yêu âm nhạc được thưởng thức những giai điệu tuyệt vời, những bản giao hưởng kinh điển trên thế giới và những tác phẩm thấm đẫm hồn dân tộc Việt Nam.

Hiện nay, Đài TNVN có 8 kênh phát thanh quốc gia, 17 kênh truyền hình, 2 báo điện tử, 1 báo in. Cùng với các loại hình âm nhạc hiện đại, Đài TNVN sẽ chú ý đến âm nhạc truyền thống, dân ca, dân nhạc, dân vũ. Sân khấu truyền thống như chèo, tuồng, cải lương tiếp tục được coi trọng, được dàn dựng, giới thiệu trên cả sóng phát thanh, truyền hình. Riêng Nhà hát Đài TNVN, chúng tôi đang có kế hoạch mở màn mỗi tháng một lần, tiến tới 2 lần/tháng, và đích đến cuối cùng là mỗi tuần/1 lần. Có được các chương trình vừa nêu, chúng tôi có thêm nhiều cơ hội phục vụ khán, thính giả; Đài có chương trình mới, hấp dẫn để quay, thu âm trực tiếp.

PV: Tôi nghĩ, tất cả những người yêu văn chương, các nhà văn và bạn đọc, đều luôn có ấn tượng mạnh mẽ về các chương trình văn nghệ của Đài TNVN. Trong nhiều thập kỉ qua, trong suốt những năm tháng chiến tranh, hòa bình, đấy thực sự là một chương trình có sức hấp dẫn ghê gớm. Tuy nhiên, những năm sau này, ngay cả tôi cũng ít nghe đi. Phải chăng, nó cũng nằm trong dòng chảy chung của sự thiếu vắng công chúng, hay do văn học nghệ thuật không còn mấy quan trọng nữa trong đời sống xã hội?

Ông Nguyễn Thế Kỷ: Đài TNVN ra đời ngày 7 tháng 9 năm 1945, đến nay, Đài đã có 73 năm xây dựng, trưởng thành. Trong 40 năm đầu, ở Việt Nam, Đài TNVN là cơ quan báo chí có dung lượng thông tin lớn nhất, chi phối lớn nhất đến công chúng cả trong và ngoài nước. Từ hàng chục năm trước, các chương trình văn học, nghệ thuật của Đài trở nên thân thuộc, quyến rũ công chúng như Tiếng thơ, Đọc truyện đêm khuya, Sân khấu truyền thanh, Câu chuyện cảnh giác, Chương trình dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc, Dân ca và nhạc cổ truyền, Văn nghệ thiếu nhi, Tiếng hát Sơn ca, Tập hát, Văn nghệ nước ngoài. Đoàn ca nhạc Tiếng nói Việt Nam, nay là Nhà hát Đài TNVN là nơi mà nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, đạo diễn, diễn viên, phát thanh viên hàng đầu của đất nước công tác hoặc được giới thiệu và thành danh ở nơi này. Đó là các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Thuận Yến, Huy Du, Hoàng Hiệp, Văn Ký, Văn Dung, Hoàng Hà, Cao Việt Bách, Hoàng Mãnh, Cầm Phong, Hồ Bắc, Thanh Tùng, Vũ Thanh, Nguyễn Đình San, Phan Phúc, Hoàng Lương, Đỗ Hồng Quân, Trọng Đài... Các Phát thanh viên Vàng của Đài như NSND Tuyết Mai; các NSUT Việt Khoa, Kiên Cường, Phương Chi, Hà Phương, Hoàng Yến, Trịnh Thị Ngọ... Những giọng ngâm thơ, đọc thơ như các NSND Trần Thị Tuyết, Châu Loan,   Linh Nhâm, Kim Liên, Vũ Kim Dung... Các nghệ sĩ, ca sĩ nổi tiếng được phong NSND, NSUT như  Quốc Hương, Tân Nhân, Quốc Hương, Kiều Hưng, Thanh Hoa, Thanh Huyền, Thu Hiền, Thương Huyền, Trần Khánh, Tuyết Thanh, Trần Thụ, Ngọc Tân, Tiến Thành, Phan Muôn…Các thế hệ tiếp theo như Hồng Liên, Hồng Ngát, Mai Hoa, Việt Hoàn, Đăng Dương, Văn Chương, Hoàng Tùng, Trần Hồng Nhung, Thu Lan, Minh Phương, Thu Trang, Diệu Hương, Bùi Thu Huyền, Thành Lê, Thu Huyền, Bùi Lê Mận, Đinh Trang, Đăng Thuật, Tiến Mạnh… được đông đảo công chúng yêu mến.

Mảng văn học, nghệ thuật của Đài hiện có các chương trình Văn nghệ tổng hợp, Văn nghệ thiếu nhi, Đọc truyện thiếu nhi, Điểm hẹn văn nghệ, Tìm trong kho báu, Tiếng thơ, Trang văn nghệ chủ nhật, Câu chuyện nghệ thuật, Kể chuyện và hát ru cho bé, Đọc truyện dài kì (tiểu thuyết), Đọc truyện đêm khuya (truyện ngắn), Sân Khấu truyền thanh (30 Phút), Sân khấu Truyền thanh (90 phút), Xin chờ hồi kết (Kịch tình huống, 30 phút), Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu (30 phút). Một số chương trình mới thực hiện gần đây như Điểm hẹn văn nghệ, Xin chờ hồi kết, Trang Văn nghệ nước ngoài, Thời sự Nghệ thuật, Chân dung và tác phẩm, Thơ và Cuộc sống…

