Tạp chí Văn nghệ Quân đội ra số đầu tháng 1/1957, đến tháng 1/2027 tạp chí đã cho in trên 11.000 số. Cùng với từng ấy năm ra đời, điều thú vị, vào dịp chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm, cuối tháng 7/2026, tạp chí vừa bổ nhiệm vị Tổng biên tập thứ 9. Một con số hướng tới sự tròn đầy tốt đẹp.
Trong hành trình 70 năm qua, tạp chí đã đóng góp cho Quân đội cũng như nền văn học nước nhà nhiều cây bút tiêu biểu với những tác phẩm xuất sắc, đó là những tác giả tác phẩm, Văn xuôi có: Nguyễn Minh Châu với Bến quê, Cỏ lau, Chiếc thuyền ngoài xa; Nguyễn Khải với Cha và con và, Thời gian của người, Một người Hà Nội; Nguyễn Thi với Người mẹ cầm súng, Mẹ vắng nhà; Xuân Thiều với Thôn ven đường, Gió từ miền cát; Nguyễn Trọng Oánh với bộ tiểu thuyết Đất trắng; Lê Lựu với Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông; Ngô Thảo với Những ngày văn học, Nhà văn bàn về nghề văn; Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng, Mưa đỏ; Khuất Quang Thụy với Trong cơn gió lốc, Không phải trò đùa; Nguyễn Trí Huân với Mùa chim én bay, Năm 1975 họ đã sống như thế; Hồ Phương với Thư nhà, Cỏ non; Nguyễn Bảo với Thượng đức, Đỉnh máu, Biển đêm; Ngô Vĩnh Bình với Nẻo vào văn học, Trăng và súng; Sương Nguyệt Minh với Dị hương, Miền hoang; Thơ có: Chính Hữu với Đồng chí, Thư nhà; Hữu Thỉnh với trường ca Đường tới thành phố, trường ca Biển, Sang thu; Nguyễn Đức Mậu với trường ca Sư đoàn, Nấm mộ cây trầm, Mùa hoa đỏ; Vương Trọng với Bên mộ cụ Nguyễn Du, Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc; Anh Ngọc với Cây xấu hổ, Con mèo nằm ngủ trên ngực tôi; Xuân Sách với Chân dung nhà văn, Con suối mặt gương; Phạm Ngọc Cảnh với Đêm Quảng Trị, Lý ngựa ô ở hai vùng đất; Trong đó có những tác giả xuất sắc ở cả hai lĩnh vực văn và thơ, là Trần Đăng Khoa với Góc sân và khoảng trời, Đảo chìm, Chân dung đối thoại; Nguyễn Bình Phương với Một ví dụ xoàng, Mình và họ, Buổi câu hờ hững...
Qua đó cho thấy trong hành trình 70 năm qua, tạp chí Văn nghệ Quân đội không chỉ là một diễn đàn văn học nghệ thuật qua những trang văn, câu thơ, những số phận con người được ghi lại từ chiều sâu của lịch sử, và tạp chí còn là một diễn đàn lớn luôn đồng hành sâu sắc, lưu dấu ấn với mọi buồn vui qua từng cuộc vận động chính trị, kinh tế của đất nước.
Điều làm nên sức sống của Văn nghệ Quân đội trước hết là sự gắn bó sâu sắc giữa văn chương với đời sống dân tộc. Trong những năm tháng chiến tranh, khi bom đạn tàn phá cả ba miền đất nước, văn học không đứng ngoài cuộc chiến. Những trang viết hướng về chiến trường, về người lính và về người ở hậu phương đã góp phần lưu giữ một thời đại đầy máu lửa. Ở đó, người lính không chỉ được nhìn như một biểu tượng của lòng dũng cảm mà còn được khám phá trong đời sống tâm hồn phong phú: họ biết yêu, biết mơ ước, biết đau đớn và biết hi sinh những điều riêng tư nhất vì nghĩa lớn.
Một giá trị khác của Văn nghệ Quân đội là vai trò phát hiện và nâng đỡ những cây bút mới. Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại cho thấy nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ đã từng xuất hiện, thử sức và trưởng thành từ những diễn đàn văn chương như thế. Một tờ tạp chí văn học có sức sống không chỉ nằm ở những tên tuổi đã thành danh mà còn ở khả năng nhận ra những giọng nói mới. Mỗi tác phẩm của một cây bút trẻ được đăng tải có thể là điểm khởi đầu cho một hành trình văn chương dài của họ. Bởi vậy, Văn nghệ Quân đội không chỉ lưu giữ mà còn góp phần tạo ra tương lai của văn học.
Trong dòng chảy văn học Việt Nam, Văn nghệ Quân đội vì vậy mang một vị trí riêng. Đó là nơi gặp gỡ của văn chương và đời sống, của người lính và người nghệ sĩ, của kí ức chiến tranh và những suy tư thời bình. Nếu lịch sử ghi lại những gì đất nước đã trải qua thì văn chương lưu giữ cách con người cảm nhận và sống qua lịch sử ấy. Những trang viết hôm qua vì thế không chỉ thuộc về hôm qua. Chúng trở thành kí ức, trở thành tiếng vọng để các thế hệ sau hiểu hơn về một thời đại mà mình không trực tiếp trải qua.
