Thứ Hai, 08/06/2026 00:31

Văn học đang bị nhịp sống hiện đại cuốn đi

Tôi không rõ ở những người khác thì thế nào nhưng với tôi thì sự quan tâm đến lí thuyết văn học lại bắt đầu từ việc nghiên cứu văn học sử... (UÔNG TRIỀU thực hiện)

PGS.TS Trần Văn Toàn sinh năm: 1973

Quê Quán: Vụ Bản, Nam Định (nay là Hiển Khánh, Ninh Bình), hiện là giảng viên Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội.

Công trình đã xuất bản:

- Nghiên cứu văn học Việt Nam những khả năng và thách thức (viết chung), Tủ sách KHXH do viện Harvard Yenching tài trợ, Nhà xuất bản (NXB) Thế giới, 2009

- Phê bình văn học Việt Nam 1975 - 2005 (viết chung), NXB Đại học Sư phạm, 2012

- Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 (viết chung), NXB Đại học Sư phạm, 2016

- Thượng Hải - Tokyo - Hà Nội - Seoul trong văn chương Đông Á đầu thế kỉ XX (viết chung) NXB Văn hoá - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2017

- Lược sử văn học Việt Nam (viết chung), NXB Đại học Sư phạm, 2021

- Văn học như một diễn ngôn, NXB Đại học Sư phạm, 2024

Tặng thưởng mức A của Hội đồng Lí luận Trung ương 2025

Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2025.

Nhân dịp PGS.TS Trần Văn Toàn nhận giải thưởng của Hội đồng Lí luận Trung ương và Hội Nhà văn Việt Nam về tác phẩm Văn học như một diễn ngôn, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông xoay quanh chủ đề cuốn sách, những vấn đề của nghiên cứu văn học, sáng tác, dạy văn, học văn...

- Đầu tiên xin mừng PGS. TS Trần Văn Toàn vì ông vừa đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam ở hạng mục Lí luận phê bình với tác phẩm, Văn học như một diễn ngôn. Ông có tâm trạng gì khi cuốn sách của mình được tôn vinh và liệu đây có là cú hích cho những công trình lớn và sâu hơn nữa của ông?

+ Cảm ơn anh! Tôi hoàn thành cuốn sách trong tâm thế để tri ân với các thầy cô, các bậc tiền bối đã dạy dỗ mình, để trả nợ với sinh viên đã lắng nghe - tin tưởng đồng hành với tôi. Tôi tuyệt đối không hề biết, nghĩ đến một giải thưởng nào. Nhưng khi cuốn sách được trao giải thì thực sự là rất vui! Đó là sự động viên to lớn. Nói giải thưởng là cú hích thì có lẽ không hoàn toàn đúng nhưng quả thật nó đã và sẽ tiếp thêm cho tôi những năng lượng để theo đuổi những ý tưởng của mình. Anh là người viết nên chắc dễ hiểu và chia sẻ với tôi điều này!

- Vậy thì đâu là cú hích cho những ý tưởng của ông khi viết cuốn sách này?

+ Tôi nhớ không nhầm thì J. Culler có một nhận xét là từ những năm 1960 người ta đã không chỉ quan tâm đến nghĩa mà đã chuyển sang quan tâm đến những nhân tố kiến tạo nên nghĩa. Đối với M. Foucault thì nghĩa/sự thật/chân lí không phải là được tìm ra mà được kiến tạo ra thông qua những tương tác phức tạp giữa quyền lực và tri thức. Đây mới là cú hích cho những nghiên cứu của tôi về văn học. Cuốn sách của tôi, trên những dữ kiện của văn học sử Việt Nam, là một nỗ lực để làm rõ sự tương tác của quyền lực/tri thức trong việc định hình những giá trị văn học, thậm chí là định hình nên chính diện mạo của văn học. Trong gần 20 năm, những bài viết của tôi đều chỉ xoay quanh một đích hướng duy nhất này.

- Theo ông, một người viết văn cần biết lí thuyết văn học không và liệu điều ấy có ảnh hưởng gì đến sáng tác của anh ta?

+ Nói về vấn đề này thì tôi nghĩ anh mới là người có thẩm quyền chứ. Là người sáng tác, tôi thấy anh không chỉ đọc mà còn viết rất sâu về phê bình, lí luận. Quan điểm của anh về vấn đề này là gì?

- Về cá nhân người viết văn, tôi cho rằng biết ít nhiều lí thuyết văn học sẽ giúp người viết tự tin, sáng rõ trên con đường của mình và trong từng tác phẩm cụ thể. Ví dụ, tôi cũng biết cơ bản về những khái niệm như hậu hiện đại, liên văn bản, người kể chuyện không tin cậy, đọc như một quá trình... điều ấy khiến tôi mạnh tay và thoải mái hơn trong quá trình sáng tác.

