“Nghề văn là nghề chơi với con chữ. Buồn đau, sướng khổ, hạnh phúc cũng vì chữ. Chữ làm giàu có tâm hồn
Tên khai sinh: Lương Đình Na
Sinh năm:1956
Quê: Ninh Bình
Hiện cư trú tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang.
Đã xuất bản:
Gửi tình về núi, Nxb Công an nhân dân, 2001
Dọc miền lau, Nxb Hội Nhà văn, 2009
Năm nhành lục bát, (in chung), Nxb Hội Nhà văn, 2010
Thôi đừng làm sóng, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2014
“Nghề văn là nghề chơi với con chữ. Buồn đau, sướng khổ, hạnh phúc cũng vì chữ. Chữ làm giàu có tâm hồn, nuôi dưỡng lòng bao dung, vị tha; cho ta thêm yêu cuộc sống, yêu con người và biết sẻ chia với thế giới quanh mình...”
Nậm Ngặt
Nậm Ngặt(1) năm xưa tôi đã leo
vết đạn giặc xé từng mảnh núi
mây quấn tang nhấp nhô đá tai mèo
sau tiếng súng, nước trong dòng Thanh Thủy
Hai mươi năm sau tìm về Nậm Ngặt
hương trà thơm bay vòng men dốc đá
lũ trẻ trâu cưỡi hoàng hôn thong thả
vịt nhà ai lội suối tắm bóng chiều
Bốn mươi năm sau, Nậm Ngặt gọi tôi lên
ruộng bậc thang, ủ vàng thơm men rượu
mái ngói, tường vôi mời tôi về hạp tíu(2)
tay người Dao ấm như nắng giữa hè
Lần nào lên cũng nhớ về ngày ấy
bao chàng trai rất trẻ đã thành mây
mây Nậm Ngặt như dáng người lính trận
in ngang trời một thế đứng không lui
Tôi chắp tay lạy núi non này
lạy những nắm xương nằm trong lạnh giá
giày dép, ba lô vùi trong nắng hạ
các anh còn ở lại gác biên cương.
--------
1. Nậm Ngặt là thôn biên giới thuộc xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang (trước đây thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang), nơi từng diễn ra những trận chiến ác liệt trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.
2. Hạp tíu: uống rượu (tiếng Dao).
Uống rượu với gió Lào
Thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn
vào Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị
chúng tôi dừng nghỉ, cơm bụi ven đường
bát cơm rạc rài nắng gió
rượu rót ra, ngỡ từ chiếc bi đông móp méo
tiếng ve bay như đạn réo trên đầu
lá rau lang gợi hình mảnh thư vàng ố
Chúng tôi ngồi uống rượu với gió Lào
bỏng rát Trường Sơn sau lưng
lại rưng rưng tờ giấy báo tử
phía hậu phương…
Tháng năm đã lùi xa
chỉ đất đỏ và lá xanh kể lại
Thạch Hãn đục trong, ngậm ngùi trôi mãi
trăm ngàn mộ bia lặng im trong cỏ
nặng trĩu vai miền Trung.
Viết ngang đèo Khau Lắc
Hoa mận tháng giêng giờ đã quả
dưa hấu cài hoa, vội vàng leo
bản nhỏ ngày lên xanh sắc lá
gió kéo mây sa, rủ xuống đèo
Bữa ấy mưa khêu mùa măng đắng
rau rừng xanh mướt dọc tháng tư
em quờ tay hái chùm mây trắng
vắt vội lên sào hong nắng thơ
Ai rót mắt nai men rượu báng
nếp thơm, cá nướng lửa than hồng
lửa gửi tình xuân về ấm bản
bếp cời câu hát gọi mùa bông
Anh học tiếng Dao chen tiếng suối
núi cười khúc khích phía rìa nương
có con chim lẻ thầm thì gọi
nước vội vàng trôi, lỡ mùa thương
Chiều buông thác nước muôn sợi nhớ
ngoái xuống Bó Tâu, đồng lúa non
xoan tím đã tàn trên lưng núi
sót bông gạo muộn thắp nụ hôn.