Chủ Nhật, 23/08/2026 10:16

Tình quê, tình người trong trang văn Thanh Tịnh

Câu chữ trong trang văn Thanh Tịnh không bạo liệt và phô diễn các cạnh khía kịch tính của đời sống, nhưng lại có sức thấm bền, day dứt.

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam hiện đại, có những nhà văn chinh phục người đọc bằng những câu chuyện gay cấn, xung đột quyết liệt hay vấn đề lớn lao của xã hội. Nhưng cũng có những cây bút chỉ cần phác thảo một mái nhà đơn sơ, con đường làng quanh co, bến đò xưa lặng lẽ, tiếng gọi thân quen hay bóng dáng tảo tần của mẹ đã đủ để làm rung động miền sâu kín trong tâm hồn. Thanh Tịnh thuộc về những nhà văn như thế! Câu chữ trong trang văn Thanh Tịnh không bạo liệt và phô diễn các cạnh khía kịch tính của đời sống, nhưng lại có sức thấm bền, day dứt. Vì phía sau mỗi trang viết ấy luôn thấp thoáng một tình yêu quê hương tha thiết và cái nhìn nhân hậu đối với con người.

Sinh ra và lớn lên tại làng Dương Nỗ, Phú Vang, Thừa Thiên Huế, Thanh Tịnh (1911–1988) là một gương mặt đặc biệt của văn học Việt Nam thế kỉ XX. Sự nghiệp sáng tác của ông trải rộng trên nhiều thể loại, từ thơ đến truyện ngắn, bút kí, hồi kí. Dù viết về điều gì, thể loại nào, ngòi bút ấy vẫn giữ được một giọng điệu riêng: nhẹ nhàng, trong trẻo, giàu chất thơ và tinh tế khám phá thế giới nội tâm. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân từng nhận ra ở thơ Thanh Tịnh mang chất riêng khó tả: “Xem thơ Thanh Tịnh cái cảm giác trổi nhất của tôi là thấy cái gì cứ dàn trải, dàn trải hoài mà lạc lõng. Có lẽ là một mặt hồ. Cũng chưa đúng. Hồ còn có bờ, có hình nhất định. Ở đây không có bờ, và nước - âu cũng phải gọi là nước - cứ chảy tràn lan. Những cảnh sắc in hình trên mặt nước vẫn thường thay đổi; có khi là một cây liễu rũ, cũng có khi là lũy tre. Nhưng sắc dầu có khác cảnh bao giờ cũng chỉ ngần ấy nước mà thôi. Có một lần người ta bỗng thấy trên mặt nước dựng lên một lâu đài xương máu, nhưng khi người ta tới nơi, nó lại biến đâu mất. Thì ra một ảo ảnh” (Hoài Thanh, Hoài Chân, 1998, tr.73). Nhận xét ấy, ở một phương diện nào đó, cũng có thể dùng để soi chiếu văn xuôi. Bởi đọc truyện của ông, người ta có cảm giác như đang đi trên một con đường đến cõi mênh mông ngút ngàn, không có địa danh cụ thể, chỉ là về với những gì thân thuộc đã góp phần làm nên căn cước tinh thần mỗi người.

Nhà văn Thanh Tịnh (1911 - 1988). Ảnh: TL & AI

Nhắc đến Thanh Tịnh, độc giả thường nhớ đến Tôi đi học - thiên truyện ngắn đã trở thành một phần kí ức tuổi thơ của nhiều thế hệ người Việt. Đó là thế giới với “những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường” và cảm giác “lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng” khi thu sang. Chỉ từ buổi sáng đi học đầu tiên, Thanh Tịnh đã chạm đến một quy luật tâm thức: có những khoảnh khắc tưởng nhỏ bé mà đeo đẳng suốt đời người. Với hai tập truyện ngắn tiêu biểu gồm Quê mẹNgậm ngải tìm trầm, Thanh Tịnh đã mở ra những cung bậc của tình quê, tình người. Ở đó, quê hương không chỉ là nơi để nhớ về mà còn là một không gian văn hóa, điểm tựa tinh thần; con người hiện lên với những lát cắt mang số phận bé nhỏ, côi cút, thiện lương, được nhà văn nâng niu, sẻ chia.