+ Đúng thế. Chia sẻ của anh làm tôi nhớ đến nhà thơ Lê Đạt. Đọc những bài viết của ông, lần theo những tài liệu mà ông trích dẫn tôi thấy tri thức của nhà thơ Lê Đạt về lí thuyết văn học rất hiện đại. Ông là người giới thiệu về nguyên lí bổ sung (thay thế cho nguyên lí ngoại trừ của triết học cổ điển) trong sáng tác và tiếp nhận văn học. Ông cũng đặc biệt am hiểu những lí thuyết về ngôn ngữ… Và tôi tin rằng những tri thức đó đã thúc đẩy và mài sắc những tìm tòi, cách tân thơ của ông.

- Mối quan hệ giữa nhà nghiên cứu phê bình và nhà văn thường lúc đậm lúc nhạt và tuỳ thời điểm nữa. Liệu một nhà nghiên cứu phê bình văn học khi là bạn của nhà văn thì điều ấy có thể mang lại hoặc ảnh hưởng những gì?

+ Câu hỏi của anh làm tôi nhớ đến một người thầy của tôi là GS. Nguyễn Đăng Mạnh. Thầy Mạnh rất có ý thức tìm hiểu các nhà văn không chỉ qua những tác phẩm của họ mà còn qua những tiếp xúc trong đời thực. Ông là bạn tâm giao với nhiều nhà văn lớn (cũng là những đối tượng nghiên cứu của ông): Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải… Đó là những tình bạn, những kết giao qua nhiều năm tháng. Điều này đã khiến ông mở ra một hướng nghiên cứu riêng rất độc đáo: phê bình chân dung. Ông để lại trên 30 cuốn sổ tay ghi chép tất cả những ý kiến, những buổi gặp gỡ và trao đổi của mình với các nhà văn. Đây không chỉ là những câu chuyện cá nhân nữa mà thực sự trở thành những tư liệu văn học sử rất quý giá. Nó giúp ta hiểu đời sống văn chương từ góc nhìn vi - lịch sử, từ những chuyện bếp núc. Nhân đây tôi cũng muốn chia sẻ với anh một sự kiện: anh Nguyễn Đăng Thanh và những học trò của GS. Nguyễn Đăng Mạnh vừa mới xây dựng một trang facebook riêng cho thầy và một trong những mục tiêu của trang này là công bố tất cả nội dung của những ghi chép trên. Đây sẽ là nguồn tư liệu rất hữu ích cho những ai làm văn học sử.

Về cá nhân mình, tôi không có nhiều quan hệ sâu và thường xuyên với các nhà văn. Lẽ đương nhiên, tôi cũng có một vài những người bạn (chủ yếu là vong niên) từ những nhà văn: Trần Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Nhật Ánh… Nhưng đó chủ yếu là quen biết từ những nhân duyên, những tương tác xã hội hơn là hướng tới những mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Tuy vậy, những câu chuyện và trao đổi của họ giúp tôi hiểu rõ hơn về tâm lí sáng tạo của nhà văn, hình dung được phần nào thế giới của người cầm bút hoặc những câu chuyện bếp núc của đời sống sáng tác… Tất của những điều đó đóng vai trò là những mách bảo những tri thức nền cho những nghiên cứu của tôi.

- Tôi biết ông là một trong số ít người chuyên tâm với việc nghiên cứu các lí thuyết văn học, điều gì thôi thúc ông làm công việc khó khăn và cũng có thể ít người biết đến này?

+ Tôi không rõ ở những người khác thì thế nào nhưng với tôi thì sự quan tâm đến lí thuyết văn học lại bắt đầu từ việc nghiên cứu văn học sử. Chính trong quá trình tiếp xúc với sự bề bộn của tư liệu văn học sử mà tôi nhận ra những giới hạn trong bộ khung lí thuyết trước đó và điều này thúc đẩy tôi tìm kiếm những lí thuyết mới để có thể nhận diện một cách bao quát hơn, sâu hơn về văn học sử dân tộc. Ở thời điểm hiện nay, người ta đang chứng kiến sự bùng nổ của lí thuyết văn học. Với một người tự học như tôi, điều đó không hiếm khi khiến tôi cảm thấy ngợp. Kinh nghiệm của tôi ở đây là: luôn cố gắng tìm hiểu lí thuyết nhưng để trả lời, lí giải cho những hiện tượng những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn của văn học dân tộc. Điều này khiến các lí thuyết đến với tôi không quá tư biện và khô khan. Lẽ đương nhiên, luôn có một tương tác hai chiều. Những lí thuyết mới giúp chúng ta có khả năng chất vấn cách tiếp cận văn học sử trước đó hoặc, thú vị hơn, nhìn ra những sự kiện, những vấn đề văn học sử mà những lí thuyết trước đó đã bỏ qua. Những phản biện, những phát hiện đó luôn đem lại cảm hứng và niềm vui rất đặc biệt đối với người làm nghiên cứu.