Và có lẽ, giá trị bền vững nhất của một tờ tạp chí văn học không chỉ nằm ở việc nó đã xuất bản bao nhiêu số, giới thiệu bao nhiêu tác phẩm hay phát hiện bao nhiêu cây bút. Giá trị quan trọng hơn là ở những gì còn ở lại trong tâm trí bạn đọc sau khi trang giấy đã khép lại. Một câu thơ khiến người ta nhớ quê hương. Một truyện ngắn khiến người ta hiểu hơn nỗi đau của chiến tranh. Một nhân vật khiến người ta tin hơn vào lòng tốt. Một trang văn khiến người ta biết trân trọng hòa bình.
*

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi. Ảnh: vanvn
Với tôi, là một bạn đọc và cũng là một cây bút đã có những trang văn, thơ được đăng trên tạp chí bắt đầu từ kỉ niệm với một nhà thơ - biên tập viên, một tài năng, một tấm lòng vì nghệ thuật. Đó là nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu (1948–2026) quê Nam Điền, Nam Trực, Nam Định (cũ). Ông nhập ngũ năm 1966, trực chiến đấu ở chiến trường B và ở nước bạn Lào. Từ trải nghiệm trực tiếp ấy là cơ sở nền tảng của thơ ông: ông không đứng ngoài chiến tranh để “viết về người lính”, mà là một người lính viết từ bên trong cuộc chiến. Nhờ vậy mới có một giọng thơ Nguyễn Đức Mậu mang tiếng nói bi tráng, giàu kí ức chiến trận và đặc biệt nặng tình đồng đội.
Nguyễn Đức Mậu là nhà thơ thời trận mạc, và hơn nữa, có thể gọi thêm ông là: “nhà thơ của người lính sau khi tiếng súng đã lắng xuống - theo Mã Giang Lân”. Bởi ông không chỉ viết về lúc người lính ra trận, mà còn viết rất nhiều về những người đã không trở về, kí ức của người sống sót, những di vật chiến tranh và món nợ tình cảm với đồng đội. Sự nghiệp của nhà thơ chiến sĩ Nguyễn Đức Mậu khá đồ sộ, có thể kể đến qua các tập/bài thơ:
Với các tập/trường ca đã xuất bản: Thơ người ra trận - 1971, (in chung), Cây xanh đất lửa - 1973; Trường ca Sư đoàn; Hoa đỏ nguồn sông - 1987; Từ hạ vào thu - 1992; Cánh rừng nhiều đom đóm bay - 1998; Thơ lục bát - 2007; Mở bàn tay gặp núi - 2008…
Thơ trong các tập đó có những bài được chép vào các trang sổ tay bao người một thời, như: Nấm mộ và cây trầm, bài thơ được trao Giải thưởng Văn học 27-7 năm 1977. Điều đặc biệt là từ một nấm mộ của người đã hi sinh, Nguyễn Đức Mậu mở rộng ra câu chuyện về kí ức, lòng căm thù, sự tiếp nối giữa người chết và người sống: người chết không biến mất; họ tồn tại trong kí ức và trách nhiệm của người còn sống.
Và Màu hoa đỏ - Có lẽ là bài thơ được công chúng rộng rãi biết đến tên tuổi Nguyễn Đức Mậu nhiều nhất khi được cộng hưởng với âm nhạc. Thật xúc động, và sẽ mãi còn xúc động, mãi nhắc nhở lòng người hậu thế về một thời đất nước đau thương, li biệt mỗi khi ca khúc Màu hoa đỏ được hát lên.
Và Trường ca Sư đoàn - Nếu muốn hiểu Nguyễn Đức Mậu với tư cách “nhà thơ sư đoàn”, thì đây là tác phẩm quan trọng. Khác với thơ trữ tình ngắn, trường ca cho phép nhà thơ dựng lại một cộng đồng chiến đấu: người lính, đơn vị, chiến trường, mất mát, hành quân, những người còn sống và những người nằm lại. Có thể nói đây là một phần quan trọng trong “sử thi cá nhân” của ông.
Đọc Nguyễn Đức Mậu, ta gặp rất nhiều: người lính; nấm mộ; di vật chiến tranh; đồng đội; mẹ; quê hương; những người không trở về; và người còn sống mang kí ức ấy đi suốt cuộc đời…
*
Với riêng tôi, đến giờ tôi không còn nhớ bài thơ đầu tiên của tôi được đăng trên tạp chí số nào trong khoảng thời gian đầu những năm 1990, nhưng lại nhớ mãi lần đầu tôi được làm quen với nhà thơ qua một người bạn mang lời nhắn của biên tập viên Nguyễn Đức Mậu tới nhà, ông đề nghị tôi sửa một câu trong bài thơ, và ông đề nghị tôi gửi thêm cho ông một chùm thơ. Kể từ đó tôi được thường xuyên giữ liên hệ với ông. Khi có tập mới ông gửi tặng, và đôi lần ông hẹn về tôi chơi mà chưa lần thực hiện được… Thơ văn tôi được đăng thường xuyên hơn trên tạp chí phần nhiều qua tay đỡ của ông. Để rồi tiếp sau, các sáng tác của tôi được đón nhận ân cần khi đến tay các nhà văn biên tập lớp sau, với những Phùng Văn Khai, Nguyễn Đình Tú, Đoàn Văn Mật, Nguyễn Thanh Tâm... Là người sáng tác thì có niềm vui nào bằng khi tác phẩm được giới thiệu trên tờ tạp chí văn học uy tín bậc nhất của đất nước.
Thật nhiều cảm kích, tri ân tạp chí Văn nghệ Quân đội cùng đội ngũ các nhà văn biên tập viên, cùng với rất nhiều thương nhớ và tri ân nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - người đầu tiên đã mở tay chào đón thơ tôi!
Nhà thơ ĐỖ TRỌNG KHƠI