Điểm tựa tinh thần mang đậm bản sắc xứ Huế

Trong công trình Geocriticism: Real and Fictional Spaces (Phê bình địa văn hóa: Không gian hiện thực và không gian hư cấu, 2007), Bertrand Westphal đã xem “không gian không phải là phông nền mà là chủ thể của văn bản” (Westphal, 2007, tr.5). Westphal cho rằng trong nhiều thế kỉ, nghiên cứu văn học chịu sự chi phối của thời gian (lịch sử, tiến trình, diễn biến cốt truyện). Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, không gian trở thành phạm trù trung tâm để hiểu văn học và văn hóa. Ông đề xuất lý thuyết Phê bình địa văn hóa (Geocriticism) như một phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết nối văn học với địa lý, kiến trúc, nhân học, xã hội học và nghiên cứu môi trường. Westphal nhận thấy không gian trong thế giới văn học nghệ thuật không đơn thuần là sự sao chép của các tọa độ địa lí một cách khô khan mà là một quá trình mài giũa có chọn lọc bằng việc tái cấu trúc và sự sáng tạo của nghệ thuật ngôn từ. Chính vì vậy, tiếp cận tác phẩm dưới góc độ địa lí, vùng miền là một trong những cách thức giúp độc giả hiểu rõ giá trị văn hóa được hàm chứa trong từng câu chữ.

Điểm qua một số nhà văn trên thế giới sẽ thấy dấu ấn của nơi chốn, bản quán qua từng sáng tác. Quê hương Cao Mật là mạch nguồn cảm hứng của Mạc Ngôn; miền Thương Châu xuất hiện thường trực qua truyện Giả Bình Ao; những thôn làng bên kia dãy núi Bả Lâu, huyện Hà Nam là chốn tưởng tượng phiêu bồng của Diêm Liên Khoa. Ở Việt Nam, phố huyện Cẩm Giàng đã trở thành biểu tượng nghệ thuật trong văn Thạch Lam; một Hà Nội với những xô bồ đầu thế kỉ XX qua sáng tác của Vũ Trọng Phụng. Với Thanh Tịnh, dấu ấn quê hương ấy được kết tinh trong hình ảnh làng Mỹ Lý và rộng hơn là không gian văn hóa xứ Huế - miền đất đã nuôi dưỡng tâm hồn, tạo nên giọng điệu và định hình thế giới nghệ thuật của nhà văn.

Ở tập truyện Quê mẹ, Thanh Tịnh đã gom hết niềm yêu và nỗi nhớ quê hương vào mỗi trang văn. Chuyện nào cũng thấy bóng dáng của xứ Huế trong đó. Làng Mỹ Lý là địa chỉ thương nhớ để ngân lên câu ca trĩu nặng của người con gái lấy chồng xa: “chiều chiều ra đứng cửa sau/ Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều” (Quê mẹ), là nơi chứng kiến cuộc sống khốn khó của vợ chồng anh xâu, ông cháu lão mù (Con so về nhà mẹ, Am cu-li xe), là trạm dừng chân cho mối tình lãng mạn mà đầy dang dở, tiếc nuối (Tình thư), là chỗ neo đậu giọng hò tha thiết bên dòng Hương giang (Quê bạn), nơi dìu bước chân trẻ thơ đến trường làng trong niềm bỡ ngỡ, hân hoan (Tôi đi học), Bến Nứa với con thuyền đi từ xóm chợ lá làng Thiên đến làng Viễn Trình vọng về niềm khắc khoải và mong đợi của người góa phụ cùng đứa con thơ (Bến Nứa),… Làng Mỹ Lý là một không gian của kí ức, nơi những cảnh vật bình dị đã thấm vào tâm hồn nhà văn từ thuở ấu thơ để rồi nhiều năm sau vẫn trở về trong từng câu chữ với nguyên vẹn sức gợi. Cùng với Mỹ Lý, những địa danh khác ở Thừa Thiên được nhắc đến như phá Cầu Hai, cửa biển Tư Hiền, dãy Trường Sơn, hòn Bạch Mã, đèo Phước Tượng, sông Phù Mỹ, núi Truồi, núi Tùy Vân. Thêm vào đó là những làng quê đại diện cho văn hóa làng xã nông nghiệp của Huế như làng Thanh Ý, làng Thế Chí, làng Vân Thọ, làng Thanh Mỹ, làng Hòa An, xóm Bình Lư, am Cổ Lại. Tất cả hiện diện như những mảnh ghép của một thế giới đã được nội tâm hóa. Bởi thế, đọc Thanh Tịnh, độc giả cảm nhận được một miền quê đã đi qua tâm hồn, được gạn lọc bằng hồi ức và tình yêu.