PV: Tôi muốn bàn sâu hơn về văn học, và cụ thể là thị trường sách văn học. Thực tế là, trong khi các đơn vị liên kết xuất bản luôn nỗ lực thu hút bạn đọc bằng những tiêu chí hàng đầu như: Sách hay, in đẹp, phát hành tốt, giá cả hấp dẫn, cạnh tranh lành mạnh, và đang từng bước chiếm lĩnh thị trường, thì hàng loạt nhà xuất bản lớn, từng là những thương hiệu mạnh, lại gần như biến mất. Tuy nhiên, cũng không ít những ấn phẩm được liên kết xuất bản sau khi vừa phát hành đã bị thu hồi. Vậy câu hỏi đặt ra là: Riêng với ngành xuất bản, nhấn mạnh là lĩnh vực xuất bản sách văn học, chúng ta đang phải đối diện với những vấn đề gì? Và giải quyết như thế nào bài toán liên kết?

Ông Nguyễn Thế Kỷ: Công việc của những người làm xuất bản luôn gắn chặt với trách nhiệm cao quý và cả những đòi hỏi, thách thức nặng nề. Với ý nghĩa đó, phải chăng, các nhà xuất bản không chỉ là phổ biến, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật mà xét cho cùng là góp phần xây đắp, nuôi dưỡng những phẩm chất và nhân cách con người Việt Nam hiện đại, đặc biệt là thế giới  tinh thần, tình cảm và  trí tuệ, trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm của người làm xuất bản, biên tập sách và các nhà văn, nhà thơ, nhà lí luận, phê bình văn  học, nghệ thuật.

Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về văn hoá đã chỉ ra nhiệm vụ trung tâm của công tác văn học, nghệ thuật là tiếp tục “phấn đấu tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người”

Theo đó, một loạt vấn đề trong sự phát triển của xuất bản để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ cao cả nói trên. Tiếp tục kiên trì nâng cao chất lượng tư tưởng và nghệ thuật các sản phẩm, bảo đảm nghiệp vụ biên tập, khả năng phát hành, phấn đấu tăng số lượng sản phẩm và quy mô hoạt động, kiên quyết gạt bỏ bằng được các loại sản phẩm thấp kém và có hại; tôn trọng luật pháp về xuất bản. Xét từ bản chất cao quý của văn học, nghệ thuật, những ấn phẩm sai trái, yếu kém, thấp kém là những sản phẩm phi văn học, phản văn hoá. Xét đến cùng, sản phẩm của người nghệ sĩ đóng góp cho xã hội là tác phẩm văn học, nghệ thuật. Bởi vậy, lí tưởng cách mạng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; hiện thực cuộc sống là điểm tựa, tầm nhìn, nơi bắt đầu và cũng là đích đến của người nghệ sĩ cách mạng. Mọi sự mệnh danh “tìm tòi”, “sáng tạo” vượt ra ngoài hoặc chệch ra ngoài điểm xuất phát đó đều dẫn đến những sản phẩm không hoặc ít có giá trị, thậm chí nguy hại cho công chúng.

Mặt khác, những “bó chặt”, lúng túng, thậm chí sợ hãi trước những cái mới của thời đại, trước sức sáng tạo của người nghệ sĩ sẽ trở thành một lực cản của văn học, nghệ thuật, gây hại cho xã hội. Mỗi cơ quan xuất bản nói chung, trong đó có các cơ quan xuất bản chuyên về văn học, nghệ thuật cần có kế hoạch xây dựng đội ngũ khá, giỏi về nghề nghiệp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức nghề nghiệp. Đội ngũ này phải am hiểu thực tiễn đời sống đất nước và thực tiễn văn học, nghệ thuật; đồng cảm, gắn bó với những người sáng tạo; thấu hiểu những nhu cầu phong phú, đa dạng, lành mạnh của người đọc; đủ năng lực biên tập, thẩm định, cùng tác giả nâng cao và hoàn chỉnh sản phẩm văn học, nghệ thuật. Tham gia phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ cộng tác viên, đội ngũ tác giả văn học, nghệ thuật (cả sáng tác và lí luận - phê bình). Bằng chính nguồn lực con người, thông qua chức năng cao quý của mình, các cơ quan xuất bản, tuyên truyền góp phần xây dựng, củng cố môi trường văn hóa, văn nghệ  lành mạnh; kiên trì đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, phản động của các thế lực cơ hội, thù địch;  tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật.

Hiện tại, việc thực hiện liên kết hay xã hội hóa xuất bản đang đặt ra nhiều lo lắng, quan ngại. Phần lớn các nhà xuất bản khoán trắng cho phía liên kết, thậm chí, bán giấy phép. Phải chấn chỉnh mạnh mẽ những yếu kém, sai sót này; cụ thể hơn, phải quản chặt nội dung xuất bản phẩm; coi trọng việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho những người làm xuất bản.

PV: Nhân dịp năm mới, xin kính chúc ông và gia đình luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.
Ông Nguyễn Thế Kỷ: Cảm ơn bạn. Nhân dịp năm mới, qua Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi xin gửi tới các cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân lời chúc mừng năm mới. Chúc các đồng chí luôn mạnh khỏe, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, và xin gửi tặng các chiến sĩ vài vần thơ: Ôi Tổ quốc biên cương chưa yên giấc/ Đêm quặn lòng máu thịt Hoàng Sa/ Ngày đỏ mắt Trường Sa giông bão/ Lại bút, gươm giữ cõi, xây nhà.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!