- Giờ nói về chuyện dạy văn, học văn, hiện ông đang công tác trong ngành giáo dục và tham gia đào tạo giáo viên văn cho cả nước. Ông đánh giá thế nào về thái độ của học viên, sinh viên đối với văn chương? Các em chọn học văn vì yêu thích hay chỉ coi đó là một nghề? Và liệu người thầy từ bậc đại học cho đến phổ thông có thể ảnh hưởng hoặc truyền cảm hứng đến các thế hệ giáo viên, sinh viên, học sinh về tình yêu văn chương?

+ Câu hỏi này lớn quá. Để nói về nó có lẽ cần đến cả một hội thảo cấp quốc gia. Ở đây, tôi chỉ muốn nhấn mạnh một điểm: cách mà chúng ta tiếp cận với môn văn quyết định rất nhiều đến tình yêu văn chương của học sinh. Môn văn là môn học của sự sáng tạo. Trong văn chương, ngay cả khi người ta nghĩ giống nhau thì họ cũng không nói giống nhau cơ mà. Tôi có may mắn là ngay từ phổ thông đã được thụ giáo với những người thầy dạy văn rất tâm huyết, rất sáng tạo. Thời gian tôi học cấp 3 (1986 - 1989) trùng khít với cao trào của thời kì đổi mới. Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, của Phạm Thị Hoài… là những thách thức thực sự với khung tiếp nhận của văn học truyền thống. Đấy cũng là thời kì những tác phẩm của phong trào Thơ Mới bắt đầu được đánh giá lại. Chưa có bất kì một hướng dẫn, một định hướng nào từ các cấp quản lí giáo dục nhưng chính các thầy giáo dạy tôi đã đưa những tác phẩm này vào trong giờ học, hướng dẫn chúng tôi đọc và cùng trao đổi thảo luận. Có lẽ chính môi trường dạy học đầy cách tân và mới mẻ đó đó đã khiến tôi yêu thích văn chương, yêu thích đọc và nghiên cứu văn chương. Như tôi đã chia sẻ ở trên, tôi viết cuốn sách của mình, trước tiên, là để tri ân với những thầy cô đã dạy dỗ mình. So với tâm sức các thầy cô đã dành cho tôi, những trang viết của tôi quả thật còn rất ít ỏi!

- Còn về việc đọc, tôi không rõ các nhà nghiên cứu phê bình có thường xuyên cập nhật các tác phẩm văn học mới trong quá trình giảng dạy nghiên cứu hay không? Bởi thực tế, tôi biết nhiều giáo viên chỉ quen với những tác phẩm được giảng dạy ở trong trường; ngoài ra họ biết rất ít, thậm chí không đọc thêm các tác phẩm khác. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

+ Phê bình thì đương nhiên phải cập nhật với đời sống văn học rồi. Và tôi thấy đội ngũ các nhà phê bình hiện nay là khá đông đảo. Cố nhiên, để trở thành một cây bút phê bình sắc sảo, tâm huyết để trợ lực cho sáng tác thì lại không dễ. Còn nghiên cứu thì thời nào cũng thế, vẫn luôn có khoảng cách với văn học đương đại. Ý tôi là: với nhà nghiên cứu thì chỉ những tác phẩm có tính đột phá của văn học đương đại mới trở thành đối tượng của họ. Tác phẩm đó hoặc là soi sáng một vấn đề lí thuyết nào đó mà họ theo đuổi hoặc thách thức những giới hạn nhận thức của họ.

Với giáo viên thì chương trình 2018 là một thay đổi lớn. Khi sách giáo khoa chỉ còn là ngữ liệu thì người giáo viên buộc phải tương tác nhiều hơn với những tác phẩm trong đời sống đương đại. Nhưng ở đây cũng có những thách thức. Thẩm định về một tác phẩm có giá trị để đưa vào làm ngữ liệu trong nhà trường là không dễ dàng. Các thầy cô giáo chưa được chuẩn bị đầy đủ cho sự “độc lập tác chiến” này. Việc thay đổi chương trình cũng chỉ mới được thực hiện trong thời gian ngắn nên họ cũng chưa có nhiều trải nghiệm. Chúng ta phải cần thời gian. Nhưng chính ở đây, vai trò của các nhà phê bình văn học là hết sức quan trọng trong việc định hướng và định hình nguồn ngữ liệu tác phẩm văn học chuẩn.