Tác phẩm "Tôi đi học" của Thanh Tịnh được đưa vào sách giáo khoa, trở thành một phần kí ức của đông đảo các thế hệ học trò. Ảnh: vntre.vn

M. Bakhtin từng khẳng định không gian nghệ thuật không phải là “cái phông” tĩnh tại của sự kiện mà luôn gắn với thời gian, với hành trình và số phận của nhân vật trong một chỉnh thể mà ông gọi là “chronotope” - “không-thời gian nghệ thuật” (Bakhtin, 1981). Từ gợi ý ấy, có thể thấy xứ Huế trong sáng tác Thanh Tịnh là một không gian vừa có thực vừa được tái tạo qua lăng kính kí ức. Những địa điểm cụ thể của quê hương, khi đi vào văn chương, không còn giữ nguyên trạng thái địa lí ban đầu. Chúng được phủ lên bởi thời gian, bởi hoài niệm và những trải nghiệm riêng tư của người viết. Nhưng điều làm nên sự khác biệt của Thanh Tịnh là ông không huyền thoại hóa quê hương bằng những biến cố phi thường. Ông giữ lại vẻ bình dị của nó. Cái đẹp của làng quê trong văn ông không phải là vẻ đẹp choáng ngợp mà là vẻ đẹp khiến người ta càng nhớ càng thấy gần gũi. “Ở vùng quê, một đêm trăng. Gió thổi đều đều qua ngọn cây và lay nhẹ những tàu lá xám. Trăng sáng và trời không mây” (Quê bạn). “Một buổi chiều vàng rộng mênh mông. Trên dòng sông hẹp hai chiếc thuyền như cố theo nhau ráo riết. Chiếc trước nhỏ, dáng mảnh khảnh mình thon chỉ được một cánh buồm nâu hình tam giác. Chiếc sau trông mạnh mẽ, gỗ láng và mui cao. Phía trước lại có hai cánh buồm uốn phồng thật cong như nuốt gió. Hai chiếc cứ thong thả lướt nhẹ trên dòng sông cách nhau chừng vài trăm bước… Chiều hôm ấy nghe nắng đã bớt màu gay gắt, và gió đông nam bắt đầu nổi sau độn cát chùa Quang” (Tình trong câu hát). Có lẽ, những hình ảnh con đường quen, buổi chiều yên ả, khu vườn đầy nắng, một tiếng gọi đò đưa, cuộc gặp gỡ giữa những người thân... những điều ấy, khi được đặt vào dòng chảy của hồi ức, bỗng có một sức sống khác. Ở phương diện này, Thanh Tịnh gặp gỡ với quan niệm của Gaston Bachelard về không gian thân thuộc. Trong Thi pháp không gian (The Poetics of Space), Bachelard cho rằng những không gian gắn bó với con người, đặc biệt là ngôi nhà và những nơi chốn của tuổi thơ, không chỉ tồn tại trong trí nhớ như những hình ảnh đã qua mà tiếp tục sống trong đời sống tưởng tượng, trở thành nơi trú ngụ của tâm hồn (Bachelard, 1994). Làng Mỹ Lý trong truyện ngắn Thanh Tịnh có thể được cảm nhận từ chiều sâu ấy. Đó là nơi nhà văn đã từng sống, cũng là nơi ông luôn mang theo trong hành trình tinh thần.

