Ngay cả khi nghỉ hưu, mang trong mình trọng bệnh, ông vẫn miệt mài đọc và viết sách,... (LÊ HUY HÒA)
Trong lịch sử hiện đại của Quân đội nhân dân Việt Nam, có những vị tướng không chỉ để lại dấu ấn bởi quân hàm, mà còn bởi tư duy chiến lược, sự trầm tĩnh và dấn thân trên những mặt trận thầm lặng. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh là một trong những gương mặt đặc biệt ấy. Cuộc đời binh nghiệp của ông bắt đầu từ mái trường Sĩ quan Kỹ thuật Thông tin ở Nha Trang, nơi đã khơi nguồn cho lý tưởng và ý chí phụng sự lớn lao. Từ học viên đến nhà chiến lược quốc phòng, ông đã bước đi vững vàng trên con đường riêng, thầm lặng mà rực rỡ.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh sinh ngày 15/5/1959 tại Hà Nội, nguyên quán ở Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế. Ông là con trai của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một nhà lãnh đạo quân sự kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Mang trong mình lý tưởng và truyền thống gia đình, Nguyễn Chí Vịnh sớm xác lập con đường binh nghiệp bằng những bước đi không ồn ào nhưng bền bỉ và kiên định.
Năm 1980, ông chính thức theo học tại Trường Sĩ quan Kỹ thuật Thông tin (Nha Trang) – nơi được coi là cái nôi đào tạo sĩ quan thông tin chiến lược cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong thời gian học, ông là một học viên xuất sắc, đồng thời giữ vai trò đội trưởng đội văn nghệ của trường và được kết nạp Đảng tại đây. Tốt nghiệp thủ khoa năm 1984, Nguyễn Chí Vịnh từ chối đi học ở Liên Xô, xung phong ra mặt trận Campuchia để “trưởng thành trong gian khó”. Ông từng nói: “Chưa nên người thì chưa về” – câu nói thể hiện tinh thần dấn thân mạnh mẽ từ thuở đầu đời binh nghiệp.
5 năm ròng rã chiến đấu và làm công tác tình báo ở chiến trường K, chàng Trung úy trẻ dần trưởng thành, từng bước khẳng định mình trong các đơn vị tình báo chiến lược. Từ chiến trường Campuchia, Nguyễn Chí Vịnh trở về tiếp tục học tập tại Học viện Tình báo Liên Xô, rồi về nước giữ nhiều cương vị quan trọng trong Tổng cục II. Ông là một trong những người đặt nền móng cho lực lượng tình báo ngoài nước và tình báo công nghệ, từng tham gia nhiều chiến dịch đặc biệt và từng trực tiếp góp phần giúp chính quyền Thủ tướng Hun Sen vượt qua biến động năm 1997.
Năm 2009, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phụ trách ngoại giao quốc phòng. Từ đây, tên tuổi ông gắn liền với hàng loạt đột phá chiến lược, trong đó có việc thiết lập các cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng với nhiều quốc gia, phát biểu tại các diễn đàn lớn như Đối thoại Shangri-La, thúc đẩy hợp tác quốc phòng đa phương trong ASEAN và với các cường quốc. Ông được xem là “kiến trúc sư trưởng” của lực lượng Gìn giữ hòa bình Việt Nam, đồng thời góp phần thúc đẩy giải quyết hậu quả chiến tranh với Hoa Kỳ qua các dự án dioxin tại Đà Nẵng và Biên Hòa.
Ở ông, người ta nhận thấy một mẫu hình cán bộ quốc phòng thời đại mới: bản lĩnh – trí tuệ – hội nhập sâu rộng nhưng vẫn vững vàng nguyên tắc. Các học thuyết “3 không” và “4 không” về chính sách quốc phòng được ông trình bày sắc sảo, nhất quán, tạo dựng lòng tin với bạn bè quốc tế và khẳng định vị thế Việt Nam. Những phát biểu của ông luôn được giới ngoại giao quốc tế nể trọng bởi tính thuyết phục và hàm lượng trí tuệ.
Ngay cả khi nghỉ hưu, mang trong mình trọng bệnh, ông vẫn miệt mài đọc và viết sách, coi đó là cách tiếp tục phụng sự đất nước bằng trí tuệ. Là tác giả của nhiều tập sách giá trị về ngoại giao quân sự, về chiến lược quốc phòng như “Hành trình vì hòa bình” hay “Người thầy”, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong giới nghiên cứu và bạn đọc rộng rãi. Đặc biệt, cuốn “Người thầy” do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành, được bình chọn là “Sách được bạn đọc yêu thích nhất” và vinh danh tại Lễ trao giải Sách Quốc gia năm 2024, đã nhiều lần tái bản. Không chỉ là hồi ức về một người thầy, tác phẩm còn là bài học về nhân cách, trí tuệ và tình người, góp phần truyền cảm hứng cho lớp sĩ quan trẻ và những ai quan tâm tới sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
THAY LỜI KẾT
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh ra đi khi nhiều công trình tâm huyết vẫn còn dang dở, nhưng những tư tưởng và đóng góp của ông sẽ còn sống mãi. Từ ngôi trường Thông tin năm xưa đến những diễn đàn quốc phòng quốc tế, ông luôn mang theo bản lĩnh của người lính và trí tuệ của người chiến lược gia. Nhắc đến ông, thế hệ sau không chỉ nhớ về một Thượng tướng, một nhà ngoại giao quốc phòng lỗi lạc, mà còn nhớ đến một học viên năm nào của Trường Sĩ quan Thông tin – người đã từng nói: “Chưa nên người thì chưa về!”. Một lời hứa đã được thực hiện bằng cả cuộc đời.
LÊ HUY HÒA