- Và từ những lứa học viên, sinh viên mà chính ông giảng dạy, hướng dẫn, ông có hi vọng gì không?

+ Học sinh và sinh viên ngày nay yêu văn học theo cách của họ. Với họ, có lẽ tiếp cận văn học bằng kênh chữ, bằng đọc văn bản không còn đủ sức hấp dẫn nữa. Họ thích biến những tác phẩm đó thành sân khấu, họ thích trình diễn nó. Khoảng những năm 2016 - 2018 khi còn làm Phó Trưởng khoa phụ trách đào tạo của Khoa Ngữ văn tôi và các đồng nghiệp của mình có dàn dựng một số chương trình về Xuân Quỳnh, về Nguyễn Bính để đưa những tác phẩm của các nhà thơ trên lên sân khấu: dựng hoạt cảnh từ những tác phẩm của họ, phổ nhạc cho những tác phẩm thơ… Bộ môn văn học Việt Nam hiện đại của tôi cũng có một hoạt động thường niên: tổ chức những buổi tọa đàm với các nhà thơ nhà văn đương đại: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương và mới đây nhất là Chu Lai… Ở những buổi tọa đàm này, sinh viên của chúng tôi ngoài việc tiếp nhận những chia sẻ của các nhà thơ, nhà văn hoặc viết những review những lời bình về các tác phẩm (những cách tiếp cận và tương tác truyền thống) thì họ còn đặc biệt hào hứng trong việc phổ thơ hay sân khấu hóa một phần tác phẩm. Họ thực hiện những hoạt động này một cách say mê và đầy sáng tạo. Đôi khi chính tôi cũng không nhận ra họ. Họ trở thành những con người khác hẳn. Những sinh viên mà đôi khi gây cho tôi cảm giác về một sự thụ động và uể oải trên giảng đường bỗng trở thành những gương mặt đầy cảm xúc và tinh tế, đột phá trên sân khấu. Sau mỗi sinh hoạt như thế tôi thường nhắn nhủ: mong các em hãy đem tinh thần sáng tạo này vào trong giảng đường. Tuy nhiên, thời gian gần đây tôi cũng phải đặt câu hỏi: phải chăng giảng đường với lối giảng dạy truyền thống đang dần phải sân khấu hóa ở một mức độ nào đó để mở cửa cho những tiếp cận văn học phi truyền thống của sinh viên? Ý tôi là: học sinh, sinh viên muôn đời vẫn trẻ trung, vẫn luôn tiềm tàng những năng lượng sáng tạo. Chúng ta luôn có quyền hi vọng về họ. Vai trò của nhà giáo dục là phát hiện và khơi mở những tiềm năng đó. Nhưng đây lại là câu chuyện khó, rất khó. Để trả lời nó cần sự tâm huyết, sự hợp lực của cả một cộng đồng giáo dục.

- Và câu hỏi cuối cùng, ông nghĩ sao về bức tranh văn học đương đại Việt Nam? Có điều gì trong đời sống văn học hiện nay khiến ông đặc biệt quan tâm, suy tư hoặc trăn trở?

+ Viết và đọc có nhịp điệu riêng của nó. Nó cần sự chậm rãi để lắng nghe người khác và chính mình. Chính sự chậm rãi đó mới có thể đem lại cảm xúc, mới có thể giúp ta hình thành những câu hỏi. Nhịp sống hiện nay nhanh quá. Ai cũng tất tả vội vã với deadline với các thông số KPI nhưng cũng vì thế mà đời sống mất đi chiều sâu, chiều xa. Xã hội truyền thông với những thông tin ngắn gọn, với những tác động mì ăn liền của phong cách quảng cáo và gần đây là sự xuất hiện của AI cũng khiến bộ óc của con người trở nên lười nhác. Người ta kì vọng văn học sẽ giúp con người biết sống chậm lại nhưng tôi lại có cảm giác văn học (cả người viết và người đọc) đang bị nhịp sống hiện đại cuốn đi. Sặc sỡ nhưng phù du, náo động mà hư rỗng. Đó là cảm giác của tôi về cuộc sống và văn học đương đại. Nhưng có lẽ đó là vì tôi đã bắt đầu già đi? Đột nhiên tôi nhớ tới nhan đề một truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: Sống dễ lắm. Nhân vật chính trong đó là một ông giáo già. Và anh Thiệp viết truyện ngắn ấy năm 2000!

- Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

U.T