Từ Quê mẹ đến Ngậm ngải tìm trầm, nhà văn mở rộng biên độ cảm nhận về mảnh đất Thừa Thiên. Quê hương của ông còn gắn với những vùng đất gắn với huyền thoại và câu chuyện liêu trai được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nhờ vậy, không gian xứ Huế trong văn Thanh Tịnh không bị giới hạn trong một bức tranh thơ mộng, mà hiện ra đa diện, vừa gần gũi vừa huyền bí, vừa mang vẻ đẹp của đời sống thường nhật vừa chứa đựng khoảng sâu của tâm thức dân gian. Đọc truyện Ngậm ngải tìm trầm, chúng ta bước vào hành trình mưu sinh kham khổ của những người dân nghèo xứ Truồi. Một trong những sinh kế của dân bản địa quanh núi Kim Vân là bám vào rừng, tìm trầm đổi đời. Trầm hương tự nhiên không mọc thành vườn. Nó nằm lẩn khuất trong những cánh rừng già dọc dãy Trường Sơn, ẩn dưới thân những cây dó bầu đã bị thương qua hàng chục năm chịu nắng, chịu sương, chịu bao dông bão. Muốn tìm được, người phu trầm phải đi hàng tuần, hàng tháng trong rừng sâu, sâu đến mức không còn nghe tiếng gà gáy, không còn dấu chân người. “Rồi kết quả lắm lúc cũng chẳng ra gì. Đó là chưa nói phải vào tận trong núi xanh và vượt qua nhiều cánh rừng nguy hiểm. Muốn tránh tai họa, người đi tìm trầm phải ngậm ngải” (Thanh Tịnh, 2015, tr.460). Huyền thoại “ngậm ngải tìm trầm” ra đời từ đó. Vậy “ngải” là gì? Mỗi vùng miền có những cách truyền lưu khác nhau về “ngải”. Gom góp những chuyện nhặt đời quê, Thanh Tịnh miêu tả: “ngải là một thứ củ cây do người Mọi ở Trường Sơn luyện  công phu. Họ hấp củ cây ngải trong lò mật ong một tháng, để giữa dòng suối chảy một trăm ngày. Đoạn phải đặt trong tay đủ năm người chết, và đeo trước ngực năm bà già trong đời giữ vẹn tiết trinh. Vẫn chưa hết. Xong phải nhét vào trong cái giò heo để lừa cho hổ ăn. Nghĩa là nếu may thì ngải sẽ nằm trong bụng hổ. Đoạn phải bẫy cho được con hổ ấy, rồi giết ngay và lấy ngải ra. Ngải lúc ấy là một cái bùa thiêng có sức mạnh huyền bí. Ai ngậm nó mà đi vào rừng thì không ăn không uống cũng sống được. Và thú dữ dù đi sát bên cạnh cũng không thấy mình được” (Thanh Tịnh, 2015, tr.460). Nhà văn nhấn mạnh sức uy hùng bí mật của rừng thẳm núi cao qua câu chuyện tìm trầm mà gia đình bác Diệm đã nếm trải. Dù ngải thiêng là vậy, nhưng nó có hạn chế về mặt thời hạn. Trong ba tháng mười ngày phải trở về nhà nhả ngải ra, nếu không phu trầm sẽ mọc lông, trổ vuốt, thêm nanh và hóa thành hổ thật. Bác Diệm trai vào rừng gần ba tháng, bác gái ngày nào cũng nhìn vào núi Truồi để chờ tin tức. Thời gian qua lâu, cho đến một đêm, như mọi đêm vò võ chờ chồng, bác lại ra đứng giữa sân thẫn thờ trông về dãy núi và thấy một bóng người cũng đang nhìn về xóm Bình Lư, rú một tiếng “nghe lạnh và uất như một người câm cố thét lên để nói được tiếng loài người”. Bác Diệm trai đã không về kịp để nhả ngải, dần dần hóa thành hổ. Nhưng nỗi nhớ quê, nhớ nhà vẫn đau đáu trong bản năng của một con người chưa thể cắt đứt sợi dây gắn bó với nơi mình đã sinh ra và những người mình yêu thương. Chi tiết ấy khiến câu chuyện vượt khỏi màu sắc li kì của một truyền thuyết dân gian để chạm đến một tầng nghĩa nhân văn sâu xa: ngay cả khi thân xác con người đã biến đổi, tình cảm hướng về quê nhà vẫn không dễ bị xóa nhòa. Nên có lần, bác Diệm trai đã liều mình vào nhà, vuốt má các con, càng vuốt, móng sắc càng chạm sâu làm da thịt bỏng rát, người và hổ cứ thế mà hoảng sợ, la hét, xua đuổi. Phải chăng, đó còn là cuộc giằng co đau đớn giữa sự biến dạng của thân xác và sức bền của kí ức? Thanh Tịnh đã làm một điều rất tinh tế: ông không để câu chuyện dừng lại ở việc kể về sự linh thiêng của ngải hay sự khủng khiếp của núi rừng. Có những thứ thuộc về con người có thể mất đi, nhưng kí ức về mái nhà, về người thân, về một nơi chốn từng gắn bó lại dường như vẫn âm thầm tồn tại. Vì thế, trong lớp vỏ của câu chuyện hoang đường vẫn thấp thoáng một nỗi đau rất thực: nỗi đau của sự chia lìa quê hương bản quán.

"Quê mẹ" là tên một truyện ngắn của Thanh Tịnh sáng tác năm 1941, viết về Huế, miền quê nơi ông sinh ra và lớn lên.  Ảnh: vntre.vn

Thanh Tịnh còn đưa vào truyện ngắn của mình nhiều yếu tố liêu trai, huyền ảo như một lớp trầm tích của văn hóa dân gian. Những câu chuyện về ngải, về sự hóa thân người và thú, người và ma, về những vùng rừng thiêng, bến đò ma ám, con đường linh nghiệm trong các truyện như Bến ma, Làng, Am cu-li xe,… không chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng cá nhân. Chúng được sinh thành từ tâm thức cộng đồng, từ những kinh nghiệm sống lâu đời của nhân dân trước một thiên nhiên rộng lớn và đầy bất trắc. Trong thế giới ấy, con người chưa hoàn toàn tách mình khỏi tự nhiên. Họ sống giữa núi rừng, sông nước, nương tựa vào thiên nhiên, nhưng đồng thời cũng luôn ý thức về sự nhỏ bé của mình trước sức mạnh bí ẩn của nó.

Có lẽ, đó cũng là điểm gặp gỡ tự nhiên giữa tình quê và tình người trong sáng tác Thanh Tịnh. Yêu quê hương không chỉ là yêu cảnh vật, mà trước hết là yêu những con người đã sống, đã chịu đựng, đã chờ đợi và đã gửi một phần đời mình vào mảnh đất ấy. Chính từ những số phận bình dị ấy, tình yêu quê hương trong văn Thanh Tịnh dần mở rộng thành một cái nhìn nhân hậu đối với con người.

Khám phá những vẻ đẹp tâm hồn từ chiều sâu nhân bản

Trưởng thành vào thời điểm đất nước trải qua cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ, cuộc đời Thanh Tịnh là những ngày tháng gian lao. Thời kì ấy, nhiều số phận phải chịu đựng nỗi đau mất mát, chia li, và Thanh Tịnh không nằm ngoài quy luật đó. Dù đã có gia đình vợ con ở Huế từ sớm, nhưng ông lại phải sống cuộc đời chịu cảnh “ăn cơm tập thể, ngủ giường cá nhân”. Năm 1946, ông được cử ra Việt Bắc họp Đại hội Văn hoá. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông đi theo con đường cách mạng. Sau năm 1954, ông về làm chủ nhiệm đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cho đến cuối đời, ông vẫn sống đơn lẻ giữa lòng thủ đô. Những trải nghiệm riêng tư ấy, dẫu không nên giản lược thành nguyên nhân trực tiếp để giải thích sáng tác, song ít nhiều giúp ta hiểu vì sao trang văn Thanh Tịnh luôn dành một sự quan tâm đặc biệt cho những con người bé nhỏ, cô đơn và những mối quan hệ tưởng chừng mong manh nhưng lại có sức nâng đỡ đời người. Ông không nhìn con người từ khoảng cách của một người phán xét. Ngòi bút Thanh Tịnh thường đi chậm, lặng lẽ đến gần, lắng nghe những tiếng nói nhỏ bé và nhận ra ở đó những vẻ đẹp không dễ thấy ngay từ bên ngoài.

Nếu tình quê tạo nên nền tảng môi trường cho thế giới truyện ngắn Thanh Tịnh, thì tình người chính là hơi ấm làm cho không gian ấy trở nên có linh hồn. Trong tập truyện Quê mẹNgậm ngải tìm trầm, người đọc bắt gặp những người dân quê nghèo, là người mẹ, người vợ, trẻ thơ, những con người mang trong mình nỗi đau riêng. Họ không phải là những nhân vật có số phận dữ dội theo kiểu bi kịch lớn lao. Phần nhiều là những cuộc đời bình thường, thậm chí có khi rất nhỏ bé giữa dòng chảy rộng lớn của xã hội. Nhưng Thanh Tịnh đã nhìn vào họ bằng một cái nhìn trìu mến, để từ những phận đời tưởng như lặng lẽ ấy, vẻ đẹp của lòng yêu thương, sự thủy chung, lòng vị tha và sức chịu đựng được bộc lộ.

Trước hết, tình người trong văn Thanh Tịnh được thể hiện qua sự thấu cảm đối với những phận đời nghèo khó và bất hạnh. Nhà văn không cố ý tô đậm cái nghèo để gây thương cảm. Ông thường đặt nhân vật vào những chi tiết rất đời thường: một mái nhà thiếu thốn, một cuộc mưu sinh chật vật, một sự chờ đợi dài dằng dặc. Chính lối viết không cường điệu ấy lại khiến nỗi đau trở nên thấm thía hơn. Truyện Am cu-li xe ám ảnh người đọc về hình ảnh người mù đem chiếc xe tay đến đón khách thật thê thảm. “Đó là một cái xe thảm khổ nhất. Ruột hai bánh độn rơm và trần xe đã thủng nhiều chỗ. Khổ hơn nữa là người kéo xe đã mù lại già, đầu tóc bạc phơ, người hơi gầy và trán hói. Theo đúng đường và biết tránh người đi là nhờ đứa cháu nội lên mười chạy dìu phía trước” (Thanh Tịnh, 2015, tr.337). Từ ga Văn Xá đón khách về huyện Quảng Điền phải qua quãng đường dài trong lối xóm, băng vài cái cầu, ba bốn khoảng phơi mình giữa đồng cỏ cháy. Bước chân người mù già yếu đuối vấp lên vấp xuống, lại phải chở theo khối lượng nặng, thêm đứa trẻ nhỏ bé, gầy còm chạy theo không kịp thở, ngã tới vờn lui. Vất vả là vậy, nhưng vì có nhiều người thương tình nên hai ông cháu cũng đủ sống. Cho đến một hôm, giữa đêm lạnh giá vắng người, ông lão phát hiện hành khách mình chở chỉ là một tảng đá. Đứa cháu vì quá thương ông, không muốn ông phải tủi hờn trong cám cảnh chờ đợi những chuyến tàu, mong mỏi có vị khách ghé chân, nên đã lén bỏ tảng đá lên xe. Ông lão biết điều này, “nhưng ông vẫn chạy, vì mù quáng, vì đói rách nên lòng vẫn hi vọng những chuyện không bao giờ có được”. Rồi giữa đêm lạnh, phần già yếu, phần đau buồn, phần đói rét, ông gục xuống dần rồi lăn ra chết. Dân làng góp tiền, chôn cất cẩn thận, lập một am nhỏ để nhớ về người kéo xe “linh hiển”. Chẳng biết có phải vì sự nhân ái của người dân hay do sự mê tín, nhưng rõ ràng, “lòng từ thiện đã sang sông”, đã kết nối những phận đời khốn khó.

Thường thấy, con người trong truyện của Thanh Tịnh không mấy khi kêu than về số phận. Họ vẫn sống, vẫn yêu thương và cố gắng giữ lấy phần tốt đẹp của mình giữa những thiếu thốn, ngặt nghèo. Trong Con so về nhà mẹ, nhân vật Hoa đứng trước một tình thế khó xử: đã đến ngày sinh nhưng không có tiền để “nằm ổ”, chồng hẹn cô vài tháng sau mới nhận được công. Dù chẳng phải lần sinh đầu tiên, nhưng anh muốn cô về nhà mẹ đẻ lần nữa, sống nhờ bên ấy cho qua cảnh túng thiếu. Trong khi đó, gia đình cha mẹ đẻ Hoa rất nghèo. Cô đành cố gắng giấu điều này với nhà chồng, nhằm giữ thể diện cho cha mẹ mình. Cô chỉ biết cắn răng chịu đựng, mót lúa sống qua ngày, vì cả hai bên đều nghèo, giờ “kể cái nghèo ra không tiện và thêm tủi”. Hay nhà ông Hậu trong truyện Con ông hoàng cũng giấu làng xóm hoàn cảnh bi đát của gia đình quý tộc một thời. Dù anh Vân phải mặc áo rách, đắp vá, đi học không có tiền mua sách sử kí, nhưng gia đình anh đối xử với người dân rất phong lưu. Người ta đến tặng quà cáp nhằm cảm tạ ân tình nghĩa cũ, gia đình ông Hậu lại đáp lễ nhiều hơn. Về sau, nhân vật “tôi” phát hiện ông Hậu phải bỏ quê lên phố viết chữ Nho thư pháp nhằm lấy tiền sinh sống, chứ quyết không để ai giúp đỡ hay thương hại.

Đặc biệt, truyện của Thanh Tịnh chú ý khắc họa vẻ đẹp của người phụ nữ xứ Huế. Nhà văn không chú trọng miêu tả đậm nét về nhan sắc, ngoại hình, mà tập trung vào phác thảo vẻ đẹp phẩm chất và tâm hồn nữ giới qua những hành động giản dị: chăm sóc, chờ đợi, chịu đựng và gìn giữ mái nhà. Họ có thể nghèo, có thể yếu đuối trước những biến động của số phận, nhưng không dễ dàng đánh mất bản năng yêu thương, che chở, quán xuyến. Cách cô Thảo trong truyện Quê mẹ nhắc khéo chồng sắp đến ngày giỗ cha đẻ của mình, để anh tự nhớ và thu xếp cho vợ về quê thật tinh tế, khéo léo. Cô mượn chuyện cây thanh trà trồng giữa sân mà khẽ hỏi về ngày đơm bông, kết trái, rồi anh chợt ngỡ ngàng buột miệng: “Tôi nhớ ra rồi. Hôm ấy là ngày giỗ ông bên mợ. Mợ về làng ăn giỗ rồi đem cây thanh trà ấy qua cho tôi. Tôi cũng quên lúc ấy mợ đã có thằng Lụn chưa?” (Thanh Tịnh, 2015, tr.318). Thói thường, trong tình huống này, người phụ nữ đơn thuần sẽ nhắc thẳng cho chồng, thậm chí trách móc nếu thấy chồng vô tâm, hời hợt. Còn Thảo, cô hiểu anh vô tâm, nhạt nhẽo bởi cuộc sống quá bận rộn, công việc áp lực mà đồng lương lại còm cõi. Nên thay vì quở trách, hằn học, cô ý tứ gợi chuyện, hỏi han để anh thấu hiểu. Đối với mảnh đất thần kinh còn nặng nề lễ giáo phong kiến, Thảo đã có những ứng xử thật thấu tình đạt lí!

Phụ nữ Huế còn rất mực chung thủy. Chờ đợi, trong nhiều trang văn Thanh Tịnh, không chỉ là một trạng thái thời gian. Đó là một hình thức biểu hiện của tình yêu, sự tận tâm vun vén cho gia đình. Chị Sương trong truyện Tình thư đã từng ngày từng giờ mong ngóng thư của thầy xếp ga để đón lấy tình yêu và gieo hi vọng. Dẫu mối lương duyên không thành, nhưng khoảnh khắc chị gửi gắm bao nỗi lòng vào từng bức thư rồi chờ lời hẹn ước thật đẹp và buồn. Cô Duyên trong truyện Bên con đường sắt, chỉ vì cái nắm tay và lời căn dặn “ngày gặp gỡ trăm năm xin chờ hôm khác” của thầy Trưu mà từ đấy về sau, mỗi lần chuyến tàu đêm đi qua trước sân ga Mỹ Lý, cô lại ngỡ trái tim mình ngừng đập. “Vì lúc nào cô cũng tưởng tượng máy tàu ngừng kêu, và bên ngoài có tiếng người gọi cửa”. Song sự thật thì “con tàu vẫn vùn vụt chạy qua giữa những cánh đồng hoang vắng, giữa những đêm mưa gió dầm dề, lạnh lùng và mãnh liệt” (Thanh Tịnh, 2015, tr.421). Bác Diệm gái trong Ngậm ngải tìm trầm biết chắc con hổ kia là chồng mình, sợ hãi mà vẫn muốn được gặp lại. Người chờ không biết chắc người đi có trở về hay không, nhưng vẫn không thể ngừng hướng về phía ấy. Bởi thế, nỗi chờ đợi của những người phụ nữ xứ Huế không ồn ào, song lại nhức nhối, miên man.

Tên ông được đặt cho một con đường ở Huế. Ảnh: vntre.vn

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Thanh Tịnh thường không được khắc họa như những cá thể biệt lập. Họ hiện diện trong quan hệ với gia đình, làng xóm và cộng đồng. Một người phụ nữ trở nên đáng nhớ không chỉ bởi nỗi đau riêng mà còn bởi tình cảm dành cho chồng con; một đứa trẻ hiện lên qua mối quan hệ với mẹ và mái trường; một người đi xa được nhận diện qua nỗi nhớ về quê hương. Chính những mối quan hệ ấy đã tạo nên chiều sâu nhân bản trong truyện ngắn Thanh Tịnh. Nhân vật của ông thường được định nghĩa bằng khả năng gắn bó. Họ có thể không thành công, không mạnh mẽ, thậm chí thất bại trước số phận, nhưng họ vẫn còn biết nhớ, biết thương, biết chờ đợi. Và chừng nào những tình cảm ấy còn tồn tại, con người vẫn chưa bị biến thành một cá thể vô cảm.

Một phương diện khác của tình người trong sáng tác Thanh Tịnh là sự trân trọng đối với lòng tốt bình dị trong đời sống cộng đồng. Không gian làng quê trong văn ông không phải một thế giới hoàn toàn không có khổ đau hay bất hòa. Câu chuyện Đội ban quê kể về những buổi đầu người dân và trẻ nhỏ được tiếp cận với bóng đá. Sự gian lận của trọng tài, những hơn thua trong đường bóng, sự cạnh tranh khốc liệt qua từng trận đấu được miêu tả gay cấn, hấp dẫn. Tuy nhiên, giữa những điều chưa hài lòng và hiềm khích này, con người vẫn tìm đến nhau, vẫn dĩ hòa trong tinh thần “phép vua thua lệ làng”. Những điều ấy thường không được nhà văn đẩy thành những sự kiện mâu thuẫn lớn, nhưng lại tạo nên bầu không khí đặc biệt cho trang văn. Ở đây có thể liên hệ đến quan niệm của Albert Schweitzer về đạo đức của sự tôn trọng sự sống. Theo ông, nền tảng sâu xa của đạo đức nằm ở thái độ biết kính trọng mọi biểu hiện của sự sống. Tinh thần ấy, khi đặt bên cạnh văn xuôi Thanh Tịnh, giúp nhận ra một điểm gặp gỡ đáng chú ý: nhà văn luôn có xu hướng nhìn mỗi phận người như một thế giới cần được thấu hiểu. Ông không phân chia con người thành những hạng mục đạo đức cứng nhắc, xấu tốt phân minh rõ ràng. Ngay cả khi nhân vật có những giới hạn, cái nhìn của nhà văn vẫn không trở nên cay nghiệt. Ông để nhân vật hiện lên trong hoàn cảnh của họ, để người đọc tự cảm nhận những vui buồn và khổ đau, những bất công và bất mãn. Nhà văn không đứng ở vị trí cao hơn để ban phát lòng thương hại. Ông dường như đứng cùng phía với những con người bình dị ấy.

Chính vì điều này, truyện của Thanh Tịnh không có cốt truyện đặc sắc. Độc giả cũng ít chú ý đến các tình huống, kết cấu sắc bén, mà chỉ nhớ đến những rung cảm được ngân lên khi lướt qua từng câu chữ, cái dư vị quyến luyến ngậm ngùi, vừa thơ vừa thực của tình quê, tình người. Thanh Tịnh không lập nên những tuyên ngôn về lòng nhân ái hay triết lí thâm sâu. Nó hiện diện trong những chi tiết nhỏ của đời sống. Nhà văn không nói nhiều về “tình thương”, nhưng người đọc vẫn nhận ra nó trong ánh mắt nhân vật nhìn nhau, trong sự trở về của kí ức, trong nỗi chờ đợi kéo dài và cả trong cách người kể chuyện lựa chọn dừng lại trước một phận đời.

Nhìn từ toàn bộ sáng tác, có thể nói tình quê, tình người trong trang văn Thanh Tịnh bắt đầu từ một nguyên tắc nghệ thuật rất giản dị nhưng bền vững: tin vào phần thiện lương ngay cả trong những hoàn cảnh dễ khiến con người đánh mất chính mình. Người phu trầm có thể hóa hổ, nhưng vẫn còn kí ức về mái nhà. Người phụ nữ có thể sống trong nghèo khó, nhưng không mất đi sự thủy chung. Đứa trẻ có thể run rẩy trước thế giới xa lạ, nhưng vẫn có đủ can đảm để bước qua những ga tàu để gieo vào niềm hi vọng... Đó là lí do, đọc Thanh Tịnh, độc giả không chỉ bắt gặp một xứ Huế với sông Hương, núi Ngự, phá Tam Giang và những huyền thoại dân gian. Điều còn ở lại sâu hơn là cảm giác về một thế giới con người vẫn còn khả năng nâng đỡ nhau bằng tình thương. Từ Quê mẹ đến Ngậm ngải tìm trầm, ngòi bút nhà văn đã đi qua nhiều lớp không gian, từ mái nhà, bến nước đến núi rừng thăm thẳm; từ những câu chuyện đời thường đến những truyền thuyết nửa thực nửa hư. Nhưng dù chiều không gian nào, trung tâm cuối cùng của thế giới ấy vẫn là con người. Và có lẽ, đó cũng là vẻ đẹp bền lâu nhất của Thanh Tịnh. Ông viết về quê hương để nhận ra con người trong quê hương; ông kể những câu chuyện về những phận đời để gìn giữ những sợi dây gắn bó giữa người với người. Do vậy, tình quê trong văn Thanh Tịnh không khép lại ở nỗi nhớ một miền đất, còn tình người cũng không chỉ dừng lại ở sự thương cảm đối với một vài số phận. Hai mạch nguồn ấy hòa vào nhau, làm nên một thế giới nghệ thuật đằm sâu, nơi mỗi cảnh vật đều thấp thoáng bóng người và mỗi con người, trong những giây phút sâu kín nhất, lại mang theo trong mình một miền quê để nhớ, để yêu và để trở về.

NGUYỄN THÙY